Solitude

.A voyage to Cochinachina. More...

Ca lý
Sunday, August 11, 2013 Author: Trường An

"Nhà thơ Á Nam khi tuổi trẻ cũng đã biết dùng nhiều điệu "ca lý mới": hành vân, nam ai, nam bình, cổ bản, tứ đại cảnh. Đây là những điệu ca Huế, thuở ấy từ trong Trung kỳ, Trung bộ đưa phổ biến ra Hà Nội, ra Bắc bộ, các xóm Bình Khang và tạo nhân ngoài Bắc cảm nghe mới lạ và rất ưa thích, bèn gọi là ca lý mới... Ca lý mới thì đầy rẫy tính chất thơ mộng; do vậy mà ngòi bút Á Nam mang nhiều "hồn lụy" hơn cả, chứng tỏ nghệ sĩ hồn nhiên nhất là khi viết những lời "ca lý mới". Tản Đà cũng như Á Nam đã gặp một miếng đất phóng túng để cho mình "lãng mạn" khi viết những lời ca Huế."

-Thơ Văn Á Nam Trần Tuấn Khải - Xuân Diệu Nxb Văn Học - 1984

Chịp, vậy nhớ lại phần Phan Kế Bính viết, xác định luôn năm xưa các cô đầu ngoài Bắc cũng hát ca Huế. Hát bằng giọng gì thì thiệt là bí ẩn. '__' Có khi nên đem mấy điệu này ra hát thử.

---

Nói là làm. :D Thử một khúc viết theo điệu Tứ đại cảnh.

    Bóng hắt hiu
    Trăng chiếu tỏ
    Đàn kia vọng
    Lành lạnh gió tiêu điều
    Thương nhớ ai đường dài liêu xiêu mênh mang mơ
    Nắm khói hương tỏa dệt đời cô liêu soi mảnh bóng tà
    Gác khói đài mây kể
    Huyền cơ còn ghi dấu
    Nguyên kiếp trước em là
    Đèn trước bồ đoàn Phật
    Chiếu rọi sách kinh của chàng
    Đã bao mùa bao giấc
    Mộng trong cõi thế ta bà này
    Bằn bặt trôi trôi mất
    Hương rơi đèn đà tắt
    Chàng nằm mộng trăng khuya
    Trang sách kinh chưa khép
    Gió thổi một đời dài
    Chẳng rõ Trang Chu hồ điệp
    Biết đâu tỉnh giấc kê vàng dằng dặc
    Ngọn đèn hương tàn còn khói lan
    Trước bồ đoàn lắng nghe kinh cầu
    Nhặt khoan trôi qua hết
    Một kiếp một đời
    Lệ rơi thầm mất dấu giữa hư không
    Nhớ chăng, nhớ chăng
    Chuyện xưa
    Lửa đèn bên trang kinh Phật
    Duyên trước
    Soi sáng cho chàng
    Lung lay bóng trăng chớp tắt
    Cơn mộng dài chẳng bằng chớp mắt
    Người xưa năm cũ đà khuất chân trời

---

Đã thử hát vài điệu. Và đang ngờ vực rằng mấy bài như Bèo dạt mây trôi nguyên gốc là ca Huế. '___' Giai điệu rất khác với nhạc Bắc, khác với cả quan họ bình thường.

---

Đang xem xét sở thích mới: Viết từ điệu. =))




NN
Monday, July 1, 2013 Author: Trường An

Chat chit với 1 bạn về cuốn sách mới ra về văn hóa, nhân tiện nhớ đến chuyện mềnh đã nói từ khuya: Hình như mấy nhà ngâm cứu văn hóa VN (trong nước) không phân biệt được các tầng văn hóa - mà mềnh cũng đã nói từ đời nào, là văn hóa VN tiếp nhận văn hóa ngoại quốc không-sửa-đổi nên nó phân tầng rất rõ. Nên nghiêng về bất cứ phía nào để đưa ra kết luận cũng đều trật quẻ cả.

Nên nói nghiên cứu trang phục mà chỉ biết về trang phục cũng không được, mà kết luận chỉ dựa trên "tài liệu số đông" cũng chưa chắc đã đúng, mà còn không nắm được quy tắc lễ tiết, thậm chí kiến trúc, địa lý, dân tộc học, lịch sử... thời cổ thì càng sai. Nghĩ là có thể đọc về người nơi này để suy luận người nơi khác còn sai hơn. Với đặc trưng "Phép vua thua lệ làng" thì từ "lệ làng" kết luận "phép vua" càng sai thảm hơn.

Cho nên chúng mềnh rút ra kết luận với nhao: Tư liệu thì được, nhưng phần kết luận rất có vấn đề. Mà đây hình như là bệnh chung của nhiều người.

Nói chung, muốn tìm hiểu văn hóa giai cấp trên thì phải tìm văn bản của triều đình, muốn tìm hiểu giai cấp dưới thì cứ tự do phân loại - Hai thứ này nhất định không được lẫn vào nhau. Thời mà chữ viết lẫn thông tin chưa phổ biến như bây giờ để đồng hóa hàng loạt theo tiêu chí văn hóa của cấp trên, thứ văn hóa không xuất phát từ quần-chúng sẽ ở chỗ nó ở.

Có một chuyện nhỏ nữa là cái thời "xây dựng CNXH" ấy, văn hóa được áp theo khuôn mẫu "XHCN của Tàu", nam nữ không được "thân mật" mà phải là "đồng chí" hết cơ - chuyện này cứ về hỏi là biết, và cái văn hóa này nó xung đột ra sao với hiện thực thì cứ tung tăng đi tìm những Quê Choa để hỏi. Cái gì gọi là năm đảng đang, cái gì gọi là đấu tố, chửa hoang, chờ chồng... Và bây giờ các bác cứ đổ đẹp cho "phong kiến" đã chả còn sống mà thanh minh. Chữ viết quả là công cụ đồng hóa lợi hại nhất.

Về điểm này có lẽ những nhà ngâm cứu hải ngoại làm tốt hơn vì họ không bị "vướng" quãng thời gian "húy kỵ"? Và họ cũng chẳng cảm thấy có trách nhiệm phải "nâng lên, đạp xuống" cái gì.

Sự xung đột giữa nho thần và hoạn quan có lúc đi đến chỗ khôi hài điếng người như trong câu chuyện xảy ra dưới triều Càn Long đã kể. Tuy nhiên sự khinh miệt của nho thần cũng dẫn đến phản ứng của hoạn quan khi thấy những người kia có thành kiến quá quắt, không hiểu cả lí lẽ bình thường. Trong cuộc tranh chấp về lễ nhạc giữa nhóm Nguyễn Trãi và Lương Đăng (1437), Tham nghị Nguyễn Liễu chê hoạn quan không đủ khả năng, không hiểu phép xưa (như của Chu Công), phép nay (như của nhà Minh), nên làm sai lệch cả. Lương Đăng, với quan điểm ngày nay thì chắc là làm theo “tinh thần dân tộc có sáng tạo” chế biến, nên nhũn nhặn xin dành quyền quyết định cho vua. Nguyễn Liễu sợ Thái Tông nghe lời, liền phản kháng trước: “Từ xưa đến nay chưa bao giờ có cảnh hoạn quan phá hoại thiên hạ như thế này”. Thế là tranh chấp tổ chức văn hoá trở thành sự kèn cựa phỉ báng riêng tư tập thể. Đinh Thắng từ trong bước ra mắng: “Hoạn quan làm gì mà phá hoại thiên hạ? Nếu phá hoại thiên hạ thì chém đầu ngươi trước”. Ông văn quan đa sự hay chữ, hú hồn vì thoát khỏi bị chém đầu, nhưng mang chữ thích vào mặt, những ngày tàn nằm ở châu xa hẳn phải ân hận về cơn cường ngạnh bảo vệ Thánh giáo của mình. Cũng nên lưu ý rằng Đinh Thắng là người đã có lòng can ngăn Nguyễn Trãi chớ đem Thị Lộ vào cung làm vây cánh, hành động đã khiến ông thái giám này chết (1442) theo ông Hành khiển đối thủ trong cuộc tranh cãi trên.

Sử Việt đọc vài quyển - Tạ Chí Đại Trường




Vua
Friday, June 21, 2013 Author: Trường An

Đây là ngâm cứu các vua bằng chiêm tinh. Có nhiều vị (đặc biệt các vị thời Lê) dùng lịch âm nên khi chuyển đổi nếu có sai thì hãy hỏi tội... phần mềm chuyển lịch. :D

Xử Nữ: Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lê Cung Hoàng, Trịnh Kiểm, chúa Tiên Nguyễn Hoàng, Tự Đức, Duy Tân
Song Tử: Trần Duệ Tông, Lê Nhân Tông, Lê Uy Mục, Trịnh Bính, chúa Minh Nguyễn Phúc Chu, Cảnh Thịnh, Minh Mạng, Thiệu Trị
Sư Tử: Lê Đại Hành, Lý Thái Tông, Trịnh Tráng, Trịnh Giang, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, Hàm Nghi
Ma Kết: Lê Thái Tông, Lê Thần Tông, Mạc Đăng Dung, Trịnh Tùng, chúa Ninh Nguyễn Phúc Chú, Định vương Nguyễn Phúc Thuần, Kiến Phúc
Song Ngư: Lý Nhân Tông, Trần Hiến Tông, Trần Phế Đế, Trịnh Sâm, Dục Đức, Thành Thái
Thiên Bình: Trần Thánh Tông, Lê Chiêu Tông, Trịnh Khải, Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, Khải Định, Bảo Đại
Cự Giải: Lý Cao Tông, Trần Thái Tông, Lê Tương Dực, Trịnh Căn, Trịnh Cương, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần
Bạch Dương: Đinh Bộ Lĩnh, Lý Thánh Tông, Trịnh Tạc
Thần Nông: Lê Long Đĩnh, Trịnh Vĩnh, Hiệp Hòa
Nhân Mã: Trần Nhân Tông, Trịnh Doanh
Bảo Bình: Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn, Gia Long
Kim Ngưu: Lý Thái Tổ

Không rõ: Lý Thần Tông (tháng 6), Lý Anh Tông (tháng 4), Lý Huệ Tông (tháng 7), Lý Chiêu Hoàng (tháng 9), Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông (tháng 12), Trần Thuận Tông, Trần Thiếu Đế, Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Lê Nghi Dân (tháng 6), Lê Trang Tông, Lê Trung Tông, Lê Anh Tông, Lê Thế Tông (tháng 11), Lê Kính Tông, Lê Chân Tông, Lê Huyền Tông, Lê Gia Tông, Lê Hy Tông, Lê Dụ Tông, Lê Duy Phường, Lê Thuần Tông, Lê Ý Tông, Lê Hiển Tông, Lê Chiêu Thống, Mạc Thái Tông, Mạc Hiến Tông, Mạc Tuyên Tông, Mạc Mậu Hợp, Mạc Toàn, Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan, Mạc Kính Vũ, Đồng Khánh (19-2)

---

Vầng, lúc trước mềnh đã kêu trời về số lượng vua Xử Nữ, bây giờ truy ra còn... nhiều hơn, và toàn là những cái tên đáng xợ. =))

Đứng số lượng thứ hai là Song Tử, ờ, nói chung chả bạn Song Tử nào giống bạn Song Tử nào. Các bạn có thể nổi tiếng vì độ tàn nhẫn, cũng có thể hiền như bụt, có thể ranh ma quỷ quyệt mà cũng có thể ngây thơ khờ khạo bỏ xừ.

Số lượng Song Ngư tuy nhiều nhưng... xui lắm ợ. Ngoại trừ Lý Nhân Tông sống lâu sống khỏe ra thì xui đều. =))

Sư Tử oách xà lách không bao giờ chịu thua ai phải rồi.

Lượng Thiên Bình, Ma Kết bằng nhau. Ờ, mềnh đã từng nói các ông TB có tí chức quyền là khoa trương chưa, đó là minh chứng. =)) Nhưng Thiên Bình làm vua có số may mắn lắm luôn. Còn Ma Kết thì cũng xui ngang ngửa Song Ngư, ngoại trừ chúa Ninh ra.

Ờ, đây là minh chứng cho ai bảo các bạn Cự Giải hiền lành nhu nhược nhá. Các vua chúa Cự Giải dứt tình phũ dã man '_' cả Trần Cảnh lẫn chúa Hiền, mà đánh nhau thì cũng toàn đi đầu. Các bạn Nhân Mã biến hóa từ Phật hoàng thành anh hùng kiêm nhà thơ, nói chung là thành phần nguy hiểm ế. =.=

Bảo Bình được 2 ông, chạ biết nói giề =))

Thần Nông là cái số vua vừa xấu vừa xui =))

Rút ra kết luận, muốn làm vua ở VN, hãy sinh cung Xử Nữ. :)) Không thì nên là Thiên Bình, Sư Tử. Song Ngư, Ma Kết không nên làm vua, trừ khi được hậu thuẫn mạnh mạnh.

---

Nhìn danh sách này thấy có tính "tiếp nối và nhân quả" hông? Trần Minh Tông kế thừa thứ Anh Tông để lại. Chuỗi Lê Thái Tổ, Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, Cung Hoàng là khởi đầu, nguyên nhân và kết quả của 1 quá trình, 1 thứ nằm trong cốt lõi nhà Lê. Duy Tân đến cuối đời nhận ra được con đường của Tự Đức. Rồi chúa Tiên khởi đầu cho cơ nghiệp họ Nguyễn, đến lúc Tự Đức phải kết thúc nó, cũng như Cung Hoàng là kết thúc của Lê Thái Tổ.

Lê Uy Mục như một "phản chiếu" lại bi kịch của Lê Nhân Tông. Minh Mạng, Thiệu Trị phải là người giải quyết cho những gì chúa Minh đã bắt đầu, Thuận Thành trấn, Gia Định thành khởi đầu từ chúa Minh rồi kết thúc ở Minh Mạng, giải quyết cuối cùng ở Thiệu Trị. Kinh thành Huế do chúa Nghĩa khởi đầu rồi hoàn thành ở Gia Long. Bi kịch Nguyễn Phúc Thuần lặp lại ở Kiến Phúc, cũng như hoàn cảnh của Trần Cảnh lặp lại ở Nguyễn Phúc Tần, cảnh huynh đệ tương tàn, anh em tan tác lặp lại trong tất cả đời Lý Thái Tổ, chúa Sãi, chúa Thượng, Hàm Nghi...

(Vầng, 1 ông Kim Ngưu khởi đầu cho nền chính trị phong kiến, 1 ông Kim Ngưu kết thúc nó luôn.)

Thiệt chứ chuỗi nhân quả của Xử Nữ Lê sơ, Nguyễn triều; Song Tử liên quan tới Thuận Thành, Gia Định; Bảo Bình với Huế, Gia Định... thiệt là kỳ bí. Như thể các ông sau sinh ra để làm nốt thứ ông trước để lại. Không biết đây có gọi là "tính cách tạo số phận" hay không?

---

Rút ra kết luận bự chảng:

- Xử Nữ đa nghi, mê "cải cách" (cải cách kiểu gì thì kiểu, phải thay đổi thì nó mới vui, hầu như chả ông nào chịu ngồi yên để làm "như cũ"). Làm quan dưới trướng Xử Nữ phải rất cẩn thận. Tầm nhìn tốt, hoạch định cực tốt, chăm chỉ ve kêu.

- Song Tử làm việc nhiều, và "tà đạo" thứ thiệt - sẽ bộc lộ trong hoàn cảnh nguy cấp. Nói chung là đừng chọc những phần tử này nổi điên.

- Sư Tử có 2 dạng rõ ràng, 1 là hăng hái hung hăng tả xung hữu đột, 2 là ăn chơi quên đường về. Con đường lên ngôi của Sư Tử thường không dễ dàng, đối thủ lại là anh em bằng hữu.

- Song Ngư có khá nhiều điều tiếng về "đam mê tửu sắc", có khả năng nhưng lại không bền, ban đầu tốt rồi sau lại hóa dở.

- Thiên Bình có ưu điểm cực giỏi kéo bè kéo cánh, nói văn hoa là gây tình đoàn kết, lôi kéo nhân tâm '__' Dù trong hoàn cảnh ngặt nghèo, các TB vẫn có thể tìm được người ủng hộ. Nhưng trong đời sống riêng tư thì lại mắc bệnh hoa hòe.

- Ma Kết có cái dớp phản người hoặc bị người phản. Một là quyền thần lật đổ vua chúa, hai là bị quyền thần áp chế.

- Cự Giải phần lớn làm chính sự rất tốt, lại giỏi thu phục lòng người, nhưng cũng giống Sư Tử là dễ sa ngã. Và có 1 sự trùng hợp nào đó, là nhất định phải đụng độ với chú tranh giành ngôi vị. '_'

- Nhân Mã tài năng cực cao, tinh hoa phát tiết rất sớm, văn võ song toàn. ANh thường phải trưởng thành từ gian khổ, trong hiểm nguy.

- Bạch Dương là những chiến sĩ đi đầu trong công cuộc chinh phạt.

- Thần Nông, thôi... số anh quá đen. =.=

- Bảo Bình thường có số không muốn làm vua nhưng trời bắt làm vua, không định làm vua nhưng người ta chết hết còn lại mình. '_' Tầm nhìn rất xa, xa đến mức cả thế kỷ sau mới có người hiểu, làm nên những thứ mà mấy đời sau mới biết để làm gì.

- Kim Ngưu là số một và duy nhất (cho đến hiện tại).




Nhà báo
Friday, June 21, 2013 Author: Trường An

Nhân ngày báo chí VN, viết cho những nhà báo của VN.

Tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ra mắt ở Nam Kỳ năm 1865 là tờ Gia Định Báo do Trương Vĩnh Ký làm chủ bút. Hoạt động báo chí trong vùng thuộc Pháp Nam Kỳ đã diễn ra mạnh mẽ từ rất sớm. Trong vùng lãnh thổ còn thuộc quyền tự trị, tờ báo đầu tiên ở miền Trung là tờ Tiếng Dân do Huỳnh Thúc Kháng chủ biên đến năm 1927 mới ra đời. Ở miền Bắc, nền báo chí được khởi đầu bằng tờ Nam Phong tạp chí do Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác làm chủ biên. Từ đó, dưới sự ảnh hưởng của phong trào duy tân do Phan Chu Trinh kêu gọi, được sự giúp sức của phong trào tự do dân chủ trên thế giới cởi lỏng sự áp chế của Pháp ở Việt Nam, nền báo chí VN bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ trong những năm 30-45. Không chỉ là những bài viết để canh tân, chấn hưng dân khí, dân trí, báo chí lúc này còn là nơi ươm mầm cho những tài năng văn học, phát triển nền văn học chữ quốc ngữ hiện đại. Những cách tân tài hoa của văn học VN như Thơ mới, tiểu thuyết đều được phát triển trong môi trường báo chí này.

Trong đó, có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, tập hợp và nuôi dưỡng nhiều cây bút tài năng nhất, là tờ Tiểu thuyết thứ bảy của nhà xuất bản Tân Dân và tờ Phong hóa của Tự lực văn đoàn.

Năm 1932, Nguyễn Tường Tam bút hiệu là Nhất Linh, mua lại tờ Phong hóa, bắt đầu in tờ báo với 8 trang khổ lớn, như "một quả bom nổ giữa làng báo". Với sự thành công của tờ báo, bút nhóm Tự lực văn đoàn được thành lập với mục đích tự chủ "Quyết định thành lập 'Tự lực văn đoàn' trên nguyên tắc làm ăn dựa vào sức mình, theo tinh thần anh em một nhà; tổ chức không quá 10 người nên không phải xin phép Nhà nước; không cần có văn bản điều lệ: lấy lòng tin nhau làm cốt, chỉ nêu ra trong nội bộ mục đích tôn chỉ, anh em tự giác tuân theo...". Bút nhóm ra đời với những tôn chỉ chính: Tự viết chứ không dịch của nước ngoài, soạn và dịch những tác phẩm có tác dụng canh tân xã hội, lấy người bình dân làm đối tượng, viết thật giản dị dễ hiểu, lạc quan, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của đất nước, đả phá đạo nho, coi trọng khoa học. Bút nhóm thời kỳ đầu chỉ có 6 người là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ.

Năm 1935, bút nhóm này còn có thêm một tờ tuần báo Ngày nay, tự lập nhà xuất bản Đời nay để xuất bản tiểu thuyết, sách của mình. Ban đầu, tờ Phong hóa đi theo đường lối dùng sự hài hước để đả phá cái xấu trong xã hội, bên cạnh những tiểu thuyết luận đề do Nhất Linh, Khái Hưng viết. Vì phần "trào phúng đả kích" này, năm 1936, tờ Phong hóa bị đóng cửa. Tự lực văn đoàn cho ra tờ Ngày nay, chỉ chuyên về tiểu thuyết. Nhóm lúc này đón vào nhiều người hơn, như Huy Cận, Trọng Lang, Đoàn Phú Tứ, Đỗ Đức Thu, Trần Tiêu, Thanh Tịnh, Phạm Cao Củng, Nguyễn Khắc Hiếu, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Đinh Hùng, Nguyễn Công Hoan, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân... Tờ Ngày nay trở thành cơ quan chính luận cổ động cải tạo nếp sống nông thôn. Cách viết của những nhà văn thuộc Tự lực văn đoàn thoát ly kiểu viết luận đề, đào sâu cái tôi cá nhân, cách tân nghệ thuật và hiện đại hóa cách viết. Năm 1940, tờ Ngày nay đóng cửa, những nhà văn chủ chốt của Tự lực văn đoàn tham gia chính trị.

Khi tờ Phong hóa tạo "một quả bom nổ giữa làng báo", nhà văn đồng thời là nhà xuất bản, chủ xưởng in Vũ Đình Long lập ra tờ Tiểu thuyết thứ bảy để \cạnh tranh. Những nhà văn không gia nhập Tự lực văn đoàn được thu hút về tờ báo này, nổi bật có Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Triệu Luật, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao... Tôn chỉ của tờ Tiểu thuyết thứ bảy có tính "thị trường" hơn, chấp nhận sách dịch, nghiêng về những thể dạng tiểu thuyết ăn khách, nhất là tiểu thuyết Tàu.

Bên cạnh đó, tờ Nam Phong tạp chí tuy do người Pháp thành lập và trả phí, dưới sự chủ biên của Phạm Quỳnh, tờ báo này đã giúp truyền bá chữ Quốc ngữ lẫn khoa học, triết học, văn chương, lịch sử, văn hóa của cả Âu và Á, sưu tầm, dịch những bản văn chữ Nho, chữ Nôm để lưu giữ văn hóa nghệ thuật Việt Nam... Viết cho tờ Nam Phong tạp chí có các tác giả như Lâm Tấn Phác, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Trọng Thuật, Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim, Tương Phố, Tản Đà, Dương Bá Trạc, Dương Quảng Hàm, Nam Trân, Đạm Phương... Phạm Quỳnh còn lập ra hội Khai trí tiến đức nhằm phổ biến văn hóa, học thuật.

Dần dà, trong văn đàn, các nhóm tác giả này lại chống đối cách viết, tôn chỉ mục đích viết của nhau, nhiều lần xảy ra các cuộc bút chiến nảy lửa trên các trang báo. Trong khi tờ Nam Phong bị chê là "cổ hủ lạc hậu" thì Tự lực văn đoàn bị phê phán vì đường lối "nghệ thuật vị nghệ thuật" và nhóm Tiểu thuyết thứ bảy bị phê phán vì cách viết luận đề. Đơn cử như những bút chiến về Thơ mới, hay câu nói của Phạm Quỳnh "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn." cũng gây cuộc bút chiến dai dẳng, lôi kéo cả tờ Tiếng Dân của Huỳnh Thúc Kháng tham gia...

---

Năm 1940, phát xít Đức bắt đầu Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu. Tại VN, hàng loạt tờ báo bị đóng cửa. Nhân cơ hội, phong trào cách mạng bùng nổ ở những nước thuộc địa. Những nhà văn, nhà báo này một phần tham gia các tổ chức cách mạng, một phần vẫn tiếp tục viết. Trong đó, tham gia làm cách mạng hăng hái nhất là nhóm Tự lực văn đoàn. Bên cạnh đó, thành viên Nam Phong cũng có người bị bắt bớ như Đạm Phương, Dương Bá Trạc.

Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí... tham gia các tổ chức chống Pháp.

Việt Nam Quốc dân đảng là tổ chức yêu nước do Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính thành lập từ 1927. Sau nhiều cuộc đàn áp, tổ chức này chia rẽ, phân tán thành hai nhóm: Nhóm Hà Nội do Nhượng Tống, Nguyễn Thế Nghiệp, Ngô Thúc Địch lãnh đạo; nhóm Quảng Nam do Phan Khôi, Phan Kích Nam lãnh đạo. Ngoài ra, nhóm này còn có tổ chức ở TQ, được sự hỗ trợ của Quốc dân đảng TQ thành lập lực lượng vũ trang. Năm 1932, các tổ chức hải ngoại hợp nhất thành Hải ngoại bộ. Cùng với sự lớn mạnh của Mặt trận bình dân, hàng loạt tổ chức Quốc dân ra đời, mạnh nhất là Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội do Nguyễn Hải Thần sáng lập năm 1936, Đại Việt Quốc dân đảng do Trương Tử Anh sáng lập 1938, Đại Việt Dân chính đảng do Nguyễn Tường Tam sáng lập năm 1938.

Năm 1940, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí... bị Pháp bắt giam, đến khi Nhật đảo chính vào tháng 3-1945 mới được thả. Nguyễn Tường Tam tức Nhất Linh bỏ trốn sang TQ, Thạch Lam mất vì lao phổi. Tháng 5-1945, nhân Nhật đánh Đông Dương, trả độc lập lại cho VN, 3 đảng phái Quốc dân này hợp nhất thành Đại Việt Quốc dân đảng.

Bên cạnh đó, ở TQ, tổ chức mạnh nhất là Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội do Nguyễn Hải Thần lãnh đạo, thành viên có Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Hoan... Từ năm 1943, Việt Cách để Hồ Chí Minh lãnh đạo, Việt Minh lúc đầu chỉ là một nhóm của tổ chức này. Năm 1944, Hồ Chí Minh trở về VN, Vũ Hồng Khanh va chạm với Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, liên minh này tan rã.

Năm 1945, Đại Việt Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội từ TQ trở về, cướp chính quyền ở Lào Cai và Sa Pa. Quân Trung Quốc do Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch lãnh đạo vào VN giải giáp quân đội Nhật, ủng hộ cho Việt Nam Quốc dân đảng. VN QDĐ đã thành lập được các chiến khu khắp miền Bắc, từ Lào Cai đến Quảng Ngãi. Trong khi Việt Minh giữ trung châu, vùng trung tâm Bắc Bộ thì VNQDĐ lập chiến khu ở vùng biên giới như Hải Dương, Hải Phòng, Lạng Sơn, Lào Cai, hay những vùng ven như Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa và dải miền Trung Quảng Bình đến Quảng Ngãi.

3 đảng phái chính trị lớn Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội và Việt Minh hội họp, nhất trí thành lập Chính phủ liên hiệp. Ngày 24-11-1945, đại biểu ba đảng ký vào bản "Đoàn kết tinh thành". Việt Quốc có 50 ghế đại biểu Quốc hội không qua bầu cử và Nguyễn Tường Long, người của Việt Quốc được cử làm Thứ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế trong Chính phủ liên hiệp lâm thời. Tháng 12-1945, Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam ra hoạt động công khai, do Trương Tử Anh, Nguyễn Tiến Hỷ, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ và Nguyễn Tường Tam lãnh đạo.

Tháng 3-1946, chính phủ Liên hiệp kháng chiến ra đời, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) làm Phó Chủ tịch, Nguyễn Tường Tam (Việt Quốc) giữ Bộ trưởng bộ Ngoại Giao; Vũ Hồng Khanh là Phó Chủ tịch Kháng chiến uỷ viên hội và Chu Bá Phượng (Việt Quốc) đảm trách bộ Kinh tế.

    "Quân Việt Minh và quân Quốc dân đảng tuy nói là đoàn kết, nhưng không có lòng thành thật. Quân Việt Minh chỉ có rình cơ hội là đánh quân Quốc dân đảng, hay bao vây để tiêu diệt lực lượng của đối phương, thành ra hai bên cứ kình địch nhau mãi.

    Ở các địa phương và những nơi đô thị như Hà Nội, Hải Phòng, người bên nọ bắt người bên kia. Có người giữa ban ngày đang đi giữa đường bị mấy người ở đâu đến lấy mền trùm đầu rồi bắt đi mất tích. Sở công an, Việt Minh bắt những người Việt Nam quốc dân đảng hay những người bị tình nghi vào tra tấn cực hình, có khi họ dùng những cách tàn nhẫn ghê gớm hơn thời Pháp và Nhật cai trị. Ai trông thấy những cảnh tượng ấy cũng bùi ngùi tủi giận vì gà một nhà mà lại đá nhau dữ bằng mấy gà lạ. Người một nước với nhau mà đối xử vô nhân đạo như thế, thật là thê thảm."

    Trần Trọng Kim - Một cơn gió bụi

23-9-1945, Pháp trở lại Nam Bộ. Tháng 2-1946, TQ đã ký kết hiệp ước Hoa-Pháp với Pháp, đồng ý để Pháp thay thế giải giáp quân Nhật, trở lại Bắc Bộ. Tháng 3-1946, Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt được những thành viên Đảng Cộng sản ủng hộ ký kết, chấp nhận quân Pháp trở về VN. Tháng 9-1946, Hồ Chí Minh tiếp tục ký Tạm ước Việt Pháp, nhượng bộ cho Pháp tất cả các quyền kinh tế, tài chính, chính trị, quân sự... đã giành được trong Hội nghị Đà Lạt để đổi lại thỏa ước ngừng bắn, ngừng tuyên truyền chống phá.

Hai tạm ước này gây nên phản ứng dữ dội trong chính phủ liên hiệp. Ngay từ Tạm ước sơ bộ, Quốc dân đảng đã tỏ ý phản đối mãnh liệt. Tháng 5-1946, quân TQ rút khỏi VN, người Pháp trở lại miền Bắc, tấn công vào những trụ sổ, chiến khu của Quốc dân đảng chống Pháp. Ngày 12-7-1946, Vụ án phố Ôn Như Hầu phát ra, Việt Minh tấn công trụ sở của Quốc dân đảng, cáo buộc tổ chức này ám sát giết người cướp của, bắt lãnh đạo Phan Kích Nam cùng nhiều người khác. Cuối tháng 7-1946, vụ án cầu Chiêm Sơn tỉnh Quảng Nam phát ra, Việt Minh cáo buộc Quốc dân đảng phá cầu ngăn cản đoàn lãnh đạo đến Nam Bộ. Quân đội Việt Minh mở cuộc tấn công toàn diện vào các trụ sở của Quốc dân đảng tại Quảng Nam. Các lãnh đạo Quốc dân đảng phải bỏ sang TQ.

Lan Khai bị giết năm 1945. Khái Hưng bị Việt Minh bắt giam, xử tử năm 1947. Nhượng Tống bị Việt Minh ám sát năm 1949. Nguyễn Tường Tam phản đối tạm ước 9-1946, bỏ về TQ, hợp tác cùng Bảo Đại trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp, rời khỏi chính trường năm 1951. Năm 1960, ông ủng hộ đảo chính Ngô Đình Diệm, bị bắt giam, tự sát vào 7-7-1963.

Phạm Quỳnh bị giết vào tháng 9-1945, Nguyễn Bá Trác bị xử tử 8-1945. Diệp Văn Kỳ bị giết năm 1945. Bùi Quang Chiêu bị giết cả nhà tháng 9-1945. Tạ Thu Thâu bị thủ tiêu tháng 9-1945. Trương Bội Công chết năm 1945. Tạ Thu Thâu bị giết tháng 9-1945.

Nguyễn Triệu Luật, Trương Tử Anh, Trần Đình Long mất tích năm 1946.

Trong năm 1946, Phan Trần Chúc, Hoàng Trọng Phu, Dương Quảng Hàm qua đời. Năm 1947, Phan Thanh Phước, Nguyễn Văn Sâm chết bí ẩn.

Huỳnh Thúc Kháng mất năm 1947 ở Quảng Ngãi, trong bức điện cuối cùng cho Hồ Chí Minh, ông viết “Tôi bệnh nặng, chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện; thế là tôi chết hả”.




1945-1965
Thursday, June 20, 2013 Author: Trường An

Thôi, đã sẵn một series rồi thì đào mộ khai quật lại nốt. Cái nguyên-nhân-trực-tiếp khiến lịch sử được viết như bây giờ:

Bảo Đại 1 - 2 - 3 - 4 - 5


Tóm tắt hoàn cảnh lịch sử:

- Sau khi Nhật đảo chính Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11 tháng 3 năm 1945, Bảo Đại ra đạo dụ "Tuyên cáo Việt Nam độc lập", tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam.

- Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam.

- Tháng 8-9-1945, Việt Minh nhân lúc Nhật đầu hàng Đồng minh, phát động cướp chính quyền trên toàn quốc. Ở miền Nam, cuộc "cướp chính quyền" này đã gây ra xô xát với những tổ chức chống Pháp trước đó như Hòa Hảo. Năm 1946, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập với thành phần đến từ nhiều tổ chức khác. Từ giữa năm 1946, Việt Minh bắt đầu mở cuộc thanh trừng các phe phái trong Quốc hội của VN Dân chủ Cộng hòa. Đồng thời, từ sau tháng 8-1945, những thành viên quan trọng của "chế độ cũ" lần lượt bị xử tử bí mật như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Nguyễn Bá Trác... Những thành viên trong Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội cũng lần lượt chia rẽ như Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần... tách ra thành lập các tổ chức mới.

Điều này đã dẫn đến sự chia rẽ sâu sắc trong nội bộ nước VN. Bảo Đại vì một lý do nào đó (như ông nói là bị Việt Minh vứt bỏ ở TQ) đã rời khỏi VN. Những thành viên không đồng tình, thành phần quan lại cũ dù mang tư tưởng chống Pháp nhưng từ chối bắt tay với Việt Minh, tố cáo Việt Minh âm mưu tiến hành "Đảng trị", trừ khử các tổ chức khác để độc quyền chính trị. Những người này, đơn cử như Ngô Đình Diệm, đi ra nước ngoài và tìm cách chống Pháp khác. Ngô Đình Diệm liên hệ với Mỹ - Lúc này, Mỹ đồng tình ủng hộ cho VN độc lập, chỉ cần không có mặt cộng sản. Với mục tiêu hạn chế sự ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản xuống châu Á, Mỹ ủng hộ cho những chính quyền châu Á giành độc lập để chống lại các tổ chức cộng sản - như chính quyền Tưởng Giới Thạch ở TQ, chính quyền chống cộng ở Indonesia, Phillipine, Nam Hàn...

Cuối năm 1946, Pháp tấn công trở lại Nam Kỳ. Lúc này, bị đánh bật khỏi miền Đông Nam Bộ, giáo phái Cao Đài lui giữ Tây Ninh và bắt đầu mâu thuẫn với Việt Minh. Một nhánh khác của quân đội Bình Xuyên cũng tự tách ra, từ chối hợp tác cùng Việt Minh sau vụ việc Việt Minh ám sát giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ. Như vậy, hầu hết các tổ chức vũ trang chống Pháp của Nam Bộ đã quay lưng với Việt Minh.

- Năm 1947, Việt Minh bị đẩy lùi về miền núi phía Bắc. Trong những năm đó, sau Chiến tranh thế giới lần 2, các nước châu Âu bắt đầu trao trả độc lập lại cho thuộc địa. Người Pháp và người Mỹ liên hệ với Việt Minh về một giải pháp thành lập chính phủ mới, với điều kiện không chấp nhận sự có mặt của Đảng Cộng Sản. Việt Minh từ chối đề nghị này.

Người Pháp liền tìm gặp Bảo Đại để bàn việc thành lập một quốc gia mới. Tháng 1 năm 1949, Bản tuyên ngôn Việt-Pháp được công bố, theo đó nước Pháp thừa nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam.

Ngày 8-3-1949, Hiệp định Élysée được ký kết - Pháp chính thức trả lại Nam Kỳ cùng quyền hành chính trị, kinh tế, ngoại giao... cho chính phủ lâm thời Bảo Đại.

Bảo Đại về nước, tập hợp các tổ chức chống Pháp khác như Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng liên kết thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp. Ngày 4-6-1949, Bảo Đại tuyên bố nắm quyền cho đến khi có cuộc tổng tuyển cử mới để thành lập chính quyền. Bằng những cuộc đàm phán liên tục, chính quyền Bảo Đại lần lượt lấy lại từ tay người Pháp quyền hành kinh tế chính trị và quân sự. Nhưng những cuộc cải cách ở miền Nam không đem lại kết quả cũng như sự ủng hộ vì dân chúng chống đối chính quyền "thuộc Pháp".

Năm 1949, Đảng Cộng sản giành chiến thắng ở TQ, bắt đầu viện trợ cho Việt Minh chống Pháp. Người Pháp dần dà kiệt lực sau những thất bại liên tục ở miền núi phía Bắc, đến năm 1953, phải ký Hiệp định Hiệp định Genève để rút khỏi Đông Dương, giao trả VN về cho người Việt. Theo hiệp định, 2 chính phủ lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới, có thời hạn 2 năm để tổ chức tổng tuyển cử thống nhất VN.

Nhưng mâu thuẫn trước đó mà Đảng Cộng sản VN gây ra đã quá sâu sắc, đặc biệt là cuộc cải cách ruộng đất năm 1953-1954. Nghe tin Việt Minh sắp trở về Hà Nội, được chính quyền miền Nam kêu gọi, cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử xảy ra ở miền Bắc khi 1 triệu người bỏ vào Nam.

Đồng thời, những thành viên trong chính phủ Nam Kỳ vốn đã mang mối bất đồng sâu sắc, từ chối bắt tay với Việt Minh. Ngô Đình Diệm được sự hậu thuẫn của Mỹ trở thành Thủ tướng chính phủ, và khi Bảo Đại bất đồng với Ngô Đình Diệm về đường lối xử trí, Ngô Đình Diệm tổ chức cuộc phế truất chức Quốc trưởng của Bảo Đại, bản thân trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Từ đó, Bảo Đại phải lưu vong ở Pháp.

Với lập trường chống cộng mạnh mẽ, Ngô Đình Diệm được sự hậu thuẫn lớn của Mỹ để giành lại sự kiểm soát ở miền Nam. VN Cộng hòa từ chối tổng tuyển cử, chính quyền Ngô Đình Diệm cũng bắt đầu những cuộc cải cách, trừ khử lực lượng cộng sản ở miền Nam, đàn áp tôn giáo, tiêu diệt các lực lượng đối lập...

Trong lúc đó, để củng cố sự ảnh hưởng của Đảng Cộng sản, Liên Xô cùng Trung Quốc bắt đầu những cuộc chi viện lớn cho miền Bắc. Quân đội Bắc VN được trang bị vũ khí hiện đại nhất từ LX và TQ.

Năm 1960, miền Bắc tuyên bố "Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội", thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, bắt đầu những cuộc tấn công đánh phá trong vùng đất dưới vĩ tuyến 17. Để đối phó, Mỹ chi viện cho chính phủ miền Nam ngày càng nhiều, "Áp dụng mọi biện pháp cần thiết, đẩy lùi bất cứ một cuộc tiến công vũ trang nào chống lại lực lượng Hoa Kỳ và sẵn sàng tiến hành mọi bước cần thiết, kể cả dùng lực lượng vũ trang để giúp đỡ bất kì một nước đồng minh nào cần đến sự giúp đỡ để bảo vệ nền tự do của mình” - Lyndon B. Johnson.

Tháng 8-1964, sau Sự kiện vịnh Bắc Bộ, Mỹ bắt đầu chiến dịch ném bom miền Bắc, chiến tranh chính thức bắt đầu.



    Riêng về phần tôi, lòng yêu quê hương Việt Nam không cho phép tôi để ngỏ cửa cho một cuộc tranh chấp nội bộ nào. Điều mà tôi mong muốn là tất cả các con dân Việt Nam ý thức được rằng họ là một quốc gia và ý thức ấy sẽ thức đẩy họ dựng lên một nước Việt Nam xứng đáng là quốc gia. Tôi tưởng rằng tôi sẽ làm tròn bổn phận của một công dân Việt Nam khi nào mà tôi làm cho những người nông dân Lạng Sơn, Huế, Cà Mau ý thức được tình huynh đệ của họ. Nghĩa hợp quần ấy được thực hiện dưới bất cứ chế độ nào: cộng sản, xã hội chủ nghĩa, bảo hoàng hay quân chủ, điều đó không quan trọng, điều quan trọng là phải cứu dân tộc Việt Nam khỏi cái họa phân chia. - Hoàng đế Duy Tân



1882-1888
Monday, June 17, 2013 Author: Trường An

Thực tế cho thấy trong cuộc đối đầu Âu-Á, các nước được tiếng "không thua trận" đều là vì... không đánh. Các nước châu Á một khi chống cự đều nhận lãnh hậu quả lần sau thê thảm hơn lần trước. Các nước Tây dương trong giai đoạn đầu khá đoàn kết trong việc chinh phục các thuộc địa, sẵn sàng hỗ trợ nhau dập tắt sự kháng cự của các nước châu Á. Miến Điện sau 3 lần quật khởi thì mỗi lần thua lại mất thêm đất đai, kết cuộc hoàn toàn rơi vào tay người Anh. TQ sau Chiến tranh thuốc phiện lần thứ I đã cố gắng thay đổi, nhưng kết quả bị liên quân 5 nước hợp sức đánh phá trong Chiến tranh thuốc phiện lần 2. Và như ở VN, một khi gặp sự kháng cự, Pháp sẵn sàng đem đội quân tổng lực ấy "trừng phạt" đối thủ.

(Thậm chí ngay cả NB trong thế chiến thứ 2 thực chất cũng không phải là đối thủ của Tây phương. Nhân khi châu Âu bị phát xít Đức đánh phá, NB tung quân đánh chiếm các thuộc địa ở vùng ĐN Á. Nhưng một khi Mỹ và đồng minh dốc toàn lực đánh trả, NB vẫn bị đẩy lui về sau hàng loạt thất bại, bị Mỹ bao vây đến mức phải dùng cảm tử quân đánh bom bằng máy bay. 2 quả bom nguyên tử chỉ là hành động cuối cùng.)

Ở Nhật Bản, Mạc Phủ hết lần này đến lần khác nhượng bộ với những hiệp ước bất bình đẳng, đổi lại là chính mình trở thành vật hy sinh cho sự phẫn nộ của người trong nước. Thái Lan cũng đã phải trả giá đắt cho công cuộc "hòa bình" của mình với gần một nửa số lãnh thổ bị Pháp và Anh đem về cho Lào, Cambodia, Miến Điện (nên đến tận bây giờ những thành viên hội ái quốc của Thái Lan vẫn liên tục biểu tình, gây chiến đòi lại những vùng đất ấy). Ngoài ra, cũng cần phải kể đến điều kiện "địa lợi" của các nước nọ, khiến những nước Tây dương chỉ dừng lại trong việc sử dụng cảng biển hay các lợi ích khác chứ không định chiếm giữ.

Nhưng với trường hợp VN, dù đã được thỏa mãn tất cả điều kiện tự do thông thương, tự do tôn giáo, thậm chí nhượng cả vùng Nam Bộ, điều Pháp muốn là giành được chủ quyền trên cả cõi VN. Năm 1882, nghị viện Pháp nhận thấy "miền Bắc giàu có khoáng sản, đất đai" đã cho lệnh Toàn quyền tấn công lên Bắc Kỳ.

Đại sứ nhà Thanh khi ấy ở Pháp nghe được tin liền mật báo cho VN. Địa thế của Bắc Bộ vốn liên quan mật thiết tới an nguy của miền Nam TQ, nhà Thanh đáp ứng VN, yêu cầu Pháp không được chạm tới Bắc Bộ. Chỉ huy của Pháp Henri Rivière nổi giận vì yêu cầu này, nổ súng tấn công Hà Nội vào ngày 25-4-1882.

Trước đó, Henri Rivière đã đến HN vào cuối năm 1881 viện cớ giải quyết tranh chấp của các thương nhân. Vào tháng giêng năm 1882, quân Thanh thúc đẩy việc đánh tàn quân phản loạn, vua Tự Đức đã sai các trọng tướng đến Thái Nguyên canh chừng, an trí cho bọn Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc đã về hàng triều đình. Đoán được người Pháp sẽ gây chiến, vua cho sắp xếp người và cho các tỉnh chuẩn bị. Tổng đốc Hoàng Diệu dâng kế sách nói “Hình thế Bắc Kỳ, bên tả từ Ninh Bình đến Mỹ Đức, Sơn, Hưng, bên hữu thì Bắc Ninh, Thái Nguyên và Đông Triều thuộc tỉnh Hải Dương, đều có phận núi hiểm yếu, có thể giữ được. Tự ta nên biết kinh lý, tất cho thượng du mạnh mẽ, để giữ trung châu, chúng tiện ở đường sông, không tiện ở đường núi, thì cũng biết là khó mà không dám động".

Người Pháp đến từ đầu năm, HN đã náo động liên tục, các tỉnh thì hoang mang. Nhưng không thể vọng động trước làm người Pháp có cớ tuyên chiến, vua cho các tỉnh sắp xếp nhân lực trước, chuẩn bị sẵn ở những nơi sông cạn để lấp đất chặn tàu (Đà Nẵng cũng đã từng thành công với sách lược này).

Người Pháp bắt thành HN bỏ tuần phòng, Tổng đốc Hoàng Diệu không chấp nhận, Pháp liền hạ chiến thư, đánh vào thành. Không chống được, Hoàng Diệu thắt cổ tự sát. Trước đó, một vị tôn thất là Tôn Thất Bá được lệnh Hoàng Diệu đi bàn việc với Pháp, rời khỏi thành trước khi xảy ra chiến trận. Sau khi thành hạ, người Pháp gọi Tôn Thất Bá trở về, giao trả thành. Nhà vua trước đã đoán ra sẽ có chuyện, sai Khâm sai đến bàn bạc, nhưng người chưa đến mà thành đã mất. Lúc này, Pháp đã giao trả thành trì nhưng vẫn đóng quân trong Hành cung, phá hủy cửa thành để vận tải vũ khí vào.

Nghe HN có chuyện, nhà Thanh liền phái quân Lưỡng Quảng và Vân Nam đến đóng ở biên giới. Pháp lần lữa đến đầu năm 1883 thì đem thêm quân cùng tàu chiến tới HN. Trong khoảng thời gian đó, nhân việc thương buôn TQ ở Hong Kong đem tiền giả vào VN, triều đình kết thân được với người Anh. Pháp nghe ngóng được tin triều đình sắp mời người Anh đến đóng tại Hòn Gai (Hải Phòng), biết rằng nếu người Anh đến thì không thể nào cướp Bắc Kỳ được nữa, liền ra tay đánh trước.

Ngày 26-3-1883, Pháp đánh thành hạ Nam Định. Ngày tiếp, Pháp đưa quân sang sông, đánh vào Gia Lâm. Tổng đốc Bắc Ninh đem quân giao chiến. Sau 2 ngày, quân Pháp chống cự không nổi, phải rút lui. Ngày 28-3, nhân quân Pháp đánh Nam Định, quân Cờ Đen cùng triều đình đánh vào Hà Nội nhưng bị đẩy lùi. Quân triều đóng giữ Bắc Ninh và chiêu mộ người ở Sơn Tây.

Tháng 4-1883, quân Thanh vào Lạng Giang.

Tháng 5-1883, Hoàng Tá Viêm đem quân mộ từ Sơn Tây cùng quân Cờ Đen về Hà Nội, giết chết chỉ huy Pháp Henri Rivière, Berthe de Villers cùng vài tướng lĩnh quan trọng khác trong trận Cầu Giấy.

Cái chết của những sĩ quan cao cấp này khiến người Pháp nổi giận. Tăng viện từ Gia Định lập tức đến Bắc Kỳ, trong khi quan quân ở HN lại đến vây Nam Định. Vua Tự Đức thúc giục quan quân hành động, giải quyết sớm nhóm quân còn đóng trong thành đã mất chủ.

Ngày 17-7-1883, vua Tự Đức qua đời.

Triều đình VN lập tức xáo trộn. Ngày 20-7, vua Dục Đức lên ngôi, chỉ sau 3 ngày đã bị Tôn Thất Thuyết phế đi để lập Hiệp Hòa.

Tháng 7-1883, Đô đốc Amédée Courbet đến Hải Phòng. Các sĩ quan Pháp nhận định khó đánh được Bắc Kỳ, thay vào đó, quyết định tấn công Huế. Ngày 20-8, Pháp đánh vào cửa biển Thuận An, đẩy lui quân phòng ngự, áp sát Huế. Ngày 25-8, những thành viên nội các Huế ký kết Hòa ước Quý Mùi, rút quân khỏi Bắc Kỳ, thừa nhận quyền kiểm soát của Pháp...

Ngày 18-8, ở Hà Nội, quân Pháp đụng độ với quân Cờ Đen ở Phủ Hoài. Ngày 1-9, Pháp đánh lên Sơn Tây, được quân Cờ Vàng giúp sức. Nhưng chỉ huy của quân Cờ Đen là Lưu Vĩnh Phúc tiếp tục trốn thoát. Lúc này, quân Thanh đã vào Sơn Tây, Bắc Ninh, Lạng Sơn.

Trận chiến Pháp-Thanh diễn ra ở Bắc Kỳ. Đến cuối tháng 3-1884, quân Thanh bị đánh bại ở Sơn Tây và Bắc Ninh. Quân Pháp thừa thắng đánh lên Hưng Hòa, Thái Nguyên. Ngày 11-5-1884, Hiệp ước Pháp-Thanh được ký kết, Thanh thừa nhận sự bảo hộ của Pháp ở VN. Trong Hòa ước Thiên Tân, cùng với Hòa ước Quý Mùi trước đó, công nhận: Chia nước Việt Nam ra làm ba xứ: Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam), Nam Kỳ (Cochinchine) dưới ba chế độ khác nhau; mỗi kỳ có một chế độ cai trị riêng như là ba nước riêng biệt. Nam Kỳ là xứ thuộc địa Pháp; Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ Pháp bảo hộ nhưng triều đình nhà Nguyễn trên danh nghĩa vẫn được quyền kiểm soát.

Nhưng đến tháng 8-1884, thỏa thuận giữa Pháp-Thanh một lần nữa tan vỡ. Tháng 9-1884, Pháp tiếp tục đánh lên Lạng Sơn, Tuyên Quang.

Trận chiến này kéo dài đến tháng 3-1885, lúc này, Nhật Bản nhân lúc TQ xung đột với Pháp mà đánh vào Triều Tiên, đụng độ với quân đội nhà Thanh nơi đây. Từ Hy thái hậu quyết định hòa giải với người Pháp để rảnh tay chống giữ NB. Năm 1886, Pháp đến Nhật Bản liên kết làm đồng minh để "khóa chặt" TQ.

Trong lúc này, ở Huế, Tôn Thất Thuyết phế Dục Đức, giết Hiệp Hòa, Kiến Phúc để đưa Hàm Nghi lên ngôi vào tháng 8-1884. Ngày 4 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết cùng Hàm Nghi đánh úp đồn Mang Cá nhưng thất bại. Huế thất thủ dẫn đến cuộc tàn sát khủng khiếp khi quân Pháp xông vào kinh thành.

Hàm Nghi ra Quảng Trị, phát động phong trào Cần Vương. Đến năm 1888, Hàm Nghi bị bắt, phong trào thất bại.



"Chúng ta đã thấy những gương chống Pháp và tôi đây là nạn nhân của một lối chống nóng nảy vụng về. Rồi đất nước chúng ta phải chịu một cảnh chiến tranh tàn khốc mà kết quả chưa biết là thắng hay bại." - Vua Duy Tân





Copyright © Trường An. All rights reserved.