Solitude

.Mài son bén phấn hây hây. Đêm nguyệt đưa xuân một nguyệt hay. More...

Phát xít Nhật
Friday, December 27, 2013 Author: Trường An

Đọc sơ qua quá trình hình thành của phát xít Nhật, có mấy điều khá là hứng thú.

Tại sao lại gọi là phát xít, theo nghĩa gốc của từ này là "bó" hoặc "nhóm", với các đặc trưng là nhà nước chuyên chế độc tài, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chiêu bài hướng tới tầng lớp thấp, chủ trương chống lại tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến "dân tộc"... Như mục tiêu chính của phát xít Nhật là Trung Quốc, giống Đức với Do Thái. Nhưng tại sao lại là TQ?

Điều này cần nhìn ngược lại về những năm tháng đầu của Minh Trị Duy Tân, hay thậm chí là xa hơn nữa. Đầu những năm Minh Trị, NB bị châu Âu tấn công, buộc phải mở các cảng, để người Tây vào hoạt động, và từ đó dẫn đến cải tổ chính phủ. Thật ra, điều mà NB làm là điều mà hầu hết các nước châu Á cũng làm. Ngay từ năm 1862, TQ đã cử hơn 100 học sinh ra nước ngoài học, tập trung phát triển quân đội. Nhưng "lợi thế" của NB trước hết phải nói, chính là điều mà NB hay than nghèo kể khổ: Đất đai chả có gì để mà cướp. Ngoại trừ nguyên nhân chủ quan do mâu thuẫn trong nước, TQ phải chịu sự khống chế của hơn 5 nước Tây phương, mà kẻ nào cũng lăm le lấy hơn phần được chia - Ví dụ như Pháp chọn cách đánh VN để chọc vào mạn Vân Nam. NB, một khi đã chịu "đầu hàng", lợi dụng được chính những nước Tây phương chiếm đóng chia sẻ công nghệ, phát triển cầu đường, buôn bán... Mà quan trọng nhất, Tây phương lấy NB làm căn cứ đóng quân để tấn công các nước châu Á khác. Đất NB không có tài nguyên, chỉ có vị trí chiến lược là quan trọng.

Bước ngoặt lớn của NB chính là cuộc chiến Pháp Trung - khởi nguồn từ cuộc xâm lược VN của Pháp. Pháp và TQ đánh nhau ở Vân Nam, NB đột nhiên tấn công vào Triều Tiên, buộc TQ phải rút lui, nhường VN cho người Pháp. Ngay trong năm sau, NB cùng Pháp ký kết hiệp ước liên minh, Pháp cung cấp thuyền chiến, khí tài cho NB, đổi lại là NB khống chế biển Đông của TQ. Nhận thấy "mối lợi" to lớn này từ NB, đồng thời e sợ Pháp "1 mình ăn cả" giống Hà Lan từng làm với Ma Cao, các nước Tây phương cũng đồng loạt cởi bỏ các hiệp ước bất bình đẳng để lấy lòng NB. Sự "hợp tác cùng phát triển" của NB với Tây phương lên một tầm cao mới, để NB trở thành quốc gia phát triển nhất châu Á bấy giờ.

Vị thế mà NB có được chính là nhờ "chống-Trung-Quốc", từ vị trí chiến lược bị động, NB đã tham gia vào công cuộc tiến chiếm châu Á của các nước Tây phương.

Ngày nay, có người đã đặt lại vấn đề về hành động của triều Thanh dưới trướng Từ Hy thái hậu. Việc ra sức kiểm soát, khống chế đến mức cực đoan các yêu cầu "cải cách" ảnh hưởng đến quyền lực triều đình liệu có phải chỉ là "thủ cựu"? Khi ngay cả cuộc vận động của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu cũng do NB hậu thuẫn? Với sự xâm lấn của các nước phương Tây vào miền Nam TQ, sự phân quyền của triều đình có thể dẫn đến tình trạng cực kỳ bất lợi, như đã thấy sau cuộc Cách mạng Tân Hợi. Các thủ lĩnh địa phương, dòng tộc có thể cát cứ, phân nhỏ quốc gia, và TQ sẽ trở thành mồi ngon cho Tây phương nhấm nháp từng miếng.

(- Thực ra, tình trạng "chia để trị" này cũng đã thấy ở VN. Một khi mất đi sự kiểm soát, khống chế từ trung ương, các vùng lãnh thổ bị Pháp phân nhỏ dễ dàng, nuốt chửng từng miếng.)

Ngay cả Khang Hữu Vi, vào thời gian sau đó, cũng đã nhận ra thế bất lợi, không còn yêu cầu TQ "canh tân" triệt để, mà đặt ra đường lối quân chủ lập hiến cho TQ.

Quay lại NB và TQ, hai nước này đã có lịch sử lục đục lâu đời quanh vấn đề Triều Tiên. Nhiều lần đánh Triều Tiên bị TQ chặn đường, trong tiềm thức NB, TQ chính là cản trở lớn nhất cho công cuộc bành trướng vào đất liền. Hay nói cách khác, NB cổ đại vừa sùng Hoa vừa bài Hoa. Từ những ngày người NB sang triều Đường học hỏi tất cả phong tục, quy chế cho đến chí cách ăn mặc ở của nhà Đường, NB đã tiếp thu hầu hết các tư tưởng của TQ, trong suốt các tiến trình lịch sử. Ngay cả trong thiên "Thoát Á luận", Fukuzawa Yukichi kêu gọi cải cách, bài Hoa bằng một câu sặc mùi Mạnh Tử "Xã tắc thứ chi, quân vi khinh" - nước nhà là trọng, chính phủ là phụ. Ngay cả những "tư tưởng tân dân" của Nho học NB cũng khởi nguồn từ những chí sĩ nhà Minh đem sang.

Nhưng đồng thời, vì vậy, trước sự thay đổi của thời thế, tư tưởng này trở thành trở ngại lớn nhất của NB - không chỉ trong lĩnh vực tinh thần. Trong tiềm thức, NB xác định sự lớn mạnh của mình là "vượt qua TQ". Và ngay khi vừa đủ sức, NB thực hiện ngay "khao khát" hàng ngàn năm của mình: Đánh Triều Tiên vào 1894.

Điều này có thể thấy trong thiên "Thoát Á luận". Trong đó, coi "TQ và Triều Tiên chẳng hề giống NB", "chúng ta vượt hơn hẳn họ", vưn vưn và vưn vưn. Nói chung là mùi tự sướng bay cao ngút trời. Và để xác định vị thế thượng tôn, cần tấn công Triều Tiên và TQ. Tư tưởng TQ đã lỗi thời, cần tiêu diệt TQ để "cải cách" châu Á được rộng khắp.

Nhưng dù Fukuzawa Yukichi hiện tại có nổi tiếng đến mức nào, "Thoát Á luận" khi được phát hành không có ai nhìn tới. Chỉ vào 48 năm sau, cùng với lúc quân đội chiếm chính phủ, thành lập chính quyền quân sự phát xít, bài viết này mới được lôi ra, trở thành tư tưởng chính yếu, kim chỉ nam của NB. Cũng chính là tư tưởng mà NB loan truyền toàn thế giới, tới những nước xung quanh, những người tìm tới NB để tìm phương cách duy tân.

Và hiện tại, Fukuzawa Yukichi cùng "Thoát Á luận" được coi là phương tiện chính của chủ nghĩa phát xít Nhật.

Sự bài xích điên cuồng của phát xít Nhật với người TQ không chỉ nằm ở phương diện tinh thần như Đức với Do Thái - Dù cũng đặt trên một vị thế "thượng tôn", "ưu việt" tương tự - mà còn trên vấn đề kinh tế, chính trị. Đến khi lớn mạnh, NB bắt đầu tìm cách bành trướng theo đúng lối của các nước Tây phương. Nhưng ngoại trừ Triều Tiên, tất cả các vùng đất khác đã "có chủ". Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ I, NB đụng độ với Nga nhưng không giành được lợi thế trên các hòn đảo phía Bắc. Thế lực phương Tây quá mạnh, NB không thể một mình chống thực dân - Thế là, một lý thuyết nhân sinh mới ra đời, đặt NB thành một vị cứu tinh của châu Á, kêu gọi dân chúng các nước châu Á ủng hộ đế quốc Nhật để đối kháng với phương Tây.

Nhưng ở khu vực Đông Nam Á này, ở đâu lại chẳng có người TQ? Người TQ đóng vai trò quan trọng trong kinh tế xã hội ĐNÁ, thậm chí là thành phần quan trọng nhất. Phát xít Đức giết người Do Thái để chiếm tài sản, phát xít Nhật cần tiêu diệt TQ để đạt tới những thứ to lớn hơn.

Tất cả những điều đó được ngụy trang bằng tư tưởng "Thoát Á luận", bằng bài trừ Hán học, vứt bỏ Nho học "cũ kỹ lạc hậu" và vân vân những thứ tương tự.

Và NB, "khởi nghiệp" bằng cách bán đứng các quốc gia châu Á, lại tự cho mình thành cứu tinh của châu Á.

---

Câu nhận xét về đường lối của Phan Bội Châu "tiễn sói cửa trước, rước cọp cửa sau" không phải là không có lý. Sống trong thời đại ấy, với những biến động, xung đột của 2 quốc gia TQ-NB, người đương thời chắc chắn nhận biết được sâu sắc hơn những gì người ngoài nhìn vào. Dù trong thời kỳ hoạt động của PBC, NB chưa trở thành phát xít, nhưng con đường này chỉ là sớm muộn.

Ngay cả Lương Khải Siêu cũng khuyên PBC không nên cầu ngoại viện. Và NB cũng đã "bán đứng" VN lần thứ 2 vào năm 1908, ký kết hiệp ước cùng Pháp đuổi tất cả du học sinh về nước, đổi lại là NB được sang Đông Dương buôn bán, làm tan rã hoàn toàn phong trào Đông Du.

Ai tin được khẩu hiệu "châu Á cùng tiến" của NB thời gian này đúng là ngây thơ số một.

---

Thật ra mọi loại sách đều cần xem xét giá trị thực tiễn của nó chứ không phải "giá trị truyền miệng", bơm vá. Cũng như cái nhà cần xem có bền đủ để ở được không chứ không phải do ai xây.

Vẹt nhà thư sinh thì nói chữ, vẹt ngoài chợ thì chửi thề. Nhưng chung quy vẫn chỉ là con vẹt.

---

Nhiều khi cảm thấy người VN rất "ngây thơ", rất "dễ bị tổn thương". TQ bán đứng mình cũng kêu, mà cả Cambodia quay lưng cũng hậm hực. Xin lỗi, tình thế ra như bây giờ cũng bởi "không-giỏi-kinh-doanh", bị đá như quả bóng ở giữa. Nào "anh cả", "anh hai" rồi anh em, hàng xóm, đến lúc không như ý thì lại gào.

Thật ra NB, hay ngay cả Thái Lan, Hàn Quốc... cũng là ví dụ cho câu "khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống". Thôi hậm hực kể tội thằng này thằng kia bán mình đê, đứa nào bán được có giá thì đứa ấy giỏi. =))




Tiền giấy
Thursday, December 12, 2013 Author: Trường An

Hôm nọ nhầm Lý Chiêu Hoàng lên ngôi năm 1224 thành 1124, nhưng nhờ vậy mà tìm được 1 nhân vật rất đáng để ý: Tể tướng Sử Di Viễn.

Sử Di Viễn người Chiết Giang, thi đậu tiến sĩ thời Tống Ninh Tông. Năm 1207, tể tướng Hàn Thác Trụ đánh Kim thất bại, Sử Di Viễn lúc ấy là Lễ bộ thị lang liền mưu với Dương hoàng hậu giết Hàn Thác Trụ để dâng thủ cấp cho Kim thỉnh hòa. Sử Di Xa vì thế thăng lên Hữu thừa tướng.

Năm 1224, Tống Ninh Tông qua đời. Thái tử là Triệu Hồng có hiềm khích với Sử Di Viễn, Sử Di Viễn liền mưu cùng Dương hoàng hậu giết thái tử, lập một tông thất là Triệu Dữ Cử làm Tống Lý Tông. Tống Lý Tông chỉ là vua bù nhìn trong suốt 9 năm, đến 1233 mới lấy lại được quyền hành.

Trong thời gian làm quyền thần của mình, Sử Di Viễn được ghi nhớ bởi mấy hành động: Diệt kẻ đối lập, tham ô lũng đoạn, làm kinh tế nhà Tống suy bại. Trong đó, đáng chú ý nhất là thủ đoạn mà Sử dùng để thu tiền từ dân gian: Đổi tiền giấy.


"Sử Di Viễn chuyên quyền 26 năm, duy trì chế độ cầu hòa chính trị, với Kim quỵ lụy, với nhân dân thì điên cuồng cướp đoạt. Ông ta còn tạo ra tiền mới, không dùng đồng, bạc hay vàng làm nguyên liệu, mà dùng giấy đổi lấy tiền cũ, giá trị chỉ bằng phân nửa. Khiến cho tiền giấy mới đầy rẫy mà giá tiền giảm xuống, giá hàng hóa tăng cao, dân chúng lầm than. Triều đình dụng binh, tiền giấy phát hành ngàn vạn. Năm năm lưu hành, số tiền giấy là hàng trăm triệu, tình hình lạm phát đã đạt tới mức độ cực kỳ nghiêm trọng. Lý Tông tuy lấy lại được quyền chấp chính, chính trị có ổn định hơn, nhưng Nam Tống đã ở trong thế bấp bênh, tài chính quốc gia ở biên giới phá sản, phải dựa vào lạm phát để thu tiền cứu cấp, như uống rượu độc giải khát, tiền giấy biến thành như rác không có giá trị."

----

Vầng, đây là hình ảnh của ai?

Việc ban hành tiền giấy của Hồ Quý Ly hoàn toàn là học của nhà Tống.

Mà việc này hậu quả kết quả nhãn tiền, ngoài mục đích vơ vét làm giàu cho quốc khố thì hại nhiều hơn lợi. Tiền giấy thời kỳ ấy dễ làm mà cũng dễ hỏng, nên trong 5 năm mà nhà Tống in đến hàng trăm triệu tờ tiền.

Về việc này, Nguyễn Trãi từng viết:


    "Ta xét ngay như họ Trần, cậy đã giàu mạnh, không thương dân khổ, chỉ đam mê về sở thích. Lấy tửu sắc làm vui, hàng ngày chỉ đam mê những việc vô ích: đánh cờ, đánh bạc, chọi gà, chọi chim, nuôi cá vàng, nuôi chim lạ, bày những trò lặt vặt, ganh nhau được thua. Việc nước to tát bao la không hề đoái hoài. Người oan uổng bị quận thú giam giữ vài ba năm, không hề hỏi tới. Các sớ tấu bị nội giám lưu lại vài ba tháng không thi hành. Tể tướng gây riêng bè phái. Triều đình thiếu hẳn Gián quan. Thần đến là con là cháu mà bị hại về mưu giảo quyệt gian thần. Quyền lớn chức cao mà rơi vào tay bọn tôi tớ nhân dân. Dân chê mà không biết, trời trách mà không lo. Chính giáo vì thế mất kỷ cương, vì thế sinh hỗn loạn. Tuy vì Hồ thị bất trung, nhưng cũng vì trời ghét thiếu đức mà trao cho người khác. Họ Hồ đã lấy trí gian cướp nước, rồi lại lấy trí gian uy hiếp dân tình. Lịnh bảo sao (chế tiền bạc giấy) ban ra mà người người đều oán về khó mưu sinh. Phép di dân thi hành mà người người đều oán vì mất cơ sở. Lại thêm thuế má nhiều, phu dịch nặng, phép nghiệt, hình nghiêm. Chỉ chăm lợi cho thân mình, giàu cho nhà mình, bất chấp hại dân, mất nước. Trong thân tộc, cư xử thiên vị. Hạng hèn kém thì coi tôn quý, hạng xiểm nịnh thì được tin dùng. Khi vui thì thưởng, khi giận thì phạt. Người trung trực khóa miệng, người lương thiện ngậm oan. Thế mà còn kiêu ngạo tự tôn, không sợ mệnh trời, cứ làm việc ác."

Hầu như tất cả người viết sử xưa đều nói việc ban hành tiền giấy là một trong những nguyên nhân bại vong chính của nhà Hồ. Có thể người Việt xưa thời đó không giỏi về kinh tế nên không nhận ra sự lạm phát, chỉ biết là tiền giấy "khó mưu sinh"? (Việc này cũng có thể, khi họ Hồ cho thi thêm cả toán cùng với viết chữ - Mà thời Nguyễn gọi là thi Hoa Văn, trong khi toán số là một trong Lục nghệ mà học trò TQ phải học từ thời cổ đại.)

Việc cố sức thu gom vơ vét nhân vật lực của thời Hồ cũng rõ luôn, khi Hồ Quý Ly hỏi các quan "Làm sao để có 100 vạn quân?", cuối cùng làm sổ ghi hộ tịch từ đứa bé 2 tuổi trở lên, cấm dân lưu vong, dân ở xứ khác bị đuổi về quê quán. Rồi Hồ Hán Thương cũng định xây kho, dùng tiền giấy thu gom lúa gạo...

Có thể là cuối đời Trần, chịu mấy lần Chiêm Thành đánh thì đã hết tiền, mới phải dùng phương cách này. Nhưng cái trò tiền giấy này chẳng phải phát minh mới lạ, cũng chẳng phải "thành tựu kinh tế" gì hết.

Vầng, Trung Quốc là nơi phát minh ra tiền giấy với ý nghĩa đích thực của nó chứ không phải "ngân phiếu", làm tiền đề cho thất bại trước quân Mông Cổ. Hậu quả to béo này bay sang VN, đúng như Nguyễn Trãi nói là chỉ thấy cái lợi cho mình, bất chấp gốc rễ.



---

Nói thêm, tiền giấy TQ ra đời từ thời Đường, khởi sinh từ những bản hợp đồng cam kết giữ tiền của các thương nhân. Do đi lại nhiều, không tiện mang theo tiền đồng, thương nhân gửi tiền cho một số người giữ, rồi làm bản cam kết tượng trưng cho số tiền. Dần dà, một hệ thống ngân hàng được thành lập, tạo ra hệ thống ngân phiếu.

Đến thời Tống, triều đình mới can thiệp vào hệ thống tiền giấy này, lập các xưởng in tiền. Đến thời Nam Tống, tiền giấy có số ghi giá trị, "số serial" kiểm soát đã hình thành. Những triều đại tiếp theo như Nguyên, Minh, Thanh cũng có tiền giấy riêng của mình, sử dụng song song với tiền đồng. Thế kỷ 13, Marco Polo đến triều đình nhà Nguyên, thấy tiền giấy liền ghi lại. Người châu Âu thấy thế bắt chước theo, bắt đầu sử dụng giấy làm ngân phiếu, đến 1661 thì ngân hàng Thụy Điển cho in tờ tiền đầu tiên.

Với lịch sử lâu đời của tiền giấy như vậy, phản ứng của người VN quả là hơi "lạ". Dù rằng tiền giấy không thể thay thế tiền đồng và sử dụng tràn lan thì dễ gây mất kiểm soát, nhưng "bài trừ tiền giấy" với lý do "giấy không có giá trị" và dùng hình thức trao đổi hàng thay thế thì bộc lộ ra rằng nền kinh tế này mang tính chất tự cấp tự túc hơi cao.

Thời Tống, ngoại thương TQ cũng rất phát triển. Ghi nhận được chừng 50 nước có quan hệ buôn bán với Tống như "Ceylon, Langkasuka, Mait, Samboja, Borneo, Kelantan, Champa, Chenla, Bengtrao, Java, India, Calicut, Lambri, Bengal, Kurum, Gujara, Mecca, Egypt, Baghdad, Iraq, Aman, the Almoravid dynasty, Sicily, Morocco, Tanzania, Somalia, Ryukyu, Korea, and Japan". Ghi nhận có Chân Lạp, Champa nhưng không có VN.

Chiều dài của thời Tống trải hết thời Lý cho đến đầu thời Trần, và phản ứng của dân chúng thời Hồ cho thấy người VN vẫn còn xa lạ với thứ gọi là "thương nghiệp". Tuy nhà Hồ có đánh thuế thuyền buôn, nhưng thuyền thượng đẳng cũng chỉ có 5,10 quan thì so với tiền thuế thuyền buôn thời chúa Nguyễn chỉ là... buôn vặt.




NN
Tuesday, December 10, 2013 Author: Trường An

Dòm ngó mấy tác-phẩm lịch sử gần đây, tự dưng ngộ ra cảm giác "người thua thì mất tất". Không những mất tất trong kiếp ấy mà còn bị lôi ra làm đủ thứ trò đời sau, trong khi bản thân họ chả biết là có tội gì, chỉ tại vì... bị giết.

Thượng Dương hoàng hậu tội gì hông biết, chỉ cái tội rõ nhất là không có con nên phải lấy con của Ỷ Lan làm vua, rồi vì "lỡ" làm hoàng hậu rồi thì làm luôn thái hậu, kết cuộc bị đối thủ ngứa mắt phăng teo. Đời sau, hậu nhân rất có duyên, áp luôn cho bà cái tội "thông địch bán nước", làm lý do cho bà Ỷ Lan "hiền đức tài giỏi" giết người.

Đàm thái hậu cũng chả biết là có cái tội gì, ngoại trừ cái tội to nhất là một hai đòi đuổi đòi giết Trần Thị Dung - người sau này vừa giết con bà vừa làm sụp đổ cả vương triều, chưa kể hại luôn con cháu bà. Và hậu nhân cũng rất biết điều gán cho bà cái tội lũng đoạn triều cương, thông địch bán nước, làm cớ cho cặp mèo mả gà đồng kia.

Vầng, và cái tội to nhất của cả hai là làm nạn nhân lót đường cho "vĩ nhân", đối thủ không đem họ ra bêu rếu thì thôi, loại hậu nhân vô lương tâm mặt trơ trán bóng nào tự tiện gắp lửa bỏ tay người, đem đủ thứ tội to nhớn nhất áp được thì áp cho người ta?

Vầng, người thua mất tất, mất luôn quyền được coi là người.




HNĐT
Friday, October 25, 2013 Author: Trường An

Nhân có bạn nói về hôn nhân của nhà Trần, tự dưng nhớ ra một chuyện: Có phải đúng là họ Trần vốn có tục lệ lấy người đồng tộc không?

Các ông từ trước Trần Cảnh đều không tra được vợ, mẹ. Nhưng đến thế hệ Trần Cảnh thì rõ ràng từ Trần Cảnh lấy chị em họ Lý, rồi mẹ của Trần Nhật Duật, Trần Ích Tắc đều không phải người họ Trần. Trần Liễu cũng không lấy người họ Trần. Ngay cả cha của Trần Cảnh là Trần Thừa cũng đi tò te tí với "người lạ" ra Trần Bà Liệt. Đến đời Trần Anh Tông hoặc Trần Minh Tông (lười tra lại quá) cho bãi bỏ chế độ lấy người trong họ, Đại Việt sử ký còn ghi đây là tục do Trần Thủ Độ đặt ra để giữ ngôi cho họ Trần.

Vầng, trong hầu hết tất cả người thế hệ đó, chỉ có Trần Thủ Độ lấy Trần Thị Dung. Liệu đây có phải là cách hợp thức hóa quan hệ loạn luân của 2 người?

Vì xét đến tổ tiên nguồn gốc, người Mân không hề có tục kết hôn đồng tộc. Theo khoa học, họ Trần cũng khó mà lớn mạnh nổi nếu kết hôn lẫn nhau kéo dài. Trần Dụ Tông - thế hệ đồng huyết thứ 4, bị vô sinh, sức khỏe và thần kinh kém. Trần Hiến Tông dù là con của phi họ Lê thì cũng đoản thọ. Từ đó nhà Trần tằng tằng đi xuống dù chế độ kết hôn đồng tộc đã được bãi bỏ. Và sự "bệnh hoạn", yếu nhược của các vua sau cũng ngày càng cao.

Nếu như vậy, mối quan hệ của Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung phải gọi chính xác là loạn luân - ngay cả với quan niệm đạo đức lúc ấy. Cuộc hôn nhân của 2 người cũng ứ có giá trị chính trị gì, chỉ là chuyện riêng tư thôi.

Với 1 người bắt em chồng lấy chị dâu, giết chồng cướp vợ như Trần Thủ Độ, thì việc tự đặt luật tự làm luật cũng dám lắm.

*nhớ đến bộ phim đang chiếu* Vầng, chiện tình đệp tuyệt zời, chỉ còn thiếu mỗi day dứt giằng xé gia đình phản đối xã hội phỉ nhổ đạp qua dư luận đả phá luân thường nữa là đủ bộ òi.

"Vua là gì, do người giành lấy. Đạo đức là gì, do người đặt ra. Ta muốn là được." Trần Thủ Độ chắc phát ngôn zậy đó, tình yêu đã tạo năng lượng cho bác phá mọi trùng vây. Mọi tình thánh trên đời đều chưa ngầu bằng bác.




NN
Friday, October 18, 2013 Author: Trường An

Dẹp chuyện hoa đậu biếc là tầm xuân đi hộ mềnh nhóe. :D Xuất phát từ cái bài "nghiên cứu" ngớ ngẩn nào đó, của 1 người sau khi quay vòng vòng ngó trên trời dưới đất xem có bông hoa nào màu xanh không để mà phét lác. Chỉ cần căn cứ "hoa màu xanh" mà bảo đậu biếc = tầm xuân thì xin lỗi, hoa màu xanh không nhiều nhưng cũng chả hiếm. Có 1 loài hoa mềnh ứ biết tên là gì, nhưng mọc đầu làng cuối bãi ở VN mà màu xanh đấy.

Xét trong ngữ cảnh câu thơ thì "nụ tầm xuân nở ra xanh biếc" nó đã ám chỉ cái sự gì lạ lùng, bất thường, để rồi mới thành "em đã lấy chồng", chứ cái cây đậu tía thì nói làm giề nữa? Mà cái bài này dễ hiểu bỏ xừ đi: Anh còn mê mải làm cái trò hái hoa bắt bướm ở đâu đấy (mà hết leo cây lại đi trèo rào), tình cờ hái một cái nụ tầm xuân - lưu ý, là nụ chớ hông phải hoa. Đến lúc cái nụ hoa này nở thì nó thành cái gì đấy mà anh chả lường được trước, một cái kết quả bất thường đột ngột. Cũng như lúc em "còn không" thì anh chẳng hỏi tới, đến khi em đã lấy chồng anh mới tiếc. Cái sự lỡ làng "hái hoa khi còn đang nụ" này cho kết quả vô cùng chua.

Đem phiên dịch "tầm xuân" thành "đậu biếc" thì có nghĩa lý gì nữa? "Anh" thành cái thằng ngớ ngẩn lúc em lấy chồng thì anh quẫn trí đi lang thang đầu làng cuối xóm à? =))

Chưa kể đến ấy, tầm xuân là tên của hoa tường vi, hoa hồng, đầy nhóc sách nói (ví dụ, Đại Nam nhất thống chí), chứ nó không phải là tên tình cờ đặt ra.

(Mềnh rất nghi ngờ hông biết mềnh với nhiều-người có sống cùng 1 đất nước, cùng thời hông mà lạ thế này? =.= Mềnh biết hoa tầm xuân, tường vi là hoa hồng từ bé cơ mà. Tại xao lại thế (hỏi nghiêm túc)?)

Kể ra thì, mấy cái nghiên cứu vớ vẩn thời này nhiều lắm. =_= Ví dụ như này: Công chúa Long Thành. Mềnh chưa túm được cuốn Lịch sử Phật giáo nên hông dám nói gì, nhưng nghe là mềnh đã ngửi thấy mùi ba xạo. =))

Không biết cái xì tai "chế biến kiểu hoang tưởng" này mới là sản phẩm gần đây hay là có truyền thống từ xưa. Nếu có "truyền thống" từ xưa thì sử sách VN chắc không đúng được 20% âu. =)) Sử gần sách gần, sách vở nhan nhản đầy đủ mà đã thế này.

---

Nhìn qua phim Trần Thủ Độ, tiếp tục gai ốc nổi đầy người vì cái bản nhạc đầu phim theo xì tai opera Nga =__= (hỏi thiệt là có bị khùng hông vậy?).

Ờ, nói thiệt là phim rất đặc-trưng Bắc-VN, ở chỗ không gian hẹp, người thì tủn mủn. Hình như người làm phim hông nắm được đặc trưng cái thời ấy, khi mà mỗi lãnh chúa chiếm 1 vùng, quan lại còn theo chế độ phân phong đất đai. Ngay cả họ Trần bảo là 1 cái họ thôi nhưng đem quân họ Trần giúp vua được luôn, thực chất "họ Trần" này là một tổ chức nho nhỏ kiểu địa chủ, lãnh chúa mới làm được thế (Nhìn lại họ Mạc ở Hà Tiên, chính là thế đó).

Ờ... giống như mấy bộ phim về thời Lý, mọi sự cứ thế mà tủn mủn - đi coi cung đấu của Tàu còn phức tạp với không gian rộng hơn.

Ờ, mà vì thế nên mềnh nghi ngờ "3 con đom đóm" sẽ đơn giản là bị đẩy cái éo sang "quân phiến loạn" cho đỡ mất công. =))

---

Nhắc đến nhạc phim tự dưng nhớ ra 2 người mà nhạc ứ liên quan gì tới phim: Dương Bội Bội với Vu Chính. =)) Nhạc của DBB thì phóng khoáng mạnh mẽ, trong khi phim sến rện. Nhạc của VC thì toàn nhắc tới Phật, trong khi...

Ai khen bộ Tân Lưu tinh hồ điệp kiếm của TQ làm chứ mình không nuốt nổi nhóe. Bảo VC sến chứ ai chế cái phim ấy có trình sến làm mình ớn lạnh gấp mấy lần. Cộng thêm sự thâm-trầm "tỏ ra nguy hiểm" đặc trưng của phim TQ thì phong vị Cổ Long bay mất tích luôn.




NNN
Thursday, October 17, 2013 Author: Trường An

Cái này gọi là dìm hàng tới chữ cuối cùng. :)) Quả nhiên dìm hàng bợn xong rồi thấy tâm trạng khá lên hẳn. =))

---

Chơi tới level 110 òi mà đâm xì trét vì đống bom kẹo quá thể. X_X Mấy cái quest cũng bực mình. Đi tìm cheat cho iOS hơi phiền, mà xài cheat thì chơi làm gì? x__x

---

Tới giờ mới để ý Hiếu Khang hoàng hậu mẹ Gia Long là con cháu nhà Mạc (vua Mạc chứ hông phải Mạc HT), ban quốc tính là họ Nguyễn thôi. XD

Lý giải cho tại xao gia phả họ Mạc ở Quảng Nam lại ghi là bị Tây Sơn truy sát. Đùa chớ đến người chết còn hông tha thì họ ngoại tất nhiên bị liên lụy. Mà có khi Gia Long đem họ ngoại Cảnh Thịnh (họ Bùi) ra xử hết cũng vì chuyện này.

(Nghĩ tới lúc trước nghe 1 bạn nào đó bẩu họ (vua) Mạc ở phía Nam bị nhà Nguyễn truy sát thiệt là... kinh hãi. =)) Trăm dâu đổ đầu tằm, con cháu mà đọc sử không cẩn thận thì xoen xoét chửi tổ tiên, nhận giặc làm cha như chơi.)





Copyright © Trường An. All rights reserved.