Solitude

.Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ. Đài mây trôi dạt phách hồn xa. More...

TS – LC&ĐV – 4
Thursday, September 21, 2017 Author: Trường An

I. Diễn biến

1. Ngư ông đắc lợi

Có 1 câu nói của Đặng Đức Siêu được nhà sử học sử dụng như 1 cách "khoe" thanh thế Tây Sơn hay về sự "bao dung" của Nguyễn Phúc Ánh là giữa lúc tình hình chiến tranh căng thẳng, Đặng Đức Siêu đã nói "Anh em Tây Sơn chỉ là kẻ áo vải nhưng cất tay kêu gọi được vạn người".

Sự tình là... quả nhiên chẳng thể nào đọc sử Việt Nam cắt đầu cắt đuôi, vì câu nối tiếp sau đó là "vì chúng gian ngoan dối trá".

Thật ra, sự "gian ngoan dối trá" này là nhận xét chung của tất cả các đối thủ dành cho Tây Sơn - bất kể là ai lãnh đạo. Khi nhìn lại toàn cảnh thì câu nói của Đặng Đức Siêu thật thần kỳ đã tóm gọn được tất cả nguyên nhân thành công lẫn thất bại của Tây Sơn.

Ban đầu khi nổi dậy chẳng rõ Tây Sơn đã giơ chiêu bài "Phù Đông cung Dương diệt Trương Phúc Loan" hay chưa, sử Nguyễn cũng im ỉm điều này vì nhiều lý do. Nhưng trong Hoài Nam khúc thì rõ ràng Tây Sơn đã khởi loạn bằng chiêu bài "Phù minh diệt ám tiếng vang". Tác giả Hoài Nam khúc lúc ấy còn chưa biết Đông cung Dương sau lọt vào tay Nguyễn Nhạc, vẫn còn hô hào "theo Đông cung", như vậy khả năng này rất lớn. Điều này cũng phù hợp với việc Định vương Nguyễn Phúc Thuần không thể ở lại Quảng Nam mà phải lập Nguyễn Phúc Dương làm Đông cung để lãnh đạo chống Tây Sơn. Như vậy, lần phù trợ thứ nhất của Tây Sơn: Phù Nguyễn.

Theo dư luận thì Nguyễn Nhạc đã đi gọi quân Trịnh vào, nhưng thật ra chẳng cần ai gọi quân Trịnh cũng đánh. Phía Nam thì Xiêm La đang đánh, khúc giữa đang loạn lạc, cơ hội tiêu diệt Đàng Trong rõ như thế cơ mà. Cho nên, trong khi quân Nguyễn sau vài trận xang bang bắt đầu thắng Tây Sơn ở Quy Nhơn, đang bao vây Quy Nhơn, quân Trịnh đánh vào, tiến thẳng từ Trấn Ninh đến Phú Xuân đang còn trong ngày tết, khiến Định vương phải cuống quýt bỏ chạy. Vậy là đội quân Nguyễn ở Thuận Quảng chẳng làm gì cũng vỡ. Dư luận thì "đổ thừa" Nguyễn Nhạc âm mưu giăng lưới, nhưng có vẻ Tây Sơn ở trong thế ngư ông may mắn hơn.

Ngày ấy, Quảng Nam đang chết đói, "trong cảng không còn 1 con gà con vịt" - cảnh tượng này còn kéo dài đến tận gần Vũng Tàu, nơi thuyền Anh đến thấy dân chúng chỉ còn có thể vớt rong biển ăn, chết đói hơn phân nửa. Cho nên trận chiến ở Quảng Nam đơn giản là Trịnh đối đầu Tây Sơn chứ "dân chúng" chỉ còn là vai phụ. Nguyễn Phúc Dương tình cờ sao lọt vào tay Nguyễn Nhạc, "được" Nguyễn Nhạc gả em gái cho, vậy là giả danh (tạm thời) biến thành chính danh, để sau này ông thư lại của Nguyễn Huệ lúc đánh Quy Nhơn hùng hồn kể "Không tội gì lớn bằng giết vua". Phù Nguyễn +2, lần này quả thật là chính danh rành rành.

Nhưng rồi Nguyễn Phúc Dương bỏ trốn, bị giết ở Gia Định. Tây Sơn thua ở Quảng Nam, nhận chức phong của Trịnh, thấy quân Hoàng Ngũ Phúc rút khỏi Quảng Nam vì dịch bệnh thì chạy lên chiếm, quân Trịnh cũng để yên. => Lần 3, theo Trịnh.

Vậy là yên ổn phía Bắc, Tây Sơn chỉ còn lo đối phó phía Nam. Nguyễn Phúc Ánh đem quân Đông Sơn về Gia Định, kết nối với Châu Văn Tiếp ở Phú Yên, có lúc đánh chiếm đến tận gần Phú Yên. Đây là khoảng thời gian Nguyễn Nhạc đi kêu gọi người Anh đến để tìm cách mua vũ khí lẫn sự hỗ trợ, đổi bằng "vài cái cảng biển". Theo ông sứ Anh quan sát khi đến Quy Nhơn lúc này thì ở đây không có cảnh tượng chết đói thê thảm như các vùng khác, trái ngược với cảnh ở Vũng Tàu "thuyền Tây Sơn đến đánh Gia Định đi qua đây đã cướp hết tất cả những gì để ăn của họ".

Ở Gia Định thì Cù lao Phố đã bị đốt cháy, Nguyễn Phúc Ánh đưa dân chúng đến sống ở Sài Gòn, có khi bị thuyền Tây Sơn bao vây khiến gạo không có mà ăn. Sử gia nào đó chắc gọi đây là phương cách "tiêu diệt sinh lực địch", còn thực tế thì chỉ khi Nguyễn Phúc Ánh tung quân lên chiếm Bình Thuận, tiến sát Phú Yên thì Gia Định mới được giải vây, dù phương cách ấy bị Nguyễn Văn Thành chê trách "Bình Thuận chiếm dễ giữ khó", phân chia quân ra để rồi không ứng phó kịp khi cần thiết.

Nhưng Gia Định thì cũng chẳng yên bao giờ. Ba Thắc mới bị chiếm 20 năm trước thấy động lại vùng lên, căng thẳng với Xiêm dằng dai ở Chân Lạp. Vậy là 2 bên cầm cự nhau để củng cố lực lượng, Nguyễn Phúc Ánh - Đỗ Thanh Nhơn thì lo đánh đông đánh tây bình định Gia Định, Tây Sơn thì lo tìm lực lượng củng cố sức mạnh của mình.

Nhưng làm ngư ông cứ kiên nhẫn buông cần thì thế nào vận may cũng tới, trong 1 Gia Định rối như canh hẹ thì đội quân của Nguyễn Phúc Ánh cũng rối như canh cá, Nguyễn Phúc Ánh giết chết Đỗ Thanh Nhơn, biến đồng đội thành đối thủ. Tây Sơn nghe tin tiến đánh, quân lực Châu Văn Tiếp đóng ở Bình Thuận không về kịp, Nguyễn Phúc Ánh chạy ra biển. Nhưng Châu Văn Tiếp với đội quân Lương Sơn xứ Phú Yên xa tít tắp sao quản được Gia Định, vậy là... tiếp tục thua. Nguyễn Phúc Ánh chạy qua Xiêm, vậy là Tây Sơn chiếm được đến Gia Định.

Cũng thật là tình cờ run rủi của tạo hóa, ở Đàng Ngoài đúng lúc này chúa Trịnh Sâm chết, 2 ông con trai tranh giành ngôi chúa với nhau, giết luôn ông Quận Huy trấn thủ Nghệ An. Trịnh rút quân ở Thuận Hóa về, Tây Sơn lên chỉ nã pháo 1 trận đã chiếm được Phú Xuân. Quân Trịnh ở Phú Xuân chuyên dỡ nhà làm củi đốt, dân ghét đánh đuổi thêm. Và rồi, 1 ông "thầy dùi" xuất hiện: Nguyễn Hữu Chỉnh.

Lo đánh ra Đàng Ngoài xa lạ không biết đường? - Đã có Nguyễn Hữu Chỉnh thống lãnh đội quân. Lo dư luận Đàng Ngoài không thuận, lực lượng Trịnh quá mạnh? - Đã có Nguyễn Hữu Chỉnh vẽ lối, cứ xài chiêu "phù Lê" của chúa Nguyễn đi. Nói chung tất cả vấn đề, xung đột của Trịnh đã nói trước được Nguyễn Hữu Chỉnh tận dụng triệt để. Trịnh Khải phải đích thân mặc giáp dẫn quân ra khỏi thành, chưa đánh được trận nào, chỉ nghe quân địch tới là quân bỏ chạy hết sạch. Nguyễn Huệ vào bái kiến vua Lê, nhận tước phong, cưới công chúa. => Lần 4, phù Lê.

Vậy là Tây Sơn "thống nhất" đất nước dưới danh nghĩa triều Lê, bằng 1 quá trình mà nói đến là các địch thủ nghiến răng trèo trẹo "đồ dối trá gian ngoan". Và rồi, con đường này để lại hậu quả khôn lường cho Tây Sơn, chưa cần đến lúc anh em đánh nhau. Đó là, diễn dịch ý của Đặng Đức Siêu: lực lượng của Tây Sơn là do "gian dối" mà có. Đó là những nhóm phù Nguyễn, phù Trịnh, phù Lê, hay chính bọn họ cũng âm mưu lợi dụng Tây Sơn như Nguyễn Hữu Chỉnh. Thậm chí với tư cách 1 lực lượng địa phương, trận đánh của anh em Nhạc Huệ cũng làm phân rã nhóm này, là sự "phản bội" cuối cùng với toàn bộ những gì Tây Sơn đã từng bắt đầu. Để rồi đến ngày tan rã, toàn bộ quan quân Tây Sơn bị bắt giết bởi chính những lực lượng này. Thậm chí cả gần nửa thế kỷ sau con trai Nguyễn Nhạc vẫn bị chính người Quy Nhơn tố cáo cho triều đình Nguyễn.

Sự "thành công" của Tây Sơn thực chất nằm ở "nội lực" của nhóm người này thì rất yếu, khi từ đầu đến cuối Tây Sơn chưa hề xây dựng được bất cứ danh nghĩa nào cho mình, thậm chí đến khi Nguyễn Huệ xưng hoàng đế mà vẫn còn phải để Ngọc Hân đứng danh nghĩa ca bài "Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương"; đến cuối cùng, Tây Sơn vẫn chỉ còn lại nhóm người Quy Nhơn sống chết. Ngược lại, toàn bộ chiến thắng của Tây Sơn nằm ở sự phân rã của chính đối thủ - Thậm chí, Tây Sơn dựa vào sự hận thù, phân rã này để "tiến lên".

Thậm chí, Tây Sơn còn chẳng tạo dựng được 1 "cơ sở" mới để người ta tin tưởng. Dưới danh nghĩa "tiêu diệt sinh lực địch", Tây Sơn hủy hoại hết sạch mọi cơ sở của "địch" - chính là toàn bộ nước VN. Ở đây, cả người viết sử lẫn Tây Sơn dưới con mắt địa phương bè phái đã coi mọi chuyện "như không phải của mình" - Một lần nữa, nhắc nhớ rằng Tây Sơn vốn chẳng hề có 1 tư-tưởng-quốc-gia như có người lầm tưởng. Họ không hề coi "những gì thuộc về địch thủ" vốn là đất của mình, dân chúng, quốc gia của mình, chỉ như thế họ mới có thể phá hoại thản nhiên đến vậy - Và cuối cùng, khi xây dựng quốc gia trên mảnh đất tan hoang đó, họ phải lãnh toàn bộ hậu quả của những gì mình làm.

"Thành quả" xây dựng của Tây Sơn có lẽ chỉ nằm ở mảnh đất Quy Nhơn của Nguyễn Nhạc - đây là vùng duy nhất không phải nếm trải nạn đói nào trong suốt 30 năm chiến tranh. Còn lại, mọi nơi Tây Sơn đi đến chỉ thấy nạn đói bùng nổ, những ghi chép bên lề hay tài liệu hành chính, dân sự nào trong thời kỳ ấy đều cho thấy sự tan tác, phân rã, tuột dốc thảm hại của toàn bộ nền kinh tế. J.Barrow vào Đà Nẵng năm 1798 chỉ thấy 1 vùng đất đói nghèo thảm thương, tài liệu dân cư của Huế thời Nguyễn Huệ cho thấy thương buôn bỏ chạy hay trốn đi nhiều đến mức cả hệ thống phố chợ chỉ còn vài chục người, Đàng Ngoài kinh tế đã yếu thì sau khi thương buôn TQ, dân khai mỏ TQ bỏ chạy thì càng không phải nói.

Không phải cứ đưa ra chiếu khuyến nông là người ta hóa phép ra lúa, cũng như không phải bảo đi mời tàu buôn là người ta vào. Như đã nói trên, Tây Sơn không hề ý thức được những "tài nguyên" vốn sẽ nằm trong tay mình, và đã "tận lực" phá không cho ai đường lùi. "Tiêu diệt sinh lực địch" hay là hủy hoại tương lai của chính mình?

Thậm chí việc sử dụng mâu thuẫn và đổ vỡ trong đối thủ của Tây Sơn cũng đóng vai trò rất thụ động. Với vai trò của 1 lực lượng mới nổi lên, họ nhanh chóng được các phe phái lôi kéo vào trong mâu thuẫn của họ, vào thời điểm mà đối phương yếu nhược nhất. Và rồi, Tây Sơn ngồi chờ các bên kia đánh nhau để rồi nhảy vào cuối, trong cuộc mâu thuẫn mà hầu như chả liên quan gì đến mình.

Như vậy, Tây Sơn phát triển ra ngày càng lớn bằng cái hạt nhân mỏng manh yếu ớt. Lợi dụng các thế lực đấu đá nhau, Tây Sơn chiếm được đất và người, dùng quyền lực để sử dụng số tài nguyên thu được ấy mà lớn mạnh, đủ để quay ngược trở lại tiêu diệt kẻ đã đưa mình lên đỉnh vinh quang kia. Nhưng quyền lực ấy, một khi tan rã, thì đã ném Tây Sơn trở lại với bản-chất của mình - Là 1 trong số bè phái ở trong đất nước VN lúc ấy.

Lợi dụng danh nghĩa, khoác lên mình quá nhiều danh nghĩa, nghĩa là chẳng hề có cái danh nghĩa nào. Tây Sơn chẳng hề đại diện cho bất cứ thành phần nào của đất nước, ngoại trừ những kẻ có lợi ích chung trong nhóm. Ngay cả tiếng tăm "vì dân" đầu tiên cũng ngay lập tức bị Hoài Nam khúc mắng thẳng "Cờ xướng nghĩa ngậm hờn thằng Nhạc", và ngày càng chẳng còn trong những bước tiến bằng cách hủy hoại "đối thủ" của Tây Sơn. Thậm chí, đến cả danh nghĩa "Quy Nhơn" cũng không còn khi anh em đánh giết nhau.

Như vậy, đến khi Nguyễn Huệ ngồi lên ngôi vua, chẳng còn cách nào khác là lại giương lá cờ "Phù Lê", lại phải nhờ đến vài ông sĩ phu bị bỏ rơi ở Bắc Hà làm chỗ dựa lẫn xây dựng cơ cấu - danh nghĩa cho mình. Như vậy, 1 đất nước đã bé mà lại còn "phân phong theo chế độ nhà Chu", cho mỗi vùng biến thành 1 tiểu quốc, 1 vùng tự trị dưới danh nghĩa 1 ông vua con. Thành quả của sự lợi dụng "khủng hoảng quyền lực" cuối thế kỷ 18 ở VN của Tây Sơn là 1 cuộc khủng hoảng quyền lực khác, vỏ mới rượu cũ - thậm chí lần này là rượu độc. Một lực lượng nhờ gian trá, lừa gạt và hủy hoại mà thành công, thì đã tập hợp được quanh nó kẻ thù không hề nhỏ. Số người phân tán này, chỉ cần tìm được 1 danh nghĩa, 1 thế lực đủ để tập hợp họ lại.

Cuộc chiến quyền lực trên đất nước VN kéo dài hàng thế kỷ đã đưa đến 1 kết quả là Tây Sơn, kẻ đã sử dụng cái phương thức "mượn danh quyền lực" đến độ nhuần nhuyễn nhất - kẻ vừa là kết quả vừa là "thành phẩm" của toàn bộ cuộc khủng hoảng này. "Ngư ông đắc lợi" là cái vỏ ngoài của sự kiện, nhưng ở bên trong, hãy nhớ đến ngày mà Lê Uy Mục dựa vào lực lượng vùng Đông Bắc cướp ngôi, Mạc Đăng Dung cướp ngôi triều Lê, họ Trịnh trước chiếm quân Nguyễn sau chiếm triều Lê... Để rồi, tận cùng của sự rối loạn, đỉnh cao của sự vô luân, cực điểm của trò gian dối của lịch sử, là sự tồn tại của 1 chính quyền... chẳng hề đại diện cho bất cứ thành phần nào của đất nước.




TS – LC&ĐV – 3
Saturday, August 26, 2017 Author: Trường An

I.3. Tổng kết

Vấn đề ở VN cuối thế kỷ 18 có thể tạm tổng kết với 2 yếu tố: tính địa phương và tính quyền lực. Các yếu tố khác như ảnh hưởng nước ngoài, tôn giáo, kinh tế tạm thời bỏ qua.

Về tính địa phương, đây có lẽ là chuyện phải truy ngược lại... cả ngàn năm trước. Thời mà vua Lý phải đi đánh đông dẹp bắc, gả công chúa cho các tù trưởng miền cao để kết thân, hay thậm chí trước nữa, vào lúc là Lê Đại Hành phải đi chinh phạt "giặc Cử Long", đánh dẹp người châu Hoan nổi dậy - cũng là trận chiến đầu tiên đánh dấu cuộc thảm sát diện rộng trong chiến tranh của người Việt. Từ 1 vùng đất "ngoại biên" mà TQ thu làm thuộc địa, các nhóm người nhỏ lẻ hình thành, các thế lực nhỏ ở địa phương phát triển. Và rồi, nhân lúc vùng nội địa TQ chia 3 rối loạn, các nhóm này tập hợp nhau lại giành lấy chính quyền - Để rồi cái khối này lại tiếp tục tan vỡ thành "12 sứ quân". Đinh Bộ Lĩnh tập hợp được 1 số tổ chức để tiêu diệt số tổ chức còn lại, lập nên triều đại của mình. Và rồi nhà Tiền Lê cùng nhà Lý một đằng phải tìm cách bình định các nhóm người xung quanh, một đằng phải tìm cách liên kết họ lại. Qua hàng trăm năm, qua cả các cuộc chiến chống Tống, chống Nguyên Mông, có thể nói sự liên kết ở phía Bắc đã hơi ổn định. Nhưng ở phía Nam thì là 1 câu chuyện khác.

Trong xung động chính trị ở TQ, rất nhiều nhóm người, tộc người đã đi xuống phương Nam, và vùng Thanh Nghệ là 1 địa điểm tập trung khá đông của họ. Theo gia phả họ Trịnh, chúa Trịnh có tổ tiên là người Vân Nam, cũng như Hồ Quý Ly tự nhận tổ tiên TQ. Vùng đất này lại là nơi thường xuyên xảy ra chiến tranh với Chiêm Thành, Chân Lạp, yêu cầu nhà nước phải đặt sự giám sát nghiêm ngặt ở đây. Vậy là, những người sống ở "vùng biên giới" này, hay chỉ đơn giản là địa phương này luôn luôn xuất hiện với vai trò quan trọng trong lịch sử.

Không cần phải đợi đến thời Lê, trước đó ta đã thấy Trần Nghệ Tông dùng lực lượng thổ mục ở Thanh Hóa để quay về Thăng Long chiếm ngôi, và rồi dùng Hồ Quý Ly người Nghệ An - Những động thái có thể đã góp phần khiến các thế lực họ Trần khác quay lưng. Trong 3 lần Chiêm Thành tiến đánh Thăng Long, sự chống cự của họ Trần chỉ thấy xuất hiện ở 1 vài người. Khi cướp ngôi họ Trần, Hồ Quý Ly cũng đồng thời tỏ ý muốn thoát ly khỏi Thăng Long - 1 ý định mà hầu như các triều đại sau đều có, dù có thực sự rời khỏi hay không. Nhà Lê đổi tên Thăng Long thành Đông Kinh, để vùng thang mộc của mình thành Tây Kinh, có thể là tìm cách để cân bằng cho chính mình.

Đất nước VN mở rộng bằng hành trình Nam tiến, và trung tâm quyền lực cứ thế mà chuyển dần xuống phương Nam. Đồng thời, nó tạo ra sự nứt vỡ giữa các vùng.

Lê Thái Tổ đã chọn ấu chúa nối ngôi với sự giúp đỡ của các quyền thần nắm giữ thế lực Thanh Nghệ, và Lê Thái Tông 1 khi đụng chạm đến thế lực ấy đã phải trả giá đắt, để người con trai có họ ngoại Thanh Hóa lên nối ngôi. Lê Nghi Dân dựa vào thế lực khác cướp ngôi, bị các tướng Thanh Hóa hợp lực giết chết. Lê Thánh Tông dùng thế lực Thanh Hóa của người cha vợ Nguyễn Đức Trung để chinh phạt và củng cố quyền lực của mình, để Lê Hiến Tông hoàn toàn không có 1 người phi Thanh Hóa nào - Dẫn đến kết quả Lê Túc Tông chết sau 6 tháng, Lê Uy Mục cướp ngôi, và cuộc rối loạn dằng dai đẩy triều Lê vào diệt vong - Để 1 vị vua người Hải Dương lên ngôi.

Và rồi, người phía Nam tiếp tục phản kháng, cuộc chiến Lê - Mạc hay còn gọi là cuộc chiến Nam Bắc triều mới thể hiện rõ tính chất này. Họ Mạc thua trận, nhưng ngay cả chính sử của Trịnh vẫn phải thừa nhận "dân theo nhà Mạc" để họ Mạc còn làm vua ở phương Bắc thêm được mấy đời. Còn họ Trịnh, lập triều đình ở Đông Kinh, tiếp tục rơi vào cái bẫy của nhà Lê thuở trước.

Ở Đàng Trong, sự tình còn phức tạp hơn. Chiêm Thành là 1 quốc gia theo chế độ mandala, cho nên các tiểu quốc nhỏ có sự phân biệt với nhau. Họ Nguyễn xuống châu Ô, Lý vốn đã được 1 số dân khá nhiều qua mấy trăm năm, tiếp quản vùng đất mà Lê Thánh Tông chinh phạt bằng cuộc thảm sát mang tính diệt chủng, và rồi tìm cách chinh phạt để lấy sự ổn định cho mình. Từ lúc chúa Hiền đánh Panduranga, đưa người đến Đông Phố chỉ cách thời Tây Sơn nổi loạn chưa đến trăm năm. Ở Gia Định, ta thấy quân Long Môn do họ Trần lãnh đạo thực hiện các cuộc chinh phạt Chân Lạp, bảo vệ Gia Định với sự hỗ trợ từ Hà Tiên. Ở Bình Thuận, ta thấy phiên vương của triều đình Chiêm Thành buộc phải liên tục báo cáo sự quản lý về cho chúa Nguyễn, nằm dưới sự giám sát của dinh quân đóng tại Diên Ninh.

Quy Nhơn là phủ trực thuộc dinh Quảng Nam, và điều khá "lạ lùng" là ngoại trừ việc liên quan đến Trần Đình Ân, Quy Ninh chỉ được nhắc tới vài ba lần trong cả trăm năm - kể cả cuộc nổi loạn của Linh Vương. Cho đến tận năm 1751, khi Võ vương thực hiện cuộc cải cách hành chính, điều này mới hé lộ: Quy Nhơn có 13 thuộc - các thuộc là tập hợp các hội nhóm từ các thổ mục cho đến nhóm người đi cắt cỏ - và các thuộc này cho đến tận lúc ấy mới được đặt quan trông coi.

Nhắc đến Linh Vương, lại có thể cần lưu ý thêm 1 việc: Linh Vương đã nổi loạn ngay sau khi Nguyễn Hữu Oai - cháu ngoại thừa kế duy nhất của Trần Đình Ân - Đào Duy Từ vừa tử trận ở Phan Rang.

Như vậy, ta có thể thấy Đàng Trong chia làm 4 khu vực khá rõ ràng: Thuận Hóa nằm dưới sự quản lý trực tiếp của triều đình chúa Nguyễn, Gia Định là hỗn hợp quản lý của họ Nguyễn và nhóm người Hoa di cư, Phú Yên, Bình Thuận thuộc quản lý của họ Nguyễn và vương Chiêm Thành, Quảng Nam tới Quy Nhơn là "đặc khu kinh tế" mà Lê Quý Đôn cho biết "tất cả đồ ăn dùng của Thuận Hóa đều do Quảng Nam cung cấp" - Quảng Nam ở đây phải hiểu là dinh Quảng Nam quản lý cả 3 phủ, được nước ngoài gọi là "Quảng Nam quốc".

Và cũng giống như Thanh Nghệ, những vùng "giáp nối" bao giờ cũng là khu vực nhiều rối loạn nhất.

Cuộc cải cách hành chính của Võ vương, bắt đầu chỉ 20 năm trước khi Tây Sơn nổ ra, có thể cũng đã gây ra cùng 1 hiệu ứng cùng nguyên nhân như cuộc cải cách hành chính của Minh Mạng sau này: Nó đã can thiệp vào quyền lực của các nhóm địa phương quá mức. Sắp đặt hệ thống quan lại quản lý toàn bộ các thuộc trước đó đều là tự quản, nơi bị tác động nhiều nhất không gì khác hơn là nơi nhiều sắc dân, bộ tộc và diễn biến phức tạp nhất toàn Đàng Trong: Quy Nhơn.

Ngay cả ở Gia Định, nơi thường được cho "trung thành tuyệt đối với họ Nguyễn", ta cũng thấy sự lạnh nhạt kỳ lạ với chúa Nguyễn. Khi bị Tống Phúc Hiệp tiến đánh, Nguyễn Lữ đã đưa đội thuyền vòng xuống đánh Gia Định - và đội quân của Định vương Nguyễn Phúc Thuần thua ngay lập tức phải bỏ chạy. Chỉ khi Đỗ Thanh Nhơn đưa quân Đông Sơn đến, Tây Sơn mới lui. Khi quân Hòa Nghĩa đến, quân Đông Sơn bất mãn bỏ rơi chúa Nguyễn. Đến cả khi phù trợ Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, mâu thuẫn vẫn xảy ra đến mức Nguyễn Phúc Ánh giết chết Đỗ Thanh Nhơn, hơn nửa đạo quân Đông Sơn làm phản. Ngay cả ở Hà Tiên, phản quân cũng giết chết công nữ Ngọc Đảo.

Điều này cho thấy, nếu quân Tây Sơn thực sự không "quá quắt" với Gia Định, chưa chắc họ đã đứng bên cạnh chúa Nguyễn. Từ cuộc chiến đầu tiên khi Nguyễn Lữ đến cướp phá Cù lao Phố, người Gia Định tập hợp bên Đỗ Thanh Nhơn chỉ nhằm 1 mục đích đuổi Tây Sơn.

Như vậy, Việt Nam từ Bắc đến Nam cuối thế kỷ 18 là những khối địa phương nằm dưới sự quản lý của 2 nhà chúa, dưới danh nghĩa của nhà Lê hữu danh vô thực. Rồi đến lượt sự mập mờ về quyền lực này tạo thành hậu quả khác là những cuộc nổi loạn cả trong lẫn ngoài triều đình.

Từ cái ngày mà Mạc Đăng Dung cướp ngôi họ Lê, họ Nguyễn mượn cớ tôn phù vua Lê để dấy binh ở Thanh Nghệ, rồi họ Trịnh lại "mượn danh" trước lấy quân đội của họ Nguyễn, sau đoạt quyền vua Lê - Lịch sử Việt Nam từ đó trở đi là những cuộc tranh đoạt quyền lực không hồi kết, mà tất cả những người họ Trịnh, Nguyễn hay Lê cũng có thể đều chỉ là 1 quân cờ. Nhiều người nhìn lịch sử quá chú trọng vào tính cá nhân, nhìn vào mỗi 1 "ông này ông kia lãnh đạo" mà quên rằng tất cả bọn họ đều chỉ là sản phẩm của thời cuộc. Nói cách khác, thứ quan trọng không phải là họ, mà là những kẻ ở dưới họ.

Cho nên, trong triều đình họ Trịnh, hết vị vương tử này đến vị vương tôn kia âm mưu nổi loạn với sự giúp đỡ của các vị quan, để rồi các chúa Trịnh ôm lòng nghi ngờ cực độ đến bất cứ vị quan nào nắm giữ quá nhiều quyền lực. Kết quả, sự trọng dụng của chúa Trịnh với các hoạn quan có khả năng là vì hoạn quan không có người kế vị, do đó khả năng làm phản cũng vô cùng yếu. Trong vùng đất Đàng Ngoài, hết vị hoàng tử đến hoàng tôn kia âm mưu lật đổ chúa Trịnh, để chúa Trịnh giết hết người này đến người khác, vẫn để lọt ra vài người trốn vào núi nổi loạn. Sau khi họ Mạc đã được dẹp yên, đến lượt dân vùng ven biển nổi loạn, tin theo "điềm tiên tri" sao trăng gió mây nào đó.

Tương tự, trong vùng đất Đàng Trong, hầu như tất cả đời chúa Nguyễn đều phải đối phó với vương tộc nổi loạn, kết hợp với các cuộc tấn công của Chiêm Thành, sự rối loạn của các thương nhân, chiến tranh với Xiêm La - Chân Lạp.

Cuộc khủng hoảng về quyền lực, hay có thể coi là cuộc khủng hoảng cả về đạo đức, khi người ta tin rằng có thể lật đổ bất cứ ai, bằng bất cứ thủ đoạn nào - hay là bằng cách "mượn danh chính nghĩa", nho nhỏ thì là phù trợ mấy ông vương tôn cướp ngôi, lơn lớn thì là mượn vai vua chúa lấy nước. Trong một đất nước quá nhiều sự phân chia, quá nặng tính địa phương, tính cá nhân, bè phái, cuối cùng đã đẩy tất cả vào tử lộ.




TS – LC&ĐV – 2
Monday, August 21, 2017 Author: Trường An

I.2. Đàng Ngoài

Để nói về Đàng Ngoài, trước tiên có lẽ cần chú ý đến tình hình chính trị xã hội của nó. Trong đó, cần chú ý đến 1 điểm đặc biệt: Nạn đói xảy ra ngày càng dày đặc. Theo Đại Việt sử ký toàn thư và Cương mục,những năm ghi "đói" là: 982, 1042, 1156, 1208, 1268, 1290, 1291, 1292, 1301, 1310, 1320, 1333, 1337, 1343, 1344, 1354, 1358, 1379, 1405, 1408, 1409, 1447, 1467, 1487, 1490, 1492, 1512, 1517, 1557, 1559, 1572, 1577, 1585, 1586, 1589, 1594, 1595, 1596, 1608, 1629, 1630, 1634, 1679, 1681, 1694, 1695, 1702, 1703, 1712, 1713, 1724, 1728, 1740, 1741, 1753, 1757, 1758, 1768, 1774, 1776, 1777, 1778, 1786, 1788, 1790. Mà hễ đói là có cảnh "dân nằm chết gối lên nhau", "thây chết đầy đường". Những năm 1594 - chết 1/3, 1596 - chết quá nửa dân số, năm 1723 "số dân 10 phần không còn lại một".

Ngay cả năm 1681, nạn đói mà trong Sử ký chỉ ghi đơn giản "đói" thì John Barrow, con lai Anh-Việt sống cả thời thơ ấu ở Đông Kinh miêu tả "nạn đói kinh khủng đầy tai họa - như nạn đói đã tước đi hàng triệu linh hồn trong hai năm trước".

Trong cả ngàn năm, Đàng Ngoài chỉ 21 năm có ghi "được mùa to". Và cần chú ý 1 điểm rất đặc biệt: Nạn đói dồn dập xảy ra từ nửa cuối thời Trần trở đi, trở nên trầm trọng vào thời Lê, và "kinh khủng" vào cuối đời Lê Trung Hưng. Ngay cả trong thời thịnh trị của Lê Thánh Tông, Cương mục vẫn tổng kết lại có "11 lần hạn hán, 6 lần thủy tai, 4 lần có nạn đói".

Trong sử Nguyễn, khi ghi chép về công cuộc trị thủy, các quan nhà Nguyễn đã có 1 nhận xét đáng lưu ý: Hệ thống đê điều của điền trang thời Trần được xây dựng tự phát đã tạo áp lực lên dòng chảy của nước, khiến sức nước tụ lại, cuộn xoáy bất thường và có thể dễ dàng phá nát 1 điểm xui xẻo nào đó hứng phải sức mạnh của nó. Rồi đến lượt mình, các nơi khác buộc phải xây đê đắp đập để tự bảo vệ mình trước sức nước tụ dồn kia. Qua thời gian, hệ thống đê điều loạn xạ này đã đẩy toàn bộ sức ép xuống vùng hạ nguồn dòng sông. Điều này có thể lý giải cho những nạn thủy tai mà vùng đồng bằng Bắc bộ phải gánh chịu.

(Dù cả triều Nguyễn lẫn Pháp đã cố gắng cải thiện hệ thống đê, đào thêm sông thoát nước, miền Bắc vẫn có những nạn đói đáng lưu ý như trận lụt năm 1910, 1956... Những người sinh vào khoảng 1950-1970 vẫn còn ký ức về thứ gọi là "mùa lụt". Thứ duy nhất có thể làm mất lụt lội ở đây là... mấy con đập TQ xây dựng ở đầu nguồn.)

Thiên tai đi kèm với tình trạng dân số tăng, sống co cụm và trình độ sản xuất nông nghiệp kém phát triển đã làm các nạn đói càng trầm trọng hơn. Vì nghèo đói nên không thể tích trữ, không thể tích trữ khiến sự nghèo đói kéo dài, và khi thiên tai xảy ra thì chỉ có chết. Thậm chí không được như Đàng Trong có thể dùng thương nghiệp để chống đỡ, theo John Barrow "thương nghiệp Bắc Hà là chán nhất trong toàn châu Á" do nghèo nàn về vật phẩm buôn bán, giá cả không cạnh tranh (như Lê Quý Đôn nhận xét muốn mua hàng ở Đàng Ngoài thì chẳng thà đi vào Đàng Trong mua được nhiều và rẻ hơn), cùng với nạn tham nhũng lan tràn, kể cả phong tục không thuận, luật pháp không ủng hộ... Và đến cuối đời chúa Trịnh, ngay cả nền thương nghiệp yếu ớt ấy của Đàng Ngoài cũng đã bị phá hủy bởi các cuộc nổi loạn.

Không thể cho rằng nạn đói kéo dài suốt những năm trị vì của chúa Trịnh Sâm, đặc biệt là quãng thời gian 1774-1778 không có tác động gì đến chính trị Đàng Ngoài. Nạn đói là khoảng thời gian rất dễ xảy ra nổi loạn, bất kể lý do là gì, như cuộc nổi dậy của Nguyễn Hữu Cầu chỉ 30 năm trước đó. Đến lượt nó, những cuộc nổi loạn này tác động ngược lại, khiến nhà chúa thắt chặt kiểm soát, chi tiền cho quân đội lớn hơn. Kết quả, đầu những năm 1700s, Anh lẫn Hà Lan đã rút hoàn toàn sứ quán, cắt đứt giao thương với Đàng Ngoài, các thương phố như Phố Hiến suy sụp sau cuộc nổi loạn của Nguyễn Hữu Cầu. Đến khoảng năm 1777, khi nạn đói xảy ra quá khốc liệt, chúa Trịnh Sâm buộc phải lên tiếng nhờ mua gạo của Trung Quốc. Và thế lực của những ông tướng quân, nhóm binh sĩ ngày càng lớn hơn, Hoàng Ngũ Phúc chính là 1 trong những viên tướng thành danh từ cuộc trấn áp phản loạn đời chúa Trịnh Doanh. Nhóm quân Thanh Nghệ có ảnh hưởng rất lớn ở Đông Kinh, loạn kiêu binh thời Trịnh Khải chỉ là 1 trong nhiều cuộc rối loạn mà nhóm quân tướng này gây ra.

Cuộc nổi loạn của Nguyễn Hữu Cầu thực sự đã gây vô cùng nhiều thiệt hại cho Đàng Ngoài, cả vô hình lẫn hữu hình, cả những thứ tức thời cho tới hậu quả lâu dài mới hiển lộ.

Cần nhắc rằng họ Trịnh xuất thân từ Thanh Nghệ, nhưng không giống như vua Lê dù cũng từ Thanh Nghệ nhưng đã tạo lập được chỗ đứng tương đối cho mình. Họ Trịnh tôn lập vua Lê, dù có thể lợi dụng danh nghĩa của vua Lê nhưng cũng phải chịu sức ép không nhỏ của cả trong lẫn ngoài Đàng Ngoài, đặc biệt là khẩu hiệu "Phù Lê diệt Trịnh" mà chúa Nguyễn đề ra. Vâng, khẩu hiệu này là của nhà Nguyễn, được nhắc tới nhiều lần trong trận chiến của chúa Hiền đánh lên miền Bắc. Sau này Tây Sơn đã sử dụng lại nó - Thậm chí, theo nhiều nguồn sử đương thời cả trong và ngoài VN, Tây Sơn đã tự xưng là con cháu của họ Nguyễn Phúc để kéo quân lên tiêu diệt Trịnh (Điều này quá "nhạy cảm" với cả triều Nguyễn nên sử Nguyễn lại không ghi nhận).

Trong hàng trăm năm, từ khi Nguyễn Hoàng bị người anh rể đẩy khỏi quân đội, phải bỏ trốn khỏi Đông Kinh, họ Nguyễn vẫn coi họ Trịnh là kẻ tiếm quyền - lấy mất vị trí của cả bản thân lẫn của vua Lê. Các vị hoàng thân nhà Lê cũng liên tục phản kháng giành lại địa vị. Và trong những nạn đói dồn dập xảy ra, cộng hợp thêm việc Trịnh Sâm giết chết thái tử nhà Lê gây "oán khí thấu trời" như sách sử ghi chép, tâm trạng bất mãn với họ Trịnh cũng từ đó mà lớn lên. Đám kiêu binh của Trịnh Khải chỉ là giọt nước tràn ly.

Họ Trịnh đã lập triều đình trên 1 vùng đất "xa lạ" còn nguyên dấu thù địch của họ Mạc, sau 1 cuộc chiến tương tàn, gần thì phá hủy hoàn toàn Đông Kinh, xa thì gây thương vong khủng khiếp cho dân chúng Thanh Nghệ, về lâu dài còn để lại hậu quả không nhỏ ở biên giới phía Bắc. Họ Trịnh lấy danh nghĩa vua Lê, nhưng thực chất ngay cả trong 100 năm triều Lê sơ, các vua Lê cũng không dám "rời bỏ" vùng Thanh Nghệ thang mộc của mình - Ngoại trừ Lê Túc Tông chết chỉ sau 6 tháng trị vì, các vua Lê không có họ ngoại Thanh Hóa đều bị trừ khử, Lê Nghi Dân, Lê Uy Mục dựa vào thế lực ngoài Thanh Hóa để cướp ngôi và cũng đều bị tiêu diệt theo cùng 1 cách, Lê Chiêu Tông dựa vào Mạc Đăng Dung trong tình thế các viên tướng Thanh Hóa đánh giết nhau để rồi nhà Lê bị cướp ngôi. Họ Trịnh phù lập vua Lê, nhưng cũng đồng thời thừa kế của vua Lê cái tiền đồ xung đột này, và nó lại càng phức tạp thêm lên do mâu thuẫn địa vị trong ngoài, nơi một Đàng Ngoài đã tan nát vì chiến tranh, trì trệ trong vòng vây của những xung đột vụn vặt và cá nhân, nơi những cuộc chiến chẳng đi được về đâu ngoài phá nốt chính nó ra thêm nữa.

Trong suốt thời chúa Trịnh, có thể thấy hàng loạt cái chết của những viên đại quan "miền Bắc" như Nguyễn Công Hãng, Bùi Sĩ Tiêm, Phạm Đình Trọng... trong thời gian mà họ Mạc đã được dẹp xong. Những viên quan này đều có đặc điểm được vị chúa trước tin dùng, vị chúa sau trừ khử. Triều đình chúa Trịnh, cũng giống như chúa Nguyễn, phải chống trả với những âm mưu phản loạn nằm trong chính họ tộc mình. Và rồi, những vương tử ấy cũng đã trở thành "con cờ" cho các thế lực xung quanh.

Tuy nhiên, họ Trịnh cai trị Đàng Ngoài hàng trăm năm chắc chắn cũng xây dựng được thế lực cho mình. Theo Quốc sử di biên, những đội quân đuổi theo anh em Quang Toản, kẻ giết chết Quang Thùy, bắt được Quang Toản là các hào mục thuộc hạ cũ của họ Trịnh. Theo hệ thống quản lý của Đàng Ngoài, xã trưởng và lý trưởng đóng nhiệm vụ trưởng làng cai quản toàn bộ làng, từ việc kiện cáo, quản lý đến thu thuế, những người này dễ dàng tạo lập được 1 "lực lượng chiến đấu" cho mình khi cần thiết - Như trong Lê quý kỷ sự ghi nhận, sau khi Tây Sơn chiếm chính quyền Đông Kinh, các làng đã tự vũ trang chống trả. Và khi Quang Toản thua trận bỏ chạy, chính các thủ lĩnh, hào mục này - chứ không phải quân Nguyễn - dồn đuổi, bao vây bắt giết toàn bộ quân Tây Sơn.

Ở Đàng Ngoài, ngoài các làng mạc người Việt ở vùng trung du còn có hệ thống người dân tộc sống đông đúc trên rừng núi - Nhiều khi, chính các lực lượng dân tộc này mới là sức mạnh hỗ trợ lớn nhất cho các cuộc lật đổ, phản kháng như đã thấy trải dài trong suốt lịch sử VN. Xuất phát từ Thanh Nghệ, lấy sức mạnh từ đội quân Thanh Nghệ chống họ Mạc trong cuộc chiến Nam Bắc triều, họ Trịnh đã có sự chống đỡ đáng kể của quan, quân Thanh Nghệ từ đất thang mộc. Ngoài ra, hơn hai trăm năm phát triển ở trung du Bắc bộ cũng giúp triều đình này nhận được sự ủng hộ của một số lực lượng có liên hệ. Các vị thủ lĩnh, hào mục, thổ mục, lý trưởng này mới thực sự là lực lượng ngầm bên cạnh quân đội chính quy.

Cái thế lực này chỉ đổ vỡ khi chính họ Trịnh phân chia. Cuộc đấu đá này, bề ngoài là sự tranh giành của 2 vị công tử, nhưng thực chất sâu xa hơn là của các quan trong triều họ Trịnh với 1 thế lực lớn mạnh: Hoàng Ngũ Phúc - Hoàng Đình Bảo. Hoàng Ngũ Phúc là 1 hoạn quan mà trở thành Quận Việp nắm giữ toàn bộ quân lực họ Trịnh, khi đánh Đàng Trong thành công thì danh thế càng lên cao. Hoàng Đình Bảo vừa là cháu vừa là con nuôi Hoàng Ngũ Phúc, được phong trấn thủ Nghệ An mà đến chúa Trịnh Sâm cũng phải e ngại thế lực quá lớn của người này. Nhưng 1 người xuất thân hoạn quan thì gia thế ở mức nào? Trịnh Khải, dưới sự ảnh hưởng của các ông quan trong triều, đã thể hiện thái độ khinh ghét với Hoàng Đình Bảo ra mặt. Có điều chắc cần phải nói thêm, mẹ của Trịnh Khải là người Nghệ An.

Sự xung đột của thế lực mới lên họ Hoàng với lực lượng quan lại lâu đời họ Trịnh - cộng hưởng cùng xung đột vùng miền của nhóm lính Thanh Nghệ với ông chỉ huy quê Bắc Giang - đã được thể hiện ra ngoài thành cuộc giành ngôi của Trịnh Khải. Và tác động của nó còn khiến Lê Duy Khiêm (tức Lê Chiêu Thống) trở thành thái tử của triều Lê.

Cha của Lê Duy Khiêm là Lê Duy Vĩ bị chúa Trịnh Sâm cùng phe nhóm của Hoàng Ngũ Phúc, Phạm Huy Đĩnh hại chết để lập Lê Duy Cận làm thái tử. Sau khi giết chết Hoàng Đình Bảo, nhóm binh Thanh Nghệ này tạo sức ép đưa Lê Duy Khiêm trở về, buộc giết toàn bộ vây cánh của họ Hoàng, đưa Lê Duy Khiêm thành thái tử. Không rõ họ ngoại của Lê Duy Khiêm có quan hệ ra sao với Thanh Nghệ, nhưng khi bị Tây Sơn đuổi giết, Lê Chiêu Thống từng có thời gian chạy về Thanh Hóa trong khi gia đình lẫn quần thần chạy lên phía Bắc.

Như vậy, ta có thể thấy "hạt nhân" của toàn bộ rối loạn trong triều đình họ Trịnh nằm ở vị hoạn quan Hoàng Ngũ Phúc, hay suy luận rộng ra là xung đột của 1 "triều đình Thanh Nghệ" nằm giữa trung tâm Bắc Hà. Họ Trịnh ở giữa những sức ép "phù Lê", với danh nghĩa tiếm quyền vua, đã chỉ nhờ cậy vào lực lượng quân sự Thanh Nghệ "tâm phúc", để rồi không thể thoát ra khỏi nó.

Và rồi, Nguyễn Hữu Chỉnh, thuộc hạ của Hoàng Đình Bảo, chạy xuống Phú Xuân vời quân Tây Sơn. Đội quân này dễ dàng phá qua "cánh cửa" Nghệ An vốn là đất trấn thủ cũ của Hoàng Đình Bảo, nơi mà năm 1777 dân đã chết đói "10 phần không còn lại một". Sử hẳn đã không vô tình khi ghi sự kiện Hoàng Đình Bảo xuất kho cứu đói trong năm 1777, khiến nhân dân Nghệ An biết ơn.

Trong khi đó, Trịnh Khải lên ngôi dựa vào thế lực của 1 nhóm lính ô hợp hoàn toàn không có sự kiểm soát. Nhóm lính này không chỉ giết Hoàng Đình Bảo mà còn phá phách tất cả nhà cửa quan lại ở Đông Kinh, hoành hành cướp bóc, rồi Trịnh Khải phải tính kế để diệt trừ đội quân này nhưng không sao làm nổi. Sự oán ghét đối với họ Trịnh - mà ở đây là Trịnh Khải, đã lên cao tột độ. Ngay cả những thế lực ủng hộ họ Trịnh cũng không muốn phò tá Trịnh Khải, việc Trịnh Khải bị chính thuộc hạ của mình bán đứng có thể là 1 dấu chỉ cho điều đó. Nghe Nguyễn Hữu Chỉnh thống suất quân Tây Sơn (mượn danh họ Nguyễn Phúc) đánh lên, các quan chỉ tìm cách bỏ trốn cho nhanh.

Nhưng ghét Trịnh Khải không có nghĩa là ưa Tây Sơn, cũng như mối xung đột của các quan với thế lực họ Hoàng cũng chẳng vì thế mà mất. Nguyễn Hữu Chỉnh phải bỏ chạy theo Tây Sơn, hay tìm cách xuống trấn thủ Nghệ An sau này là biểu hiện của điều đó. Lê Chiêu Thống sử dụng Nguyễn Hữu Chỉnh, dùng Chỉnh để đi tiêu diệt phe nhóm họ Trịnh, cũng có nghĩa là đã tự cắt đôi vùng đất vốn đã nhiều xung đột của mình. Khi có việc, 1 nhà vua họ Lê hàng trăm năm không danh không thế không thể nào quy tập nổi lực lượng để có thể chống lại dù ngay ở đất "thang mộc" nhà mình. Thiếu người liên kết, các làng chống Tây Sơn tự vũ trang để rồi bị tiêu diệt từng làng một.

Trong khi, cũng vẫn những thế lực đó, lực lượng đó lại có thể tiếp tục nổi loạn liên tục trong suốt thời Tây Sơn đến Nguyễn.

Các vua Lê (hay Lê Chiêu Thống) có lẽ đến giờ phút ấy mới nhận ra, những kẻ kêu gọi "phù Lê" ấy có bao giờ là vì họ Lê đâu.




TS – LC&ĐV – 1
Sunday, August 20, 2017 Author: Trường An

Vì là dù gì bản chất mệnh mình vẫn là TPVT thân SPT nên nhìn bão tới thì có phản ứng là... chạy ra chiến mà thôi. Nhưng nghĩ tới "quần chúng" là 1 lực lượng vô cùng đau đầu, trong khi ngay cả con voi thì sờ cái đuôi nó cũng có thể kết luận "con voi có hình cái chổi". Lịch sử tất nhiên hổng có hình cái chổi, nên làm bài ghi chép tổng hợp để có gì còn...

Bài viết này hoàn toàn không có ý vị yêu ghét thương hờn gì hết, đơn giản là bài tổng hợp kiến thức tổng quát. Mấy chữ viết tắt trên kia có thể đọc là "Tây Sơn - Lên cao và đổ vỡ". :))

---

I. Bối cảnh

1. Đàng Trong

Cuộc nổi dậy của Tây Sơn bắt nguồn từ Quy Nhơn - sau này là Bình Định, nhưng đây chẳng phải là cuộc nổi dậy đầu tiên và duy nhất ở địa điểm này. Truy ngược thời gian, năm 1695 đời chúa Minh đã có cuộc nổi dậy mà sử ghi chép:

"Người lái buôn ở Quảng Ngãi tên là Linh (không rõ họ) tụ đảng hơn 100 người, tự xưng là Linh Vương, tạo chiến thuyền, đúc binh khí, cùng người Quy Ninh là Quảng Phú (không rõ họ) hợp đảng, ra vào núi rừng, hoành hành cướp bóc, quan địa phương không dẹp được, nhân dân sợ hãi chạy báo lên. Chúa sai dinh Quảng Nam hợp với hai phủ Quảng Ngãi, Quy Ninh đem quân đi đánh."

Dù chỉ vài dòng trong sử, nhưng rõ ràng quy mô của cuộc nổi dậy này không nhỏ, khi phải tập hợp quân binh 3 phủ đi đánh mới bình định được. Quảng Phú trốn đến Phú Yên, bị bắt. Và rồi chỉ vài năm sau, vào năm 1708, lại có 1 vụ mưu phản tại vùng này:

"Nội hữu phò mã Tống Phước Thiệu (con Nội tả chưởng dinh Tống Phước Trí) mưu phản, bị miễn làm dân thường. Trước là Thiệu cùng Cai đội Nguyễn Cửu Khâm (con Nguyễn Cửu ứng) ngầm mưu làm bậy. Nhân khi Câu kê Hòa Đức lãnh quân đi đánh giặc, Thiệu ngầm sai thuộc hạ là bọn Trịnh Nghệ, Tường Vân (đều không rõ họ) vào Quảng Nam, thầm kết những tay hào kiệt, mưu đồ trước lấy Bình Khang, sau lấy Phú Yên, rồi trở về lấy Quảng Nam, cướp quân Hòa Đức, thẳng tới Chính dinh, phóng lửa nổi loạn. Tôn Thất Thận cũng dự mưu ấy, đến khi mưu tiết lộ thì đem việc cáo phát ra."

Một điểm đáng lưu ý khác của các vụ nổi loạn trong đời chúa Nguyễn là sự tham gia của các tôn thất. Như trên kia nói rõ mưu đồ "thầm kết những tay hào kiệt" - nói cách khác là thủ lĩnh của những nhóm, hội, đoàn đủ sức để làm được các điều trên. Nhớ lại cuộc nổi loạn của tôn thất từ thời chúa Thượng cho đến chúa Hiền, dù không nói rõ, cũng là 1 điều tương tự: Cuốn sổ "Đồng tâm hướng thuận" mà chúa Thượng phải cho võ sĩ đến Quảng Nam, âm thầm giết tất cả người có tên trong sổ, chúa Hiền phải cho đốt để lấy danh, chắc chắn đã có những cái tên mà ngay cả nhà chúa cũng không đường đường chính chính hạ thủ được.

Nên nhớ Đàng Trong là nơi mà 1 anh "chủ buôn ngựa" như Châu Văn Tiếp cũng có thể nắm giữ cả 1 đội quân có thể đương đầu với Tây Sơn, có quan hệ với nhóm người Thượng đủ để Nguyễn Long cầm quân chặn đường Thượng đạo hàng chục năm dài. Và Châu Văn Tiếp chỉ là 1 thương buôn bình thường trong hệ thống thương buôn trải khắp vùng đất này.

Điều này cho thấy các cuộc nổi loạn tranh giành ngôi chúa trong họ Nguyễn đã không còn dừng ở những đấu đá cá nhân và lực lượng quân đội riêng biệt họ có thể tập hợp mà đã lan ra tới những lực lượng khác ở vùng đất này. Đến lượt họ, các lực lượng kia cũng tìm cách câu kết, nương nhờ danh thế của các ông họ Nguyễn Phúc để mưu cầu việc riêng của mình.

Mà trong vùng đất Đàng Trong, ta có gì? Ngoại trừ lực lượng người Việt tập trung chủ yếu ở Thuận Hóa, một ít ở Quảng Nam, từ Quảng Ngãi đổ xuống đã là vùng đất của đủ tộc người. Chiêm Thành là 1 quốc gia đa dân tộc, là nhà nước có kết cấu kiểu mandala tập trung các tiểu quốc nhỏ lẻ của nhiều dân tộc khác nhau.

Chúa Nguyễn tìm mọi cách để đưa ảnh hưởng của người Việt xuống, tập trung ở 2 "đầu mối": Quy Nhơn và Gia Định. 2 cuộc di dân lớn nhất được ghi trong sử sách là lúc chúa Hiền đưa 2 vạn tù binh bắt được ở Nghệ An xuống Quy Nhơn, và năm 1698, sau khi "kinh lý" Gia Định, chúa Minh đưa dân ở Quảng Bình, Quảng Trị đến Gia Định. 2 địa điểm này về sau quả nhiên là "điểm nóng" của chiến tranh. Hay nói cách khác, lực lượng đủ để có thể kết nối thành hệ thống để thực hiện cuộc chiến tranh này chỉ có người Việt. Các lực lượng dân tộc khác chỉ là thành phần giúp đỡ hỗ trợ, có thể dễ dàng bị tiêu diệt, bắt quy phục, thay đổi...

Nhưng dù vậy, không thể coi thường sức mạnh của lực lượng "ô hợp" này nếu có khả năng kết nối họ lại. Những cuộc nổi dậy của các lực lượng này trong thời chúa Nguyễn vẫn thường xảy ra luôn, lúc thì là vua Chiêm Thành, lúc thì là người dân tộc (như trong "Chuyện chàng Lía"), và đặc biệt là thương nhân người Hoa.

Quy Nhơn là kinh đô cũ của Chiêm Thành, nơi có thương phố cổ ngàn năm tuổi Nước Mặn. Chiêm Thành có trình độ thương nghiệp rất cao, được tiếp nối vào đời chúa Nguyễn với hệ thống thương phố, nguồn, chợ đan cài khắp từ vùng núi cho đến đồng bằng. Và từ đời chúa Nguyễn đã sớm có những tin tức bất ổn về hải tặc tập hợp quanh vùng này. Lập nghiệp trên vùng đất khô cằn, họ Nguyễn dùng thương nghiệp để tạo dựng sức mạnh cho vương triều, kể cả giữ cho dân chúng no ấm - Như vụ việc đời chúa Thượng, dân chúng Quảng Nam nhổ lúa trồng dâu, chỉ cần Chân Lạp không bán gạo lên là nạn đói to xảy ra. Thương buôn - ở đây là lực lượng kinh thương người Hoa - đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong toàn bộ đời sống Đàng Trong.

Và như đã nói trên, liên tục, liên tục những cuộc nổi loạn dính dáng tới các lực lượng này xảy ra. Từ các tôn thất âm mưu chiếm đất đánh lên đến nổi loạn riêng lẻ như Linh Vương. Cho đến khi Tây Sơn nổi lên, họ cũng sử dụng lực lượng then chốt nhất: từ bọn hải tặc người Hoa Tập Đình, Lý Tài cho đến những ông thương buôn như Huyền Khê (không liên quan gì đến hòa thượng Huyền Khê đâu).

Trong thời kỳ đầu của Tây Sơn, chỉ thấy Tập Đình và Lý Tài xông trận. Đến khi Tập Đình, Lý Tài bị quân Trịnh đánh tan ở Quảng Nam, Tây Sơn phải vội vã cầu hòa nhận chức phong của Trịnh, cho thấy lực lượng Hòa Nghĩa quân này quan trọng như thế nào.

Nhân nói đến trận chiến ở Quảng Nam, lại cần nhắc đến 1 việc mà mọi người đều bỏ qua: Hội An bị san thành bình địa do trận chiến của quân Hòa Nghĩa và lực lượng người Hoa ở Hội An.

Theo sử sách ghi, chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy đến Quảng Nam, nhưng ở đây đang bị nạn đói, nhắm không ở được nên giao nhiệm vụ lại cho Đông cung Nguyễn Phúc Dương. Nguyễn Phúc Dương đã chiêu tập lực lượng ở Hội An để chống cự quân Tây Sơn, dẫn đến kết quả Hội An bị hủy hoại hoàn toàn.

Và đội quân Hòa Nghĩa này, khi đến Gia Định, lại xung đột với quân Đông Sơn, là đội quân tập hợp để bảo vệ chúa Nguyễn, trong số này hẳn không ít người ở Cù lao Phố, nơi đã bị Tây Sơn đốt cháy.

Như vậy, đạo quân Hòa Nghĩa mà Tây Sơn khuyến dụ được lúc đầu vốn là 1 lực lượng hoàn toàn đối kháng với người Hoa sống lâu đời ở Đàng Trong. Nhìn thân phận hải tặc của Tập Đình và Lý Tài có thể hiểu nhóm người này chính là nhóm hải tặc hình thành từ nửa cuối đời Càn Long, sống nhờ vào cướp bóc và lấy vùng ven biển Việt Nam để ẩn náu, có thể đánh cướp thuyền thương mại nội địa lẫn buôn lậu cạnh tranh - Như vấn nạn hải tặc Trung Quốc mà triều Nguyễn phải đối phó suốt sau này.

Đến đây lại nổi lên 1 vấn đề thắc mắc điều mà nhiều người tin: Nạn tiền kẽm đã đẩy các thương nhân tạo phản? Nhưng tại sao chỉ có thương nhân ở vùng Quy Nhơn tạo phản, trong khi thương nhân ở các vùng khác vẫn theo chúa Nguyễn, đến nỗi để các trung tâm thương mại Đàng Trong bị hủy hoại hoàn toàn?

Có lẽ ta phải hiểu ngược lại việc này: Khủng hoảng tiền kẽm làm chính sức mạnh của triều Nguyễn lung lay chứ không phải làm bên tạo phản mạnh hơn. Cuộc khủng hoảng này đi cùng với cuộc chiến ở Chân Lạp - Hà Tiên năm 1771-1774, kéo dài đến cả khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi chúa phải cử phò mã Nguyễn Hữu Thụy đến Chân Lạp đàm phán với người sau này là vua Rama I, Mạc Thiên Tứ phải dời đến ở Trấn Giang. Quân Nguyễn rõ ràng đã dùng toàn lực ở phía Nam, tập trung những đại tướng như Tống Phúc Hiệp, Nguyễn Cửu Đàm - và khi Tây Sơn nổi lên, chỉ có quân của Tống Phúc Hiệp từ Gia Định kéo lên mới đe dọa được.

Như đã nói, triều Nguyễn lấy sức mạnh từ thương mại. Khi nền thương mại này lung lay, dù vẫn có thể kêu gọi 1 số người ủng hộ, nhưng quân Nguyễn chẳng còn đủ sức để làm gì, và các lực lượng ủng hộ 1 là ngãng ra, 2 cũng không còn đủ sức lực. Trong khi đó, mảnh đất Thuận Quảng của họ Nguyễn chỉ cần đứt gãy nguồn cung ứng hàng hóa là nạn đói khủng khiếp xảy ra.

Ta hãy nhớ đến mưu kế của ông đại sứ Anh vào thế kỷ 19: Muốn đánh VN, cứ cắt đứt đường liên lạc, cung ứng giữa các vùng Nam Trung Bắc.

Nhưng đặt câu hỏi "Tại sao lại là thương nhân ở Quy Nhơn?" thì cũng có thể đã soi sáng được 1 việc: Đây là 1 vùng đất rất "đặc thù". Phố Nước Mặn là khu thương phố cổ hơn hẳn Hội An, Thanh Hà lẫn Gia Định. Và các mối kết nối trong khu vực này cũng mang tính đặc thù cao. Đi lên vùng núi thì là đất của các dân tộc vốn thuộc Chiêm Thành cũ, đi xuống thì là di dân có tổ tiên là tù binh của chúa Nguyễn, xuống phương Nam thì là đất của Chiêm Thành, lên phía Bắc là vùng Quảng Ngãi mà đến tận thời Pháp thuộc còn liên tục có tin báo về "bọn giặc mọi".

Thời kỳ đầu, lực lượng Tây Sơn có gì: Hòa Nghĩa quân của Tập Đình, Lý Tài, quân của nữ chúa Thạch Thành chiếm Phú Yên, quân của Chiêm Thành góp sức. Nhìn lên phía Bắc, Nguyễn Phúc Dương tập hợp lực lượng chống lại - đến tận khi Nguyễn Phúc Ánh đánh đến được Quảng Ngãi thì cũng thu được một đống người đi theo ủng hộ. Nhìn xuống phía Nam, thì Châu Văn Tiếp cũng là nghe theo lời "phù Đông cung" đấy chứ có phải vì Tây Sơn đâu.

Như vậy, có lẽ J.K. Taylor đã đúng khi cho rằng Tây Sơn là 1 "lực lượng địa phương", và cuộc nội chiến này mang tính địa phương rất rõ. Tính địa phương quá rõ rệt trong vùng đất đầy xáo trộn của họ Nguyễn.

Và điều để tạo thành chiến thắng của Tây Sơn ở Đàng Trong không có gì khác ngoài sự suy sụp của triều đình chúa Nguyễn. Thời chúa Võ vương, Nguyễn Cư Trinh đã dâng bản điều trần về các điểm yếu trong hệ thống quản lý khắp Đàng Trong, nhưng Võ vương chỉ xem qua mà không trả lời. Thật ra chẳng có ông vua nào "thấy họa trước mắt mà để im", chẳng qua có những thứ nói dễ hơn làm, và làm không được. Trong đó, điều cốt yếu nhất nằm ở hệ thống hành chính Đàng Trong.

Triều đình chúa Nguyễn là triều đình quân sự, phát xuất từ 1 nhóm người bảo trợ chúa Nguyễn Hoàng xuống phía Nam. Từ Quy Nhơn trở đi, họ nhờ cậy vào thế lực của các đại phú gia lâu đời ở ngay vùng đất ấy như Trần Đình Ân - cha vợ của Đào Duy Từ - ở Quy Nhơn, hay Trần Thượng Xuyên ở Gia Định, thậm chí cả các phiên vương như Kế Bà Tử của Chiêm Thành. Với các lực lượng chống đối, họ Nguyễn đưa quân tiêu diệt và cắm lực lượng của mình vào - như vị phò mã họ Mạc tên Nguyễn Phúc Vinh ở Phú Yên. Để quản lý hệ thống ấy, họ Nguyễn nhất thiết phải dựa vào các lực lượng quân sự, các họ tộc lâu đời như Nguyễn Cửu, Trương Phúc, Tống Phúc... Và các vị quan này lại không hưởng bổng lộc triều đình mà thu tiền ở các nguồn được ban làm bổng lộc.

Như vậy, việc "tận thu" xảy ra trong thời Trương Phúc Loan, hay thậm chí trước đó là thời Võ vương mà Nguyễn Cư Trinh khuyến cáo, xảy ra hoàn toàn không thể khống chế được - hoặc chỉ có thể khống chế tạm thời bằng quyền lực nhà chúa với các quần thần. Tương tự như vậy là quyền lực của quân đội. Sự im lặng của Võ vương cũng chỉ vì thế mà thôi.

Ngay cả trong triều đình này, việc triệt hạ nhau cũng để lại hậu quả lâu dài. Dễ thấy nhất chính là việc con của Trần Thượng Xuyên là Trần Đại Định bị Trương Phúc Vĩnh vu cáo mà chết trong tù, vợ của Trần Đại Định là con gái họ Mạc đưa con trai về Hà Tiên. Như vậy, quân Nguyễn chiếm được quyền quản lý Gia Định từ tay quân Long Môn của họ Trần. Nhưng khi Chân Lạp cùng Xiêm La hợp sức tiến đánh năm 1771, đội quân này căng hết sức ứng phó, để rồi... mất luôn Phú Yên, Bình Thuận. Mạc Thiên Tứ chết, cả lực lượng Hà Tiên, Gia Định đều không còn dùng được, để rồi Đỗ Thanh Nhơn phải tự tập hợp lực lượng lại từ đầu. Và chỉ đến khi... Gia Định bị hủy hoại không còn gì, Võ Tánh mới có thể tập hợp được hầu như tất cả sức mạnh của vùng này lại để phản kháng.

Như vậy, sức mạnh đỉnh cao và trượt xuống hố sâu của triều đình chúa Nguyễn là 1 quá trình, Trương Phúc Loan là người có nhiệm vụ... đào hố. Khi quyền lực khống chế tối cao không còn, các lực lượng trong triều đình được mặc sức sát phạt nhau, vơ vét về cho bản thân, tạo nên bất mãn lan rộng trong dân chúng lẫn binh sĩ, ngay cả người trong triều. Kết quả, 1 đứa bé 13 tuổi được cử làm thống soái đi đánh Tây Sơn (không thua cũng uổng), tướng giữ lũy Trấn Ninh thì chả lo chống Trịnh mà lo ép chúa giao Trương Phúc Loan ra giết.

Các chúa Nguyễn có vẻ đã nhận ra điều này, khi quá trình tập trung quyền lực được thực hiện liên tục từ thời chúa Minh cho đến Võ vương, nhưng điều họ Nguyễn thiếu là chính danh. Minh vương cầu phong với Khang Hy nhưng bị từ chối, Võ vương tự xưng quốc vương nhưng vẫn là thần tử của nhà Lê. Vậy là "Quảng Nam quốc" cứ thế ở trong tình trạng hỗn độn sáng tối, mập mờ quyền lực, không thể tạo lập nổi cho mình 1 hệ thống quản lý, luật lệ, hành chính vững vàng hơn. Và các lực lượng khác, kể cả trong chính triều đình hay tại địa phương, cứ thế mà nổi lên lặn xuống như sóng triều. Trong khi đó, các cuộc chiến lớn nhỏ vẫn không ngừng diễn ra, đẩy thế lực của các dòng họ tướng quân này lên cao hơn. Người ta chỉ có thể "cải cách" khi đạt được sự yên ổn nhất định, chứ có ai điên đâu mà cải cách khi đang rối như canh hẹ.

Tây Sơn đã có được tất cả khủng hoảng của triều Nguyễn: kinh tế, chính trị, quân sự, mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn địa phương, mâu thuẫn của triều đình - trong thời điểm mà triều đình này suy sụp nhất. Lực lượng thương nhân ở Quy Nhơn kết hợp cùng người được gọi là "giáo Hiến" tự tạo cho mình 1 danh nghĩa phù trợ tông thất, kết hợp với các nhóm dân tộc như hình mẫu các cuộc nổi loạn trong hàng trăm năm đời chúa Nguyễn. Vả lại, sức mạnh "giúp đỡ" Tây Sơn lớn nhất là quân Trịnh cùng với Nguyễn Phúc Dương. Quân Trịnh tiêu diệt đội quân cùng triều đình chúa Nguyễn tại Thuận Hóa. Nguyễn Phúc Dương "cản đường" Tống Phúc Hiệp từ Gia Định đánh lên, giúp Tây Sơn yên ổn được trong thời gian khủng hoảng mất quân Hòa Nghĩa. Và như đã nói, cuộc chiến với Xiêm La và sự sát phạt nhau ở Gia Định đã làm vùng đất này yếu đi như thế nào.

Vậy là, an ổn được ở Quy Nhơn, thấy quân Trịnh đánh xuống Quảng Nam, Tây Sơn cầu hòa nhận tước phong của Trịnh để đi đánh Nguyễn. Bị Tống Phúc Hiệp đánh từ Gia Định lên, giết nữ chúa Bà Hỏa, chiếm lại Phú Yên, Tây Sơn đưa Nguyễn Phúc Dương ra làm bình phong khiến Tống Phúc Hiệp dừng lại (ban đêm ra đánh lén). Hai nhóm Đông Sơn với Hòa Nghĩa đánh nhau ở Gia Định, tạo đà cho họ Nguyễn bị giết hết. Nạn đói ở Quảng Nam gây bệnh dịch khiến quân Trịnh phải lui, Tây Sơn chiếm Quảng Nam. Họ Trịnh giành ngôi với nhau ở Đông Kinh mà rút quân ở Thuận Hóa về, Tây Sơn lên chiếm Thuận Hóa "vườn không nhà trống".

Tất cả "vấn đề" trong hàng trăm năm của triều đình họ Nguyễn đã hiển lộ, kết hợp lại thành 1 khối nổ tung trong thời gian ấy: Các cuộc nổi loạn của thương nhân, tông thất, dân tộc, chiến tranh ngoài biên ải, sức ép của quân Trịnh, kinh tế bị cắt đứt, đấu đá trong triều đình. Và lúc này, triều Nguyễn hoàn toàn không còn chút sức mạnh nào để giải quyết như đã từng.




MM-LVD
Monday, July 24, 2017 Author: Trường An

Rất "lạ thường" là khá nhiều phần của sử VN chỉ có thể tìm được ở... ghi chép ngoại quốc. Đặc biệt là hầu-như-tất-cả những gì liên quan đến Lê Văn Duyệt. Ví dụ như chuyến thăm của sứ thần Miến Điện - vụ việc trọng yếu đã khiến LVD bị xử tội, và cũng liên quan mật thiết đến vấn đề bang giao của VN thời kỳ ấy, nguyên nhân hệ quả của đủ mọi thứ - Nhưng lại không hề được ghi chép cẩn trọng đàng hoàng trong chính sử triều Nguyễn. Hầu như tất cả hành động của LVD trong sử như bị "phủ 1 màn sương" lờ mà lờ mờ, kết quả là nhìn bản ghi hạch tội thì 99% nghĩ "oan ơi là oan".

Đến khi đọc được ghi chép của sứ thần Miến Điện thì đã rõ... chả oan tí nào. =-= http://truongan.name/?p=7310

Này thì lạm quyền cử sứ thần đi làm việc riêng rồi chém gió với vua rằng đi mua vũ khí. Này thì tự tiện kết giao kéo sứ Miến Điện đến VN "âm mưu" đi đánh Xiêm, rồi đùng đùng cãi nhau với vua đòi đánh nhau - Này thì dặn dò của Gia Long "đừng gây chiến ngoài biên ải" đã ném ra sau đầu vạn dặm. Này thì gài vua vào thế đã rồi, rồi gây hậu quả to bự cho sau này - Thằng Xiêm nó biết nó sang VN hạch hỏi đủ thứ, đến khi Lào đánh nó thì nó quặc luôn sang trách nhiệm của VN, đánh xuống luôn Chân Lạp (Ờ mà Chân Lạp dưới thời LVD chả biết quản lý kiểu gì để 10 thằng hết 9 bất mãn, ông sứ Anh còn buông 1 câu "thảm hơn cả dưới sự cai trị của Xiêm"). Nói chung, nhìn tội quả thật... chả oan tội nào.

Bonus thêm dưới ghi chép của ông sứ thần thì này là quan dưới trướng LVD tham ô tham nhũng, này thì lạm quyền như vua, này thì xử phạt tàn khốc chả cần luật lệ gì, chỉ cần ngứa mắt là đem chém... Các ghi chép của Li Tana thì nào là hàng hóa buôn vào Gia Định thì toàn thuốc phiện, bán ra thì toàn là gạo (đồ cấm bán), ông nào bà nào cũng nói đến bọn buôn lậu hoành hành ngoài khơi.

Kể cả những chuyện của người liên quan tới LVD trong triều, ngay cả 2 ông người Pháp. Năm 1823 Minh Mạng đã cho tìm mua thuyền Tây cũ về lắp ráp nghiên cứu lại, nhưng việc này lại không được ghi trong chính sử - nó nằm trong Di biên của "người ngoài" lẫn ghi chép của ông con lai Pháp. Và lục đục của MM với 2 ông quan Pháp quanh chuyện người muốn nghiên cứu tàu người muốn... lập ràng buộc cho Pháp cũng rơi rớt mỗi nơi 1 mảnh. Sau mấy hồi đọc lại thì nhận ra chả phải sử quan "không biết viết sử", mà chả qua là... lúc nào LVD cãi nhao với MM mà "không có lý" thì... bỏ qua, lúc nào thấy "vua có vẻ sai sai" thì ghi vào, LVD làm gì sai thì không ghi, mà hễ MM khen LVD là phải ghi, cái gì không ghi không được thì ghi 1 nửa, chả ai biết đầu cua tai nheo nó ra làm xao, mà sai to đi nữa thì... Lê Chất sai.

Ờ mà, khi nhớ đến đoạn "làm tàu" trên kia thì tự nhiên nghĩ ra... sử này có sự tác động nào của Pháp hay chăng? Bởi những phần "gọt giũa lược" này sẽ gây ảnh hưởng lớn đến cảm nhận của người đọc về phần rất quan trọng trong thời kỳ ấy, là kiểu như nài: Ôi ông LVD thiệt tài giỏi "tự do" làm nên tất cả, chỉ "lực lượng thủ cựu" chống phá ghét ổng. Trong khi LVD chỉ làm Tổng trấn 10 năm, Gia Định do Gia Long xây hết rồi, Chân Lạp do LVD quản 10 người phản hết 9, đến Bạch Xuân Nguyên đánh nhao với Lê Văn Khôi cũng là hục hặc cá nhân trong chính cái nhóm này, quân Xiêm thì do chính LVD "kéo về" do đi đêm với Miến Điện - Nói chung, MM vừa nắm GĐ 1 cái là tất cả tan tành xác pháo trong khi vẫn "chưa hiểu chiện gì xảy ra". Bonus thêm là đám tù phạm Thanh Nghệ kia là MM đã 5 lần 7 lượt gào "đừng có dùng bọn nó, đừng có dạy khỉ leo cây" mà LVD để ngoài tai, để rồi chúng nó chiếm luôn thành. Ờ, vại mà... trách nhịm là của MM nhoa, chớ ông quản việc coi vua như giẻ rách kia vô tội. '______'

Vậy là, 1 cái tổng thể trong thái độ trị quốc trị dân, bức tranh toàn cảnh về cả VN và thế giới trong chính nội bộ VN rơi rụng gần hết, trở thành kiểu xung-đột-cá-nhân chả biết đầu cua tai nheo ra làm xao (với "định hướng" rõ ràng ông-quan-oan).Tất cả lờ mờ 1 cách có-chủ-ý.

Như ngày trước mình từng thắc mắc tại xao LVD lại muốn "hợp tác" cùng Miến Điện đi đánh Xiêm, trong khi Xiêm đang bị Anh "bóp cổ" (Anh tấn công khiến Xiêm đầu hàng). Hành động này sẽ khiến Xiêm... chạy thẳng về phía Anh, dùng sức của Anh đi bóp cổ kẻ địch trước (Và hiện thực đã xảy ra đúng thế, Anh hợp sức Xiêm đánh Miến Điện, VN may quá chưa dính đòn dù sứ Xiêm sang hạch hỏi MM - vầng, MM mới đúng là toàn phải "gánh hậu quả" của LVD).

Đọc lại tự nhiên nhận ra 1 chuyện: Lúc ấy 2 ông quan Pháp kia đang chuẩn bị rời khỏi VN, đang ở Gia Định. Mà 2 ông này nhận lệnh của vua Pháp để "thiết lập quan hệ" với VN kiểu... giống Anh với Mã Lai. Thêm 1 chi tiết nữa là LVD... tỏ ra hâm mộ Napoleon, đây hoàn toàn là do ảnh hưởng của người Pháp. Do đó, có thể chính người Pháp đứng sau việc "xúi dại" này, đẩy VN ra đánh Xiêm, đánh luôn cả Anh để... Pháp nhảy vào.

Chỉ nội trong thái độ của LVD và MM với... Napoleon cũng đã cho thấy quan điểm, nhận định khác nhau. Như trên, LVD khen Napoleon vô cùng, trong khi MM nghe ông con lai bốc Napoleon lên tận trời là... đùng đùng nổi nóng (ờ, cũng chả phải "đùng đùng nổi nóng" đâu, là kiểu không muốn nghe nữa thì đúng hơn). 1 ông thì hẳn nghĩ "bạn ta thiệt là giỏi", 1 ông thì chắc đang nghĩ "nó mạnh vậy mà đánh ta thì ta phải làm xao". Cho nên, 1 ông hăng máo đòi "họp bè đánh nhau" kiểu "có Pháp bảo kê ta không sợ Anh", 1 ông nghĩ thầm "đùa hả người, 2 thằng khác nhao chỗ nào".

Cho nên, người Pháp... rất khoái LVD (kể cả mấy ông cố đạo nọ kia). Với sự "liên hệ mật thiết" của người Pháp trong chính quyền Gia Định (mà 2 ông cố đạo chính là thành phần chủ chốt trong phản loạn), liệu có thể cho rằng xung đột dằng dai của 2 bên về đủ thứ có sự góp phần của mấy "bàn tay lông lá" hay chăng? Dù gì, chiện chởi nhao tung trời quanh mấy ông sứ Miến Điện khởi đầu cho tất cả ồi đó (Và sử VN dím sạch, vô cùng sạch).

(Chú thích: Chiện Anh với Mã Lai cũng "vui" lắm. Ban đầu Anh "hỏi xin" cái cảng be bé ở Singapore làm chỗ đậu tàu thôi nha, rồi mấy năm sau... Anh chiếm nguyên cái tiểu quốc Johor nha. Mấy năm sau nữa là chính quyền Mã Lai trở thành puppet của Anh nha. Cho nên ai mà tin cái chiện "chúng nóa" "chỉ đi xin đất lập khu buôn bán" thì... ngây thơ dễ xợ. :v )




Con trai Lê Quý Đôn
Monday, July 24, 2017 Author: Trường An

Đây là nhân vật hầu như ít ai để ý tới, trừ scandal liên quan đến người cha, nhưng là 1 nhân vật kiểu "rất thú vị". Lê Quý Kiệt, hay trong sử Nguyễn thì phổ biến hơn với tên gọi Lê Duy Thanh.

Trước tiên nói về xì can đồ, thì năm 1775, Lê Quý Kiệt dính phải vụ án đổi quyển thi với 1 thí sinh khác, bị buộc đánh rớt. Lê Quý Đôn bị tội chủ mưu vụ này, bị cách chức đi hiệu lực, Lê Quý Kiệt thì bị chúa Trịnh giam vào ngục.

Nhưng mà, đến năm 1808, ngay kỳ thi Hương đầu tiên của triều Nguyễn, Lê Quý Kiệt đậu ngay ở trường Sơn Tây. Năm 1810, Lê Quý Kiệt được triệu cùng các học sĩ khác như Phạm Quý Thích về Huế, phong chức Đông các học sĩ. Sau đó, trong công cuộc tìm lăng, Lê Quý Kiệt lại đóng vai trò rất quan trọng khi "tìm ra" đất làng Định Môn núi Thọ Sơn. Năm 1814, Lê Quý Kiệt thăng tiếp Thị trung trực học sĩ kiêm Thái thường tự khanh góp việc Lễ bộ.

Nhìn "thành tích" này thì Lê Quý Kiệt chắc hẳn chả dốt đến độ phải có người làm bài thi hộ - hoặc quả thiệt thời trẻ chơi bời đổ đốn nhưng bị 1 lần sợ xanh mắt đã chịu tu tỉnh học hành. Nhưng cuộc đời Lê Quý Kiệt còn có 1 "vai trò" khác: Góp phần "thổi lửa" đẩy mâu thuẫn của Minh Mạng với 2 ông quan họ Lê lên cao, cao, cao.

Theo Minh Mạng kể thì ngày còn làm hoàng tử chả mấy khi tiếp xúc với quan lại bên ngoài, chỉ đi tìm đất xây lăng chung với Lê Quý Kiệt thì mới thân nhau. Theo cái "dư luận bên ngoài" kiểu Quốc sử di biên thì các quan trong triều cãi đông cãi tây chứ chả ai muốn lập Minh Mạng, chỉ có Lê Quý Kiệt "trước sau như một" ủng hộ - ờ, cái này thì cũng chỉ là tin đồn nghe cho vui thôi. Nhưng 1 phần có vẻ rất đúng là Minh Mạng vốn... chả thân với ông quan nào thật. Ngoại trừ mấy ông thầy thì quan thân bên cạnh MM sau này chỉ là mấy ông bạn học cùng thuở bé, ít thân hơn tí nữa thì là mí ông xuất thân thấp được cất nhắc sau này. 1 phần bản tính MM vốn ghét chuyện chia bè kéo phái, 1 phần chắc do Gia Long - vừa kiểm soát con mình mà cũng vừa "cảnh giác" với mọi trò kéo phái, cho nên khôn ngoan nhất là đừng có làm. =))

Nói như vậy thì nếu Lê Quý Kiệt "dám" ra mặt ủng hộ thì chưa chắc đã sống nổi. Nhưng mà nói chung thì 2 ông này thân nhau đi. Cho nên sau khi MM lên ngôi đã cử Lê Quý Kiệt đến làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng - cũng theo lời "tự sự" thì chủ ý là để coi có biết làm việc thực tế gì không. Mà Sơn Nam thượng là đất thuộc Hà Nội với Hưng Yên sau này.

Mà vầng, như mọi ông "Hiệp trấn" do MM phái đi khắp nơi thời này, năm 1820 được phong chức, năm 1821 Lê Quý Kiệt bị tố cáo tham nhũng - Theo Di biên thì là do Lê Quý Kiệt cãi nhao với ông quan cùng làm, bị người ta bới ra việc người nhà dựa thế làm bậy, xúi dân cầm đơn tố vua đang ở Bắc thành chờ sứ phong. Lê Quý Kiệt khóc xin quan Kinh tra xét chứ đừng để Nguyễn Hựu Nghi tra, thằng cha này mà tra thì thà chết còn hơn.

(Vầng, Nguyễn Hựu Nghi là người đã tố án vụ... Nguyễn Văn Thành. Mà theo mấy ông quan thậm thụt nói với nhao thì thằng dụ con Nguyễn Văn Thành "làm thơ mưu phản" ấy vốn là môn khách của Nguyễn Hựu Nghi chứ không ai khác. Mà theo nguồn khác nữa thì Nguyễn Hựu Nghi là người của Lê Văn Duyệt. Nói chung, dòm cái là biết... thà chết còn hơn thiệt.)

Vậy là, Lê Quý Kiệt liều chết xin thay người xử, Lê Chất đứng 1 bên gào đồ vô lễ phải chém, chém, chém. Minh Mạng thấy thế thì trói Lê Quý Kiệt lại đưa về Huế xử. Ở trấn Sơn Nam, Lê Chất lấy được hết "lời nhận tội" của người nhà người xung quanh đưa về Huế, Lê Quý Kiệt bị cách chức đi làm việc không công ở Quảng Bình. Vậy vẫn chưa yên, năm 1824 cả Lê Chất với Lê Văn Duyệt vào tâu xin về hưu vì tội... vua không xử chém Lê Quý Kiệt, luật không vững dân không tin làm việc không được.

Tất nhiên, chiện này thì chỉ là cớ thôi, mâu thuẫn thiệt thì... cả đống nhưng không tiện nói, lôi cái gì "chính nghĩa" nhất ra nói. MM quăng bản án lại bảo xem có sai gì không, thì thôi (Lần nữa, thiệt ra mí ổng dàn xếp được bằng cái gì thì... chả biết). Nhưng đã giả điên thì làm luôn, đến sau này Lê Chất lại bị xử vì cái tội lằng nhằng bám mãi cái án này.

Mà thật ra thì ngoài vai trò "cái cớ" ra, Lê Quý Kiệt "đạp đuôi" gì Lê Chất đến cái mức phải giết mới nghe? (À, quên việc Lê Chất thiệt là "thanh liêm cao quý" như tiếng đồn về ông đồng liêu đê. Di biên chép chiện linh tinh còn viết bà vợ 3 của Lê Chất mở đàn chay cầu tự suốt 9 ngày 9 đêm kìa).

Khi Lê Quý Kiệt bị xử, Thực lục trích lại lời MM nói lúc đưa Lê Quý Kiệt làm Hiệp trấn: chả phải ta yêu ghét riêng quan miền nào đâu, đâu cũng là dân ta mà. Lúc đầu đọc thì thấy hơi ngược ngược, sau mới nghĩ ra: MM phải "thanh minh" cho việc dùng quan người Bắc chớ hông phải là ngược lại. Dòm suốt dàn đại quan thời ấy toàn quan miền Nam.

Tiện phải nhắc lại thì là ngay trước và sau khi MM được lập làm thái tử, 1 đống quan miền Bắc bị "thanh trừng" khi Lê Chất được đưa ra Bắc thành. (Dẫn đến cái chuyện Nguyễn Du được cử làm Đại học sĩ vào đúng năm này luôn nhưng vào triều im thin thít, chính MM lúc đó là thái tử chạy lại bẩu có gì nói đê, triều ta hông kỳ thị Bắc Nam gì đâu, chỉ tại đám kia có tội mà - vầng, ổng bị bịnh "lý tưởng hóa" hơi bị nặng). Cuối cùng trong dàn quan miền Bắc chỉ còn mấy ông "học sĩ" làm việc văn thư là còn sống sót.

Trong đó thì Lê Quý Kiệt cũng coi như là sứt sẹo gì vẫn còn 1 chút "thân thế", cha dù sao cũng là đại quan cũ, nhà dù sao chắc cũng có chút của cải (vợ LQĐ nổi tiếng vì giàu). Ý định của MM cho Lê Quý Kiệt đến Sơn Nam làm quan cũng rõ luôn, là để "nghe ngóng tình hình", xem xét người trong vùng, coi tiến cử được ai thì làm - như sau này MM gom được 1 mớ quan, mà ông "được việc" nhất là... con nuôi của Nguyễn Văn Thành.

Cho nên... bị đập là phải đạo. Dù chưa thảm bằng Huỳnh Công Lý ló mặt đến Gia Định được mấy tháng đã bị tố án "méo hiểu ra sao", Lê Quý Kiệt đã "hy sinh" theo lời tự sự: Huhu, lúc bị lệnh đi trấn tui đã từ chối rồi mà hông được, tối ngày nơm nớp lo sợ mắc tội mà cuối cùng cũng dính. (Hãy nhớ tới lời MM thường dùng khi dụ khị người khác đi làm trấn thủ "tui biết ông tốt lắm hông làm gì nên tội đâu, cẩn thận là được ha, ha, ha" :v ). Thiệt ra theo logic thì có thiểu năng đến mức nào mới đi đơn thương độc mã gây chuyện ở chỗ Lê Chất, với 1 ông vua mới lên ngôi được có mấy tháng "chống lưng"?

Và rồi, trong 1 đám quan nhà Trịnh, hầu như chỉ mỗi ông bố Lê Quý Đôn "được" sử quan viết Cương mục "đặc cách" cho mấy đoạn chê bai nát nước lên bờ xuống ruộng vô cùng "đặc sắc": Làm quan thì nhờ đút lót mà lên chức, làm việc thì vừa bất tài vừa bất lương, làm người thì vô cùng ba chấm. :v Trong khi ân oán cá nhân hay ân oán triều đại thì chả có, LQĐ thì cũng chỉ là ông học sĩ viết lách nọ kia, làm quan sai chỗ nọ chỗ kia chớ cũng chả lớn hơn ai mà cũng chả quan trọng hơn ai. Vậy mà dòm suốt ngàn năm lịch sử, trăm năm triều Trịnh chỉ có ông LQĐ bị "chú ý đặc biệt" đến mức độ này. =))))

Vừng, sau khi dòm can cớ của ông con Lê Quý Kiệt, tự dưng hiểu ra luôn. Đã bẩu, từ lâu mềnh đã có cảm giác rất to rằng sử quan theo phe LVD chớ hông phải là ngược lại âu. =))))





Copyright © Trường An. All rights reserved.