Solitude

.Mười sáu tuổi, tôi nằm dưới vòm cây, nghe tiếng hát của những thiên thần và yêu với tình yêu của người mất trí. More...

NNN
Friday, February 28, 2014 Author: Trường An

Thông qua những vụ xử án của MM, cùng với "dư đảng" TS còn ghi trong Thực lục, cho thấy án "tru di" thời Nguyễn chỉ tính anh em con cháu họ nội (một số trường hợp còn không liên quan tới cháu) - mà cháu ở đây là trực hệ, không phải cháu họ xa quá 2 tầng. Đàn bà thì tha hết. So với cái án tru di Nguyễn Trãi của thời Lê thì nhẹ hơn nhiều.

Mà đọc mới thấy "sử gia" bố nháo về chuyện "tận diệt" Tây Sơn. Con cháu Bùi Đắc Tuyên - họ ngoại của vua, sống sờ sờ. Nghĩa là cái án này không xử tới họ ngoại. Sau dính tới án che giấu con Nguyễn Nhạc (có thể là cả con trai Trần Quang Diệu), lôi ra nào là "thân thuộc, con gái ngụy" tính tội - Mềnh đã bảo không xử con gái mà. '_'

Ờ mà, hóa ra Trần Quang Diệu có con riêng. :)) Chia buồn với ai thần tượng Diệu-Xuân. Chắc chắn đây là con riêng chứ bằng không chẳng thể nào xử đứa con gái, để lọt lưới đứa con trai - Ờ mà, vậy đứa con gái này bị xử vì lý do gì ta?

(*tưởng tượng*

Ở trong ngục, chồng bảo với vợ: "Chúng ta chết không sao đâu, vì ta có con nối dõi được giấu đi rồi."

Vợ: Á à, lúc tôi còn đang bận đánh nhau phù vua cứu ông, ông lại đi ăn chả bên ngoài, còn có thêm thằng con! *quay sang con gái, nước mắt ròng ròng* Thôi con ơi, thế thì mẹ con ta cùng chết.)

j/k. Có thể đứa con gái này cũng học võ, có một nhiệm vụ, chức vụ nào đó. Gái 15 tuổi thời ấy là lớn rồi.

Chính MM cũng từng nói là "ngay cả dòng dõi Tây Sơn ta cũng không tận diệt" trước khi phát hiện cái nhánh còn sống sót này lén nuôi dòng dõi Nhạc, Diệu. Mà tính khí MM thường ngày có thể rất rộng rãi, miễn là đừng ai qua mặt bác, làm trò qua mặt bác thì... hậu quả kinh khủng lắm. =_=

Mà đùa chứ, trong thời Nguyễn thì địa phương trung thành ngoan ngoãn nhất là... Bình Định. :)) Chỗ nào cũng xảy ra chuyện ít nhất 1 lần, BĐ yên phăng phắc luôn. Hễ có giặc (như lúc Xiêm xâm phạm) thì quan BĐ giơ tay xin đi ngay lập tức, lực lượng quân BĐ vô cùng hăng hái nữa cơ.

---

Túm lại thì MM rất có biểu hiện của 1 SoT điển hình. Dễ nóng đùng đùng nhưng cũng dễ nguôi, những cách đối xử của MM so sánh trước sau nhiều khi... như 2 người khác luôn. Giận thì đem hết anh em của tướng giặc ra chém, lúc nguôi thì túm được đứa khác lại lắc đầu "tội của cha anh nó, liên quan gì đến nó". Nhất là nhiều khi MM chỉ có cái miệng độc địa xỉa xói người ta thôi, chứ án lại giơ cao đánh khẽ (như với LVD).

Lợi hại nhất là từ đầu đến giờ, chưa thấy ai cãi lại, nói lại được bác. =.= Việc gì bác cũng có thể lôi từ kinh sách 18 đời cho đến thiên văn địa lý, kinh tế chính sự thời sự ra biện hộ được hết.

---

Nghe nhắc đến cái truyện gì đó đã được giải thưởng lúc trước, về tính "sát lịch sử". Hị hị, ngay dòng đầu tiên thấy chữ "sông An Cựu" là biết "có nghiên cứu" cỡ nào. Sông An Cựu do GL đào đấy, nhìn bản đồ thấy nó thẳng băng như sợi chỉ hông.

Mấy cái này cũng tương tự như hồ Gươm chỉ có từ thời Trịnh, cho nên sẽ không có rùa (hay ba ba). Mà cái sự tích nguyên gốc "Vua đi chơi, cầm kiếm chỉ con rùa, kiếm văng ra nên rùa cùng kiếm lượn mất" e rằng là vua Lê Trung Hưng. Rồi nó theo đà biến tấu thành Lê Thái Tổ cho nó hợp với "sĩ phu Bắc Hà".




Chép vụn 6
Friday, February 28, 2014 Author: Trường An

1833

Đọc sử phần về Bắc Thành thiệt là chóng mặt. Hạn hán xong rồi giặc cướp, giặc cướp xong rồi lũ lụt, lũ lụt thì cho đắp đê - đắp đê xong rồi bão. Dã man con ngan.

Dò lại sử ký, hóa ra nạn đói cũng xảy ra vô cùng thường xuyên. Những năm ghi "đói to" là 982, 1042, 1156, 1208, 1268, 1290, 1291, 1292, 1301, 1310, 1320, 1333, 1337, 1343, 1344, 1354, 1358, 1379, 1405, 1408, 1409, 1447, 1467, 1487, 1490, 1492, 1512, 1517, 1557, 1559, 1572, 1577, 1585, 1586, 1589, 1594, 1595, 1596, 1608, 1629, 1630, 1634, 1679, 1681, 1694, 1695, 1702, 1703, 1712, 1713, 1724, 1728, 1740, 1741, 1753, 1757, 1758, 1768, 1774, 1776, 1777, 1778, 1786, 1788, 1790. Mà hễ đói là có cảnh "dân nằm chết gối lên nhau", "thây chết đầy đường". Những năm 1594 - chết 1/3, 1596 - chết quá nửa dân số, năm 1723 "số dân 10 phần không còn lại một". Hay lúc Lê Thánh Tông đi đánh Bồn Man (Trấn Ninh sau này), dân 9 vạn chết đói còn 2000.

Thời "thịnh trị" Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông vẫn chết đói như thường. (Khâm định tổng kết lại đời Lê Thánh Tông: 11 lần hạn hán, 6 lần thủy tai, 4 lần có nạn đói "người chết đói nhiều". - Thật ra trong 37 năm trị vì thì cũng còn ít, còn được 16 năm yên bình.)(Hèn gì "Đời vua Thái Tổ, Thái Tông" có tin hạn hán, mất mùa liên tục mà vẫn là "lúa gạo đầy đồng". Chưa chết đói là được. Năm Thuận Thiên còn được đánh dấu là "được mùa" luôn. Trong cả ngàn năm, chỉ có 21 năm có ghi "được mùa to". '__')

Mà nghĩ lại thì sao không đói được? Chỉ phụ thuộc vào mỗi ruộng đất, lúa chỉ có 2 vụ, dù có khai hoang thì thiên tai một cái là đói ngay thôi. Ruộng đất Bắc bộ có to lớn, tốt gì cho cam. Các ngành nghề khác, dù có cả mỏ vàng mỏ bạc cũng chả tới phần nông dân (vàng cũng đâu có ăn được), có đóng thuế thì cũng chỉ giàu quốc khố. Ngay ở miền Trung, buôn bán phát đạt kiểu gì mà nhổ lúa trồng bông, mất mùa một phát là đói ngay, tiền không mài ra mà ăn được. Đến năm 1337 đời Trần Minh Tông mới biết trữ thóc kho để phòng khi khẩn cấp. Nhưng tất cả đồng loạt bị thì như năm 1833, phát kho ở Bắc gần hết sạch, phải đem thóc từ Nam ra.

(Nên những truyện lịch sử quân sự hay xuyên không đều vô cùng "ảo". Xây dựng quân đội, khoa học kỹ thuật kiểu gì mà thiên tai một cái cũng tiêu đời.)

(Thời Lý ghi ít nạn đói có thể vì... không còn sử, hoặc do số người còn ít. Từ cuối thời Lê sơ trở đi, nạn đói xảy ra thường xuyên, liên tục đến chóng mặt (cũng có thể do lúc đó đã cho chép sử). Có lẽ một phần cũng do dân số tăng, ruộng đất ít. Người miền Bắc thích tập trung trong làng mạc hơn là đi xa, mà hễ đói đi xiêu tán thì thường... họp nhau ăn cướp, làm loạn =__= hoặc đi xin.

Muốn giải quyết vấn nạn này thì chỉ có thể cho đắp đê, khai khẩn đất đai, trữ lương thực, trồng hoa màu ngắn vụ kèm thêm. Khổ nỗi là... dân ếu để yên cho người ta làm. "Nắng mưa là chuyện của trời", mà chuyện của trời nghĩa là... do vua, thiên tai là tại tội của ông vua.)


Vua lại hỏi: “Dân gian trồng trọt hoa màu có những thứ gì?”. Tâu: “Khoai, đậu”. Vua hỏi: “Sao không trồng lúa hồng mạch?”. Tâu: “Sợ thứ lúa ấy không hợp với khí tiết mùa đông”. Vua nói: “Đầu mùa đông chưa rét, thứ lúa hồng mạch còn có thể cấy được. Ta thường sai cấy lúa ấy ở hậu cung. Hễ cấy từ tháng 8, thì đến nay đã chín; cấy từ tháng 9, tháng 10, thì nay đã xanh tốt. Thứ lúa ấy dễ làm, mà có thể giúp cho khỏi đói”.

=> Cơm gạo đỏ "đặc sản" của miền Bắc, cực kỳ phổ biến cho đến rất gần đây, ai có quen người trung niên ở quê thì biết :)) (bên cạnh món cơm độn - "một củ khoai cõng 3 hạt cơm" thời trước 75).



(Tự nhiên lại nghĩ: Trong hoàn cảnh như thế, có khi tầng lớp địa chủ lại là thành phần tích cực. '__' Để nông dân cày cấy riêng, mất mùa là mất hết, chẳng bằng tập trung về cho địa chủ phân phối lương thực. Khi đó nông dân có thể làm việc khác kèm với nông nghiệp để tích trữ tiền, khi mất mùa, địa chủ có nâng giá gạo đem bán thì vẫn có thể mua được.)

---

Trong cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi, nhận ra nghi ngờ của MM về quan binh của GĐ là có cơ sở, vì LVK đánh tới đâu là quan tướng... bỏ thành chạy hết. Toàn bộ binh lực, hỏa khí, vũ khí của GĐ tập trung ở thành Phiên An, đến mức có báo cáo "nó có 3000 thùng thuốc nổ, quân bên ngoài có... 30 thùng".

Thời kỳ đầu cuộc chiến, MM cho khôi phục tế tự cho vua Chiêm Thành, ra sức lấy lòng Bình Thuận.

MM điều hành cuộc chiến này, ờ, phải nói là có óc logic cực cao, soi lỗi - phản biện - luận tội - chỉ trích điểm yếu trong mấy tờ sớ tâu cực giỏi. Thế mới nói người dùng binh đánh trận tốt mới chỉ 1 phần thôi, tham mưu - chỉ huy mới quan trọng.

Nhưng MM vẫn bị điểm yếu to lớn - Dễ tin người, hoặc chủ quan, hoặc quá dựa vào dữ liệu mình-biết. Đã bắt được Mạc Công Du phái người đi cầu viện Xiêm rồi mà không nghĩ sẽ có người khác đi thay. Đã biết mấy năm này Xiêm khiêu khích ở Vạn Tượng rồi mà không nghĩ nó sẽ đánh vào Gia Định. Thậm chí được tin báo tàu thuyền Xiêm lảng vảng ở Hà Tiên rồi mà vẫn nghĩ "nó đi tuần phòng". Đến lúc nó phát quân đi vẫn nghĩ "chưa chắc đã thế".

Có lẽ lý do to nhất là MM - cũng như VN - quá tự tin. Như lúc MM và LVD nói với nhau "Xiêm mà đánh sang đây thì ta đánh sang Bangkok nhà nó luôn", cho rằng Xiêm chỉ quấy rối ngoài biên thôi chứ không-dám đánh. Nhưng thực tế thì quân Xiêm lại nắm rõ địa thế, địa hình Chân Lạp hơn VN, cũng rõ tình thế Gia Định lẫn VN là "nếu để mất thì khỏi đòi", sự kết nối các phần lãnh thổ trong VN rất kém.

Có thể thấy MM nóng nảy dần - Thật ra MM chưa bao giờ tỏ ra kiên nhẫn. '_' Nhưng năm này quá nhiều việc nổ ra cùng lúc bão lụt - vỡ đê - hạn hán miền Trung - Lê Văn Lương - Lê Văn Khôi - Nông Văn Vân. Nạn đói xảy ra cùng lúc với chiến tranh.

---

Thành GĐ được xây quá vững, nên toàn bộ quan binh lẫn ông vua "lắm mưu nhiều chước" như MM cũng thúc thủ vô sách trước nó. '___'

---

Điểm kỳ lạ ở đây là lại thấy xuất hiện mấy cái tên cũ trong vụ án của Nguyễn Văn Thành. Người tố cáo cha con Nguyễn Văn Thành tên Nguyễn Trương Hiệu bây giờ lại là môn khách của Bạch Xuân Nguyên. Bạch Xuân Nguyên không biết có thù oán gì với Lê Văn Duyệt mà đòi "phải đào mộ quật xương Duyệt lên mới chịu". Lê Văn Khôi đi bắt Bạch Xuân Nguyên lại bắt luôn cả Nguyễn Trương Hiệu giết cùng.

Mà con trai của Nguyễn Văn Thành là Nguyễn Hàm lại ở trong quân của Lê Văn Khôi. '_' Nguyễn Văn Thành là người GĐ nên có con ở đó cũng bình thường. Có điều LVD với NVT ghét nhau như chó với mèo.

---

Những thành phần đặc biệt trong quân nổi loạn thành Gia Định:

Bọn Khôi bèn làm hịch ngụy xui giục dụ dỗ nhân dân quanh tỉnh đại lược nói: Con cháu họ Lê đã nổi dậy ở miền Bắc, hẹn chúng làm nội ứng để phục lại cơ nghiệp nhà Lê. Vả lại, Lê Văn Duyệt đã quá cố, là ân súy của chúng, không can cứu gì mà bị tội, cho nên chúng dấy quân để phục thù cho Duyệt v.v... (hịch văn là do Đặng Vĩnh Ưng và Đinh Phiên làm, lời lẽ phần nhiều bội nghịch). Những người theo đạo Gia tô ở trong tỉnh hạt, những người Thanh kiều ngụ, những người man Quang Hóa và những binh lính Thanh thuận, An thuận, Bắc thuận đào ngũ đều theo bọn Khôi.

Giặc liền cướp giữ tỉnh lỵ, dùng Lê Đắc Lực làm ngụy Trấn phủ, Đỗ Văn Dự làm ngụy Hiệp trấn đem cơ Hùng thắng ngụy (bọn kép hát của Lê Văn Duyệt) đóng giữ. (Dự vốn là họ công tính Nguyễn Hựu. Vì cớ theo giặc, cho nên đổi theo họ mẹ. Trước kia, Dự làm Hiệp trấn Hà Tiên, can án xâm phạm của công, bị tống ngục. Khôi tha cho và dùng làm ngụy Hình bộ thiếu khanh).

Lại mật dụ lũ Lê Phúc Bảo, Lê Đại Cương, Tô Trân, Ngô Bá Tuấn, Phạm Xuân Bích và Trần Văn Quán rằng: "Giặc Khôi làm loạn, phần nhiều là lũ Hồi lương, Thanh thuận và An thuận giúp nó làm ác. Vả lại, các tù phạm Bắc Kỳ, năm trước, bị phát vãng đi các địa phương Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, sau đó được tháo xiềng khóa, tha ra, dồn bổ làm lính, cấp cho trâu cày nông cụ để làm nghiệp. Lũ này phần nhiều là côn đồ quen làm tội ác. Vậy, phải nên đề phòng trước đi. Lũ ngươi nên bắt đến tập hợp lại, giam cầm nghiêm ngặt, xét xem kẻ nào mang lòng phản trắc thì cho chém ngay. Lại, trong các cơ thuộc tỉnh mình hễ có những kẻ Hồi lương, Bắc thuận, An thuận và Thanh thuận trước đây được dồn bổ làm lính cũng nên để ý đề phòng trước, chớ nên nhẹ dạ tin".

Thự Tuần phủ Biên Hòa là Vũ Quýnh, phái viên Phạm Duy Trinh và Lê Đức Tiệm tâu rằng: "Tuân theo sắc chỉ, bọn thần đã điều tra về đầu mối cuộc nổi loạn ở Phiên An, thì: Lê Văn Khôi là đầu sỏ, thứ đến Nguyễn Văn Bột, lũ Thái Công Triều, Lê Đắc Lực, Nguyễn Văn Chắm, Dương Văn Nhã đều là bè đảng, rồi sau đến lũ cam tâm theo giặc chịu chức của giặc, như: Nguyễn Hàm (con Nguyễn Văn Thành (chết) ngụy xưng là Tòng súy phủ kiêm Ngũ khuông vệ), Mạc Hầu Hy (con Mạc Công Du, ngụy xưng là Thủy quân kiêm lĩnh Ngũ dinh, trước can án chở lậu gạo bị giam ở ngục Phiên An), Vũ Công Tước (ngụy xưng thủy quân) cộng hơn 70 người. Còn người giữ tiết nghĩa cao, không chịu khuất bị giặc giết chết, duy có 2 người là Phó quản cơ cơ Phiên võ Bùi Văn Thuận và Đề lao Nguyễn Như Xuân mà thôi.

Người Thanh ở phố Lạc Dục, huyện Long Xuyên, tỉnh Hà Tiên là Lâm Đại Mạnh, Lâm Nhĩ, Trịnh Đại Nô tự xưng là Nhất ca, Nhị ca và Tam ca tụ họp đến vài trăm quân giết viên Tri huyện Nguyễn Văn Năng cùng với vợ con và môn thuộc của viên ấy đến 12 người. Người Thanh ở phố Lạc Tân là Trịnh Thần Thông và Trần Biện nguỵ xưng là Chánh phó thống binh, cùng với bọn trên kết làm bè đảng, rông rỡ cướp bóc.

Lại có người nhà Thanh theo giặc, tên chánh yếu phạm là Trần Thục Ân (tự xưng là Thiên địa hội, nhận nguỵ chức là Cai phủ. Trước đây, Ân tụ họp hơn vài trăm đồ đảng cướp bóc ở phố Hà Tiên, dân cư đều bỏ nghề nghiệp, lánh đi) lẩn trốn ở đất Hà Châu.

Suất đội vệ Cẩm y là Nguyễn Văn Nghị từ Nam Kỳ về. Vua hỏi tình hình quân và dân. Văn Nghị tâu nói: “Quan quân tới đâu, dân tình vui vẻ, cũng có người nhỏ nước mắt khóc, kể rằng vì bị giặc tàn phá, của cải không còn sót lại tí gì!”. Vua nói: “Hạt ấy người đông của lắm, phong tục xa hoa, vụt chốc phải đến như thế, thực đáng than xiết!”.

Văn Nghị lại tâu nói: “Nghe nói trước đây những người Thanh theo giặc, đi đến đâu rông rỡ tàn ngược, hiếp dâm vợ con người, giết cha anh người; trăm họ rất khổ sở!”.

Vua nói rằng: “Nếu đúng như lời ngươi nói, thì người Thanh kia hung ác quá lắm, sao lũ Nguyễn Văn Trọng lại nhận cho chúng đầu hàng ? Khi tâu lên không từng nói đến việc ấy ? Vả, chúng vẫn quen tính dữ tợn, nếu nhất khái rộng tha, thì chính là trút cái mình không yêu cho người mình yêu, còn lấy gì để yên ủi lòng dân ta được?

“Vậy, dụ truyền lũ Nguyễn Văn Trọng: nếu những sự việc đã nghe đó là hư hão cả thì thôi; nếu có, thì chuẩn cho lập tức đem lũ mới đầu hàng ấy chặt 4 ngón tay bên phải, chia phát đi an trí ở nơi biên viễn, còn tài sản của chúng cũng kiểm tra, niêm phong lại, để đợi xử án, chớ nên nhù nhờ nuôi kẻ gian ác để hại cho dân đen”.

“Lại, các quân Hồi lương, Bắc thuận, Thanh thuận, An thuận, và những hào mục Thanh - Nghệ mà Lê Văn Duyệt mang về, đều là đồ đảng liều chết của giặc từ sau khi thua chạy vào thành, có tên nào lẩn vào dân gian hay không, đã từng bắt được hay không?

“Lại lũ đi đạo Gia tô đi theo giặc thì trong đó tất có giáo trưởng người Tây chạy vào thành với giặc hoặc ở lẩn trong dân gian, tức thì tra xét bắt giải đến Kinh trừng trị.

“Lại, trong con hát phường trò của Lê Văn Duyệt, trước đây nhiều kẻ theo giặc, quấy rối cướp bóc dân gian, nay nếu trốn ở chỗ nào, nhất thiết bắt cả để trị tội."

(Trong thành còn có 1 đạo trưởng Gia tô tên Phú Hoài Nhân, được MM bổ vào ty Hành nhân. Có lẽ chính người này chỉ huy lực lượng Gia tô giáo trong thành.)

---

Tổng đốc Hà - Ninh là Nguyễn Kim Bảng tâu nói: "Hà Nội có chiếc thuyền buôn "Đại địch" của người lái buôn nhà Thanh, đi buôn không thấy trở về, vậy xin liệt vào hạng mất tích, cho miền thuế". Vua bảo Nội các rằng: "Trước giờ, nghe nói có nhiều lái buôn nhà Thanh hay đem các thuyền đã lĩnh bài bổ rồi chở trộm gạo về Quảng Đông, đổi làm hình dạng thuyền khác trở lại, chực mong miễn thuế. Đó là mánh lới, gian giảo của con buôn! Sao được lấy cớ là mất tích mà xin miền thuế? Thuyền ấy, cứ người bảo lãnh, bắt phải nộp thuế cảng hằng năm, đợi khi nó trở lại sẽ xét xử. Nguyễn Kim Bảng phải phạt lương 3 tháng và truyền cho các địa phương: Từ nay về sau, hễ có lái buôn nhà Thanh đóng thuyền, xin chịu thuế cảng, chỉ cho đi buôn ở trong nước ta thôi, không được trở về Trung Quốc hoặc đi Tân Gia Ba. Nếu có thuyền nào lén lút đi về, không trở lại, thì trách cứ ngay người bảo lãnh, mà thu thuế, lại sẽ trị tội nghiêm ngặt!".

Ngày Canh thìn, làm lễ Xuân hưởng. Hôm ấy, sấm dậy ở phía nam. Tòa Khâm thiên giám đem việc đó tâu lên và dẫn sách Quản Khuy nói: "Sấm mùa xuân dậy ở phương Nam, năm ấy có hạn hán nhỏ". Lại nói: "Mùa xuân, tháng giêng có sấm, thì dân đói!". Vua phê bảo rằng: "Đất phương Nam không được dày dặn lắm, cho nên dương khí không chứa được nhiều, dễ bốc lên. Mùa đông còn có sấm, nữa là mùa xuân? Vả lại, còn mấy ngày nữa đến tiết "Kinh chập", thì ngày hôm nay đã đến thời hậu rồi, còn lấy gì làm lạ nữa? Xưa có nói: "Trong trăm dặm, chỗ có sấm, chỗ không có sấm", huống hồ khí hậu phương Nam lại khác hẳn. Chỉ đọc sách cổ, mà không xét đoán theo khí hậu thì chẳng phải sách làm lầm các ngươi, mà chính các ngươi tự làm lầm mình! Duy khí mùa đông mà rét nhiều thì mùa hè chẳng khỏi nóng nhiều, hoặc đến tháng 5, tháng 6, có hạn hán chút ít, cũng là lẽ thường thôi. Đọc sách quý ở chỗ biết suy xét cho thấu nghĩa lý. Các ngươi kiến thức nông cạn, sao đủ nói điềm hay, điềm dở?".

Vua nhân bảo Nội các rằng: "Triều ta được nước, vốn không phải lấy của nhà Lê, nhưng nối theo chính thống, cũng nên chọn một chỗ đất để phong cho con cháu nhà Lê, tức là cái ý nhà Chu phong nước Kỷ, nước Tống.

"Lại nữa, từ Thuận Hóa trở vào Nam, xưa là nước Chiêm Thành, nay là của nước nhà. Được nước của người, há nên làm tuyệt sự thờ cúng của người hay sao ? Vậy cũng nên theo lệ, phong cho một chỗ, để việc cúng tế của nước Chiêm được tồn tại".

Lại dụ Tướng quân Nam Kỳ là Phạm Văn Thúy và Tham tán Trương Minh Giảng rằng: "Giặc Khôi gây việc, động mở mồm là nêu danh nghĩa lập lại nhà Lê. Nay tên đầu sỏ là cái mầm nhà Lê gây việc ở Bắc Kỳ đã bị giết cả. Đó rõ ràng là chứng triệu giặc Khôi sẽ bị nộp đầu. Công lớn có thể tính ngày xong được".

Tuần phủ Định Tường là Tô Trân, tiếp tục phái Phan Văn Thu, Chánh quản cơ cơ Định uy thuộc Định Tường, đốc suất binh thuyền đi cứu. Rồi dâng sớ tâu lên, có nói: "Súng ống, hỏa dược của thành Gia Định trước đều còn ở Phiên An chưa từng chia cấp. Lại nữa, Lê Văn Duyệt trước kia làm nhiều hỏa khí để dùng hỏa công dự bị cho việc biên phòng, nay bị lũ giặc chiếm lấy, dùng để phản công, cho nên biền binh không đủ sức địch lại".

"Vậy phong tước cho Nguyễn Văn Thừa làm Diên An bá, lại trao cho chức Vệ úy, hàm Tòng tam phẩm, liền được chiếu theo chức đó chi lương và vẫn làm việc công ở tỉnh Bình Thuận. Từ nay về sau, chuẩn cho con cháu được thế tập để giữ việc thờ cúng của Chiêm Thành. Nếu người nào có tài năng phẩm cách đáng dùng thì Nhà nước cũng lại liệu cất nhắc, chứ không có ý phân biệt vì cho là người ở nơi biên viễn".

Nhân lúc ấy, có án thông với giặc phát ra, nên việc ấy phải thôi.

Thổ Tri châu châu Bảo Lạc, tỉnh Tuyên Quang là Nông Văn Vân làm phản.

"Và tỉnh Phiên An từ sau khi chia đặt tỉnh chia hạt, Tổng đốc Nguyễn Văn Quế mỗi tháng ngồi công đường 2 lần, hoặc 10 ngày 1 lần, việc trong tỉnh đều do Bạch Xuân Nguyên quyền tạm chuyên làm. Việc gì cũng hà khắc, và xét nét từng ly từng tí. Từ Lãnh binh đến Suất đội, hơi có việc gì không như ý, thì mắng nhục ngay. Những ván gỗ do cơ binh ở thành đi lấy về, đều thu giữ cả. (Trước đây phát giác vụ án về ván gỗ của lũ nghịch Khôi, phàm ván gỗ do cơ binh ở thành lấy về, sức sai, thu giữ tất cả). Nhà cửa quân và dân ở trong thành đều bắt rỡ bỏ hết đi, người ta đều oán cả. Đến như nết xấu về những vụ tham ô cũng có nhiều. Và vụ án về ván gỗ, thuyền bè mà ngụy Khôi, ngụy Bột đã can phạm, đã có chỉ sai nghiêm xét, mà Nguyễn Chương Đạt không từng xiềng xích giam cấm, lại thường đêm đến thả cho về nhà. Trại quân trong thành mỗi trại có 5, 6 hoặc 10 người canh giữ, quân chính trễ tràng biếng nhác, cho nên lũ kia mới nhân lúc sơ hở nổi lên biến loạn".

Ngày Giáp thân, vua ngự điện Văn Minh, bảo thị thần rằng: "Bắc Kỳ có nạn lụt, nhân dân bị khổ trong vòng tối tăm đắm đuối, ta là cha mẹ dân, nỡ nào cứ hưởng yên vui cho đành? Vậy, bắt đầu từ ngày nay, những món ăn ngự thiện do viện Thượng thiện dâng tiến thì giảm đi một nửa. Nhất thiết ca nhạc đều bãi bỏ. Các vật châu ngọc quý báu ở trong cung cũng đều giảm bớt đi. Chim muông ở vườn thượng uyển, đều thả ra hết. Lại sắc cho nội cung: Phàm người có danh vị thì chiểu theo phẩm trật mà ăn mặc, không được xa xỉ quá. Các nữ tì không được tiếm dùng đồ gấm vóc, ăn uống nên có tiết độ, không được vượt quá mức".

Giặc bèn đặt Trấn thủ hưu trí cũ là Mạc Công Du làm ngụy Trấn phủ, bè đảng của giặc là Trần Hiệu Trung làm ngụy Tuyên phủ, em của Du là Mạc Công Tài, con của Mạc Hầu Diệu đều làm ngụy Thống lãnh để cho cùng với hơn 10 người Hồi lương, Bắc thuận chiếm giữ (khi nghịch Khôi mới làm phản, con Du là Mạc Hầu Hy theo giặc, Phạm Xuân Bích mật bắt Du và Mạc Công Tài lên tỉnh giam lại).

Lý lại được tin dò thám báo rằng: nghịch Khôi đã sai sứ sang Xiêm La, đi theo đường sông Vĩnh Tế, nhân bắt được người do Mạc Công Du sai phái là Nguyễn Văn Mân (Mân là Cửu phẩm thư lại cũ ở An Giang, là người thuộc hạ thân tín của Du, Du nhân nghịch Khôi trát sức chọn người am hiểu tiếng Xiêm đến Phiên An đợi lệnh bèn sai Mân đi) sai đem tờ mật thư, lấy nghĩa lý trách bảo Du, sai trước hết bắt chém lũ tội phạm Hồi lương, Biên lương và Bắc thuận và theo bắt thuyền và người ngụy sứ.

Dụ sai Mạc Công Tài, Mạc Hầu Diệu hội với Thành thủ úy Phú Quốc là Nguyễn Văn Sương, Suất đội Thanh Châu là Nguyễn Văn Thụy bắt được ngụy Chánh sứ là Nguyễn Thụy, Phó sứ là Nguyễn Văn Quý và 21 người tòng đảng luôn với các thư từ của ngụy, trong lũ ấy có 6 người Hồi lương, lập tức chém giết ngay tại chỗ. Còn người theo đạo Tây dương cùng ngụy Tuyên phủ ở tỉnh là Trần Hiệu Trung đều đưa hết về tỉnh An Giang, xích và giam lại.

Trước kia, đồn Ninh Biên thất thủ, Thành thủ uý Trương Phúc Nguyên từ trong chỗ giặc thoát về, nói quan quân ở đồn nhiều người bị giặc giết hại, chỉ còn sáu, bảy mươi người bị giặc bắt nấu bếp. Đảng giặc gồm có người Thanh, người Thổ, người Nùng, người Man không kém hàng vạn tên.

Vua dụ Binh bộ rằng: “Gần đây, do quân thuỷ quân bộ các đạo đại binh ở Nam Kỳ đánh dẹp giặc luôn bị thua tan vỡ, có nhiều kẻ tản đi trốn tránh, bị nhân dân bắt được giải nộp. Vả, lũ ấy trước đã cam tâm theo giặc cướp bóc dân lành, kịp khi đại binh tới nơi, lại không biết hối tội, đầu hàng ngay, thì chúng là lũ về bè với giặc, quyết khó xử tội nhẹ được. Vậy truyền dụ cho các Tướng quân, Tham tán: phàm lũ giặc trước sau bị nhân dân bắt giải, đều cho giết đi, chớ nên giam trong quân để phải canh giữ thêm cho nhọc."

Vậy, truyền chỉ cho Bùi Tăng Huy và Phạm Đình Trạc ở tỉnh Cao Bằng tức thì sai dân sở tại chỉ chỗ phần mộ cha ông tứ đại nhà Lê Văn Khôi, đào lên lấy thi hài đốt rồi đổ đi, để làm gương răn loạn thần, tặc tử nghìn đời. Vậy em và cháu của Lê Văn Khôi, con của Đặng Vĩnh Ưng, của Đinh Phiên và của Lưu Tín tất cả cộng 14 tên phạm, hiện giam ở các tỉnh đều trảm quyết (Trảm quyết: chém ngay, không cần xét xử). Rồi phái hai viên khoa, đạo: một viên đến tỉnh Quảng Nam, một viên đến tỉnh Nghệ An và Lạng Sơn, đều cho biền binh phái áp giải các phạm nhân đến chợ, chính mắt viên ấy cùng Tổng đốc và Tuần phủ trông coi hành hình. Con cả Đinh Phiên là Đinh Văn Trác bị truy đoạt bằng sắc, đục bỏ họ tên trên bia tiến sĩ. Cha Đặng Vĩnh Ưng là Đặng Văn Tuân phải đưa đến quân thứ Gia Định, sai chiêu dụ Ưng ra hàng. Nếu Ưng không chịu ra hàng thì chém đầu Tuân đi (Cha Khôi là Bế Văn Kiện vì phản loạn đã bị người chém giết, quăng xác đi ; duy mộ ông nội của Khôi, là Bế Văn Sĩ, cứ theo dân chỉ, đào đổ đi).

Vua bảo thị thần là Nguyễn Khoa Minh rằng: “Năm hình đặt ra, là để cho dân biết đường tránh, không dám phạm, giết một người mà nghìn muôn người sợ. Đấy là ý đặt ra hình phạt để mong không ai phạm vào hình phạt nữa. Gần đây, phàm lấy trộm của công, tất bị trị tội nặng, thế mà lũ ấy không sợ hãi gì, vẫn còn lấy trộm, thật rất đáng ghét!

“Ôi! chính sách mãnh liệt quá thì tàn dân, đã đành không phải là đạo trung chính, nhưng rộng rãi quá thì dân không biết sợ! Thực khó thay, đối xử với tiểu nhân!”.

Vua dụ Nội các rằng: “Trước đây quan quân trong đạo binh của Tham tán Nguyễn Xuân, đánh giết người Thanh, ta trước kia cho rằng Tướng quân và Tham tán không biết hiểu dụ họa phúc trước, khiến cho biền binh hiếu sự làm bừa để đến nỗi tàn hại nhiều mạng người, lòng ta không yên. Gần đây hiểu rõ sự trạng thì ra lũ người Thanh ấy đều là hạng dữ tợn, đáng ghét. Khi quan quân vừa đến, chúng liền họp bọn, cả thuỷ lẫn bộ, luôn mấy ngày cố chết chống cự ra mặt, thì quan quân có phải đánh giết một phen thật dữ, chắc cũng là thế bất đắc dĩ. Vậy cuối cùng quan quân ta bắt chém được hết sạch để tuyệt mầm ác, thì cũng không phải là không nên. Vậy thưởng cho Nguyễn Xuân gia quân công kỷ lục 2 thứ, những người cùng đi trận ấy, Quản vệ, Quản cơ đều được [quân công kỷ lục] một thứ, biền binh thưởng tiền 1.000 quan”.

“Ôi! Đạo làm tướng cốt lấy trí, dũng làm đầu, chứ có cần chăm lo đến nhân hậu nhu mì đâu ? Nếu kéo dài cho giặc được chậm chết, thì trăm họ không yên ở, quân lính bị nhọc nhằn, thế là bất nhân mà lại không khôn nữa!"

Bố chính Đoàn Khiêm Quang và án sát Doãn Uẩn ở tỉnh Vĩnh Long tâu nói: “Sau khi lấy lại tỉnh thành, dân trong hạt và người nhà Thanh có nhiều người tình nguyện tự xuất của nhà, để giúp lương ăn cho quân, cộng được tiền hơn 2.280 quan, gạo 490 phương, thóc 100 hộc”.

Vua nhân đó cùng với các thị thần bàn về tính chất các vị thuốc, nói: “Phàm các vị thuốc, dùng đúng thì hay, như nhân sâm, cam thảo, dùng lầm thì cũng hại người; bạch giới, bạch chỉ, khéo dùng thì cũng có công hiệu. Vậy biết trong khoảng trời đất không có vật gì bỏ đi, chỉ cốt ở người ta khéo dùng thế nào đó thôi!”.

Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng và Tham tán Lê Đăng Doanh tâu nói: “Dân ở hạt Gia Định và An Giang tình nguyện bỏ của nhà để giúp vào quân lương tiền năm nghìn quan, gạo một nghìn sáu trăm phương”. Vua sai truyền chỉ khen thưởng; số tiền gạo đã quyên ra ấy giao cho Tuần phủ Gia Định Hà Duy Phiên, chứa vào kho, khi nào trong quân cần dùng, sẽ đem số tiền và gạo ấy để chi cấp. Đến lúc trong nước được yên, sẽ chiểu theo số, trả lại. Lại sai bộ Hộ ghi tên, đợi sau này sẽ chước lượng khen thưởng.

Vua dụ bộ Binh rằng: “Bọn người Thanh ngụ ở Phiên An trước đều là nghèo túng không có chỗ nương tựa, sang nước ta là đất yên vui để làm ăn sinh sống đã lâu, lại không yên lành, đi theo bọn giặc, bọn quân chống lại quan quân, đến nỗi chụm đầu chịu giết, đó đều chúng tự làm ra. Còn như người Thanh ở các tỉnh, từ trước chưa hề dính líu đều được vô can, chắc rằng có thể giữ được không xảy ra việc gì; nhưng e rằng trong đó còn có một vài người còn sợ và ngờ, phải nên săn sóc bảo ban cặn kẽ."

Người đạo Gia Tô ở Nghệ An là Trần Danh Nguyên tụ họp đồ đảng để mưu tính làm việc phi pháp. Cai đội thuộc tỉnh ấy là Phạm Đình Trâm thông đồng với Nguyên, bị người ta tố cáo ra. Tổng đốc Tạ Quang Cự bí mật phái biền binh đi lùng bắt, bắt được Nguyên và Trâm cùng 14 tên đồng bọn, luôn với giấy tờ, ấn tín nguỵ.

Đình thần tâu lên vụ án Lê Văn Duyệt giấu riêng các giấy trắng đóng dấu lưu không. Họ nói: “Xét ra: Duyệt khi bị bệnh, sai điển thủ thư ký là bọn Phan Bá Nhã đem các tờ mật chiếu, mật dụ, chỉ truyền và giáo từ, đốt đi hết cả, việc ấy tỏ ra lại càng càn rỡ. Thế mà con hắn là Lê Văn Yến có lòng che giấu, tội ấy đều không trốn được”.

“Có tên Ngô Đức Nhuận là lính ở đội Gia tín, kho Gia Tín trước, giòng dây trốn ra khỏi thành có đệ trình một tờ giấy do chữ viết của Suất đội Phan Văn Trọng, trong nói: [trong thành] hiện nay ở kho chỉ còn hơn 60 vạn 4 nghìn 4 trăm 80 quan tiền, thứ bạc đĩnh 10 lạng còn hơn 1 nghìn 4 trăm 20 đĩnh, thứ bạc đĩnh 1 lạng còn hơn 2 trăm 60 đĩnh. Thóc còn 9 vạn 4 nghìn hộc, muối 8 nghìn 4 trăm phương, thuốc súng 5 vạn 2 nghìn 2 trăm cân, ống phun lửa 600 chiếc. Đảng nguỵ hiện còn hơn 2 nghìn 6 trăm 30 tên, voi 17 thớt."

“Người Xiêm vào xâm lược, tưởng chúng có ngón gì trội để đánh nước người ta, nên ta cũng lo, nhưng nay quan quân mới đến An Giang, giao phong một trận, giặc liền thua chạy, thì chúng chẳng qua cũng chỉ là quân ô hợp có gì đáng lo đâu?”.

Tả phó đô Ngự sử Phan Bá Đạt tâu rằng: “Cái đạo trị dân phải có pháp luật để trị, mà pháp luật cần phải có người tốt rồi sau mới thi hành được. Nếu dùng không được người tốt thì lập pháp để phòng gian lại trở thành cái túi tham cho kẻ gian giảo hoạt”.

Chủ tàu nước Phú Lãng Sa là Xa Di đến buôn ở tấn Đà Nẵng tỉnh Quảng Nam đem bán vàng giả. Việc phát giác. Vua bảo bộ Hộ: “Hắn là người ngoại quốc, nếu chiếu luật làm tội, thì nước hắn tất nhiên che giấu tội ác của hắn, lại bảo là ta ức hiếp lái buôn phương xa, trở mang tiếng là không tốt. Vậy nên tha cho hắn về, nhưng hạ lệnh cho ty Thương bạc tư cho quan địa phương nước hắn tra hỏi trừng trị. ấy cũng là cái ý trừng trị bằng cách chính mình không trực tiếp trừng trị”.



Hú hú, xong 3 cuối òi. :bee: Đọc thôi mà cũng thấy mệt, làm vua thế này thì... quá khổ luôn, lại còn đi "bao sân" thiên văn thủy lợi, kỹ sư nông nghiệp, chỉ huy chiến trường... ect.

Cảm thấy đời sống văn minh nông nghiệp nó túng quẫn, tăm tối, luẩn quẩn vô cùng tận. /___\




Chép vụn 5
Wednesday, February 26, 2014 Author: Trường An

1830-1832

Những năm sau này đánh dấu sự thay đổi rất lớn của MM, đặc biệt về tôn giáo và thái độ với các quần thần.

Về tôn giáo, cần nhắc đến những biến loạn tại nước Pháp và châu Âu, đặc biệt là cuộc CM Tháng Bảy năm 1830. Lưu ý là bên cạnh MM có khá nhiều người Pháp, và MM cũng đã tỏ ra biết khá rõ về cuộc CMTS Pháp trước đó. Những chính sách bài Thiên Chúa giáo của MM xuất hiện ngay vào 1831-1832 hẳn không phải là trùng hợp tình cờ.

Cuộc CM Tháng Bảy của Pháp nảy sinh từ Lệnh cấm báng bổ Thiên Chúa giáo do nhà vua Charles X đặt ra, trong đó cấm bất cứ hình thức báng bổ thần thánh (Thiên Chúa) nào, từ nghĩa đen đến nghĩa bóng, và đặt mức độ xử phạt khác nhau - Nặng nhất là tử hình. Cùng với món nợ lớn mà nước Pháp phải chịu sau chiến tranh thời Napoleon, người dân lại tiếp tục lật đổ nhà vua. Có hơn 3000 người chết trong cuộc nổi dậy này.

Sự biến này đã kéo theo cuộc nổi dậy vào tháng 8 ở Brussels và miền Nam Hà Lan có dân cư phần lớn thuộc Thiên Chúa giáo đòi độc lập với chính phủ Tin lành, dẫn đến thành lập nước Bỉ. Ở Ý và Ba Lan cũng có những cuộc nổi dậy tương tự. Cả châu Âu bị cuốn vào cuộc xung đột tôn giáo lần nữa sau thời kỳ Kháng cách.

Thời gian này cũng là lúc những thuộc quốc đấu tranh tách rời khỏi các đế quốc lớn ở châu Âu, thành lập những quốc gia nhỏ độc lập (như hiện nay). Cuộc CM Công nghiệp kéo theo hàng loạt cuộc nổi dậy lớn nhỏ của công nhân, đặc biệt là ở Pháp - Dẫn đến kết quả là Cách mạng mùa xuân năm 1848.

Hoạt động cấm đạo bắt đầu được thực hiện:

Phủ Thừa Thiên có dân xã Dương Sơn (thuộc huyện Hương Trà) mê hoặc đạo giáo Gia tô đã lâu, xây nhà thờ, thờ thiên chúa, suy tôn người Tây dương là Phan Văn Kinh làm đạo trưởng, họp nhau giảng đạo cầu kinh. Việc phát giác. Quan phủ [Thừa Thiên] gọi cả đến công đường khuyên bảo lại đến hai, ba lần, rút cục vẫn không có một người nào chịu bỏ đạo. Vua giao xuống bộ Hình bàn xử. Bộ xin kết án tên thủ phạm là lý cựu Phạm Văn Khoa phải tội giảo giam hậu (Giao giam hậu: tội bị thắt cổ nhưng còn được giam lại, đợi vua quyết định.), tòng phạm là lý trưởng Trần Văn Tài bị tội mãn lưu (Mãn lưu: tội bị đày xa hơn 3.000 dặm và phải làm việc khổ dịch trong 10 năm (theo Từ nguyên), Vũ lâm phó đội là Trần Văn Sơn bị cách chức, cùng với 13 người lính, đều bị đóng gông 1 tháng, khi mãn hạn phải đánh 100 trượng, rồi phân phát đi làm lính ở các nơi Quảng Ngãi, Thanh Hoa. Ngoài ra đàn bà đàn ông ở dân ấy bị đánh roi, đánh trượng rồi tha. Đạo trưởng Phan Văn Kinh thì tâu xin xử tội giảo giam hậu, đợi lệnh, nhà thờ đạo thì dỡ đi. Lời nghị tội ấy dâng lên, vua cho được giảm : Trần Văn Tài phát vãng sung quân ở Trấn Ninh, Phan Văn Kinh vì là người ngoại di ở phương xa, chưa thuộc pháp độ, được gia ơn cho làm lính ở phủ Thừa Thiên, nhưng bị quản thúc nghiêm ngặt hơn không cho ra ngoài để truyền giáo. Còn các binh lính là bọn Trần Văn Sơn, những ai đi Quảng Ngãi, gọi là “Phục nghĩa binh”, những ai đi Thanh Hoa, gọi là “Phục hoa binh” để phân biệt với các hạng lính khác.

Biền binh ở các ty, Cảnh tất, Loan nghi thuộc vệ Loan giá có người theo đạo Gia tô. Vua nghe thấy, nói rằng: “Đạo Gia tô, ta cho là chỉ có lũ ngu mới bị mê hoặc, không ngờ ngay ở bên tả hữu ta cũng có kẻ tin theo, thật rất đáng lạ”. Vua bèn sai bộ Hình bắt để trị tội.

Vua đặc cách tha tội cho họ, nhân dụ bộ Hình rằng: “Đạo Gia tô nguyên từ người Tây dương đem vào truyền bá đã lâu, dân ngu phần nhiều bị mê hoặc mà không biết hối. Thử nghĩ: cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ đều là chuyện hoang đường, không có bằng chứng. Hơn nữa không kính thần minh, chẳng thờ tiên tổ, rất trái với chính đạo. Thậm chí lập riêng nhà giảng tụ tập nhiều người, cám dỗ dâm ô phụ nữ, lừa gạt lấy mắt người ốm. Những việc trái luân lý, hại phong hoá, điều ấy kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật. Đạo ấy lại quy là tà thuật hơn đạo nào hết."



Đồng thời, năm 1830 đánh dấu có 10.000 thùng thuốc phiện được bán ở TQ. Điều này dẫn tới hàng loạt chỉ dụ của MM về thuốc phiện, ngày càng nghiêm khắc hơn. Hoạt động của cướp biển cũng ngày càng ác liệt hơn. Không rõ vì lý do gì, có thể sau sự kiện của Trần Nhật Vĩnh, thái độ của MM với LVD thay đổi. Đặc biệt sau này, nhiều án tham nhũng, làm trái pháp luật của quan lại ở Gia Định phát ra, LVD tuổi già thất bại trong cuộc tiễu trừ cướp biển Chà Và. Trong cuộc tiễu trừ cướp biển, quan tướng GĐ cũng không thành công. Sự buôn lậu gạo, thuốc phiện ở GĐ cũng vượt khỏi tầm kiểm soát. Thái độ của MM với GĐ ngày càng bực bội hơn, bắt đầu châm biếm LVD từ chuyện lặt vặt trở đi.


Trấn thủ Phiên An Nguyễn Hữu Thuyên, Hiệp trấn Phạm Vũ Phác, nguyên thự Tham hiệp Nguyễn Thừa Giảng, vì xử án không đúng bị dân trong hạt kiện, vua ra lệnh đều phải giải chức, đợi xét xử.

Thự Hiệp trấn Bình Thuận là Lê Hữu Đức bị lỗi, phạt xuống đến 5 cấp, giáng bổ làm Hàn lâm viện Tu soạn.

Vua nói rằng: “Những vật nhà nước cần dùng không thể thiếu được. Những sản vật các địa phương sản xuất, không mua ở dân thì lấy đâu cho đủ dùng. Chỉ sợ hữu ty không biết giữ lòng công theo pháp luật mà thôi. Như năm trước mua đậu khấu mỗi 100 cân trả đến trên dưới 150 lạng bạc, thế mà bảo hộ Chân Lạp là Nguyễn Văn Thuỵ cùng phạm viên là Trần Nhật Vĩnh chỉ trả 50, 60 lạng, lại còn nói tự xuất của nhà để cấp thêm. Bọn ấy đã mưu gian cho đầy túi, lại đổ lỗi cho bề trên, thì dân mọn ở biên thuỳ còn trông mong gì nữa. Trẫm đã từng mạt sát mối tệ, đinh ninh răn bảo, không biết Hộ tào ngày nay là Ngô Bá Nhân đã biết soi gương ấy hay chưa!”.

Giặc biển Chà Và nổi Trẫm ở ngoài biển Phù My trấn Bình Thuận cướp bóc thuyền buôn rồi đi. Thành Gia Định cũng dâng sớ báo rằng các hạt Biên Hoà, Vĩnh Thanh, Hà Tiên đều có thuyền giặc đi lại cướp bóc của cải và thuyền của nhân dân.

Chưởng Tả quân, lĩnh Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt chết. Truy tặng Tá vận công thần, Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Tả quân Đô thống phủ, Chưởng phủ sự, Thái bảo, Quận công, thuỵ Uy Nghị. Ban cho 10 cây gấm màu, 10 tấm nhiễu màu, 3.000 quan tiền, trước hãy ban một tuần tế, đến ngày an táng lại cho một tuần tế nữa. Rồi đó, sắc cho hai vệ Tả bảo nhất và Tả bảo nhị thuộc Tả quân đồn thú ở thành Gia Định rút về hàng ngũ ở Kinh, vệ Minh nghĩa rút về tỉnh Quảng Ngãi, chia bổ vào 6 cơ Tĩnh man, còn lính trước ở cơ An thuận thì cứ cho lưu lại liệu bổ vào các đội Tả sai, Tả thuận, đợi sau khi an táng Lê Văn Duyệt xong thì về Kinh. Bọn thuộc binh, viên tử, hào mục của Duyệt thì sung bổ vào chân khuyết trong cơ đội ở thành, ai muốn về quê quán thì giao sở tại ghi vào sổ để chịu sai dịch.

Lê Văn Duyệt nguyên Tổng trấn Gia Định, có giấu riêng 1 thớt voi. Bộ Binh xét rõ, đem việc tâu lên. Vua dụ Nội các rằng: “Voi trận không như trâu ngựa, tư gia sao được nuôi riêng. Lê Văn Duyệt ương bướng, tự phụ, cậy công kiêu rông, thiên lệch, nghe theo lời nói của tiểu nhân, liều lĩnh dám làm, thực có can phạm pháp luật. Các tào ở Gia Định thành đều có biết cả sự việc, nếu vì sợ quyền thế đè nén, không thể can ngăn được, thì cũng nên làm tập tấu kín dâng lên, chứ sao lại cam lòng hùa theo, một loạt bưng mồm nín lặng? Đáng lý phải nên trị tội, song vì Duyệt đã chết rồi, nên cho miễn nghị tội. Các tào cũng được gia ơn rộng tha, nhưng phải truyền chỉ nghiêm quở."



Bắt đầu thực hiện hình lệnh khắc nghiệt:

Vua bảo hộ Hình rằng: “Trước đây binh dịch ở kho cho đến quan lại trông coi thông đồng làm bậy phát ra thì nhẹ tay, đong vào thì nặng tay, lợi mình, thiệt người, cái gì cũng làm! ta vẫn biết rõ hết nên khi việc phát ra tất trị tội nặng để răn kẻ điêu ngoa. Lại nghĩ đổi lại cách thức cái hộc, cái phương đặt làm quy chế lâu dài. Chẳng ngờ một tấm khổ tâm của ta lo nghĩ vì quan quân, dân chúng đặt ra khuôn phép tốt lành để tỏ sự tin thực công bằng ấy lại bị bọn kia dám dở nhiều ngón, xảo trá xoay cách vơ vét, thật đáng căm giận xiết bao! Tên chính phạm Đinh Văn Tăng, tội chết có thừa, chuẩn cho lập tức chém đầu đem bêu và chặt một bàn tay, ướp muối phơi khô, rồi treo lên mãi mãi, để quan lại binh lính chức dịch trông thấy sờn lòng, không dám phạm nữa, cho hợp với ý lập pháp của đế vương xưa: dùng hình phạt để mong đi đến chỗ không cần hình phạt nữa. Bọn lại coi kho là Nguyễn Danh Chấn hằng ngày cùng nhau làm việc, hẳn có dự vào tham tang, bọn ấy đều là lũ dạy khỉ leo cây, đều bị tội giảo nhưng còn được giam để đợi lệnh. Suất đội Nguyễn Viết Tân có trách nhiệm kiểm soát, há lại không biết rõ tình trạng, vậy phạt 100 trượng, đồ 3 năm; 40 người lính coi kho cùng một tội ác, dựa nhau làm gian, há có thể nghe cho chối cãi. Vậy đều đem đóng gông để ở cửa kho 1 tháng, khi hết hạn đánh 100 trượng, đuổi về hàng ngũ cũ, phái lính khác đến thay. Đoàn Văn Chử bí mật do thám được sự thực thì thưởng 20 lạng bạc, ghi tên để bổ chánh đội trưởng. Bố chính Lê Nguyên Hy vì không xem xét phải giáng chức. Lại có hai kho Xích Đằng ở Sơn Nam và Hải Dương bọn lại viên và người coi kho đem cái quan hộc kiểu mới tháo ván đáy ra, đẽo trũng rồi lắp vào; lại nặng tay ấn gạo xuống, gạt ngược để lạm thu. Vua bèn đặc cách sai chủ sự bộ Hộ là Trần Ngọc Hà đến hội với quan tỉnh Hưng Yên xét xử vụ án này. Khi án xong, bọn Nguyễn Đình Hiển và Lê Văn Thanh đứng đầu đều bị chém bêu đầu và đục lấy mỗi bên một mảnh xương sọ, phơi gió cho khô, treo ở cửa kho mãi mãi, để răn người khác, còn thì xử chém, thắt cổ, sung quân và phát lưu có thứ bậc khác nhau. Thưởng cho Nguyễn Văn Nghị 20 lạng bạc. Còn quan trấn ở hai nơi ấy đều bị giáng chức. Tự đó kho ở Hưng Yên, dân đều nộp tô thuế, tuyệt không có kẻ làm khó dễ để sách nhiễu nữa.

Được tin ấy vua bảo quần thần rằng: “Ta muốn trị kẻ có tội để ngăn ngừa khỏi mắc tội, bất đắc dĩ mới dùng hình phạt tàn khốc ấy. Nay tệ ấy do đấy quả đã trừ được. Ôi! lấy một mảnh xương sọ mà cứu được ức muôn người khỏi khổ luỵ, thì dù có mang tiếng là hình phạt tàn khốc cũng không hề gì!”.

Trần Quang Tĩnh, nguyên Bắc thành Binh tào Tham tri kiêm lĩnh Đê chính, trước kia vì đê Sơn Tây vỡ, bị tội đồ và phải đền tiền hơn 1.600 quan, giao thành Gia Định giam và truy thu, mới được hơn 400 quan. Đến nay tuổi gần 70, Tĩnh không có sức bồi thường được nữa, quan thành Gia Định vì Tĩnh mà trần tình tâu lên. Vua tha cho.

Lại truyền dụ cho các nha môn trong Kinh và ngoài các tỉnh đều biết: từ nay về sau ai nấy nên một mực giữ lòng công bình trung chính, bỏ hết tình diện nể nang. Này, bè bạn dẫu là một trong ngũ luân, nhưng ý nói của thánh nhân, là chỉ về lúc người ta chưa ra làm quan! Khi chưa làm quan thì không có những sự phát giác tham hặc về việc công, chỗ bạn hữu còn có thể lấy tình nghĩa mà chơi với nhau, thương yêu nhau và giúp đỡ nhau. Một khi đã dâng lễ tương kiến để làm tôi, thì vì nước quên nhà, vì công quên tư, dẫu đến vợ con thân mình và nhà mình, khi gặp việc nghĩa phải làm, người xưa phần nhiều không nghĩ đến tình riêng, phương chi là bè bạn. Vả lại, cái hoạ bè đảng, các đời Hán, Đường, Tống và Minh, gương sờ sờ còn đó. Xét ra, lúc đầu chẳng qua giao du trò chuyện, hoặc chuốc tiếng mua ơn, cho người ta thân thiết với mình để một ngày kia giúp đỡ nhau; về sau thói quen ngày càng ăn sâu: bênh vực bè đảng, đả kích người ngoài, mọi việc che đậy, nịnh bạn, dối vua, rồi mắc tội không thể tha thứ! Đó há không phải là do ban đầu, chưa trừ bỏ cái tệ nể nang, để đến nỗi mắc phải tai hoạ không thể lường được ấy? Thử nghĩ: phải tội với trời còn không thể kêu cầu đâu được, huống hồ là bè bạn ư? Chẳng qua lòng riêu kéo bè, làm việc mờ tối, lại càng dắt nhau xuống giếng nào có ích gì?

Người Bình Định là Lê Văn Lễ làm thư nặc danh tố giác bọn Nguyễn Văn Thể che giấu nòi giống Tây Sơn là Nguyễn Văn Lương (con Nguyễn Văn Nhạc) và Nguyễn Văn Trượng (con Nguyễn Văn Đức, Đức là anh tên Lương). Quan trấn thần bắt được bọn Thể, nghiêm giam rồi mật tấu lên. Vua sai ngay Tả tham tri Hình bộ là Trương Minh Giảng lĩnh cờ bài khâm sai, đem theo thuộc viên ở bộ và trấn phủ vệ Cẩm y đến nơi để tra xét. Những tên phạm bị bắt đều nói rằng hai tên Lương và Trượng nghe tin lùng bắt đã trốn đi, nếu không ở Thạch Thành trấn Phú Yên, thì ở trong hạt Gia Định. Giảng tâu rõ duyên do. Vua bèn sai truyền chỉ cho các quan địa phương từ trấn Phú Yên trở vào Nam đến Gia Định, cho đi mọi nơi dò bắt, lại treo giải thưởng cho quân dân ai bắt được hai tên phạm ấy giải nộp quan thì thưởng cho 100 lạng bạc, thám báo được sự thực thì thưởng cho 50 lạng bạc, nếu dung ẩn và dẫn đường cho phạm đi trốn thì xử cùng tội.

... Lại sai đình thần xét lại án của dòng dõi nguỵ là Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Đâu, đều chém ngang lưng, ném thây xuống bể, thân thuộc và con gái của nguỵ cùng con của đồng đảng nguỵ là Trần Quang Tồn (con nguỵ Thiếu phó Trần Quang Diệu), kẻ phạm tội chứa chấp nguỵ là Nguyễn Văn Thể cộng 15 tên đều trảm quyết. Những thân thuộc của nguỵ còn nhỏ tuổi và Lê Thiện Anh khinh thường thả dòng dõi nguỵ, Trần Văn Tha tri tình mà cố ý tha, cộng 14 tên phạm đều phải án chém nhưng được giam đợi lệnh. Lại phát vãng làm quân, làm nô lệ, và bị tội đồ, tội lưu tất cả hơn 40 tên phạm. Còn bao nhiêu đều tha.

“Vua tôi nghĩa như xương thịt, lúc nhàn rỗi vui cười có ý kiến gì cứ nên bày tỏ thẳng, Trẫm há lại lấy văn tự mà tranh hay với thần hạ sao? Đời trước Tuỳ Dạng Đế nhân câu “Không lương lạc yến nê” (Không lương lạc yến nê: bùn chim én rơi ở nhà vắng vẻ.) của Tiết Đạo Hành mà sinh lòng ghét, Trẫm rất khinh bỉ. Phàm vua mà mở lòng dung nạp, thì tài trí của thiên hạ đều là tài trí của mình. Vì bằng thánh như Nghiêu Thuấn, nếu không biết nghe người nói, nộp lời can ngăn, bỏ ý riêng theo người, thì dẫu có các quan như tứ nhạc(Tứ nhạc: chỉ chư hầu bốn phương.) cửu mục ( ửu mục: chỉ mục bá ở chín châu.) thì có ai ra sức trung thành với mình”.

Đắp thành đất 10 phủ ở Bắc Kỳ.

"Nhân nghĩ nhà nước đặt phép cốt lợi cho dân, mà thưởng phạt cũng là phép thường. Bọn phái viên nếu một niềm công trung, giữ theo pháp luật, không đua nhau lấy lợi nhỏ, mà sách nhiễu ngoại lệ, khiến người ta vui vẻ đi lại mà thuế nhà nước được thêm thì cũng nên khen thưởng để khuyến khích. Nếu có thể khoe khoang thanh thế, ráo riết lạm thu, lái buôn lớn thì sợ đi lại, dân buôn nhỏ thì phải nộp đến kiệt quệ đến nỗi thuế khoá vì thế mà tăng giảm, những vết xấu ấy cần phải nghiêm trị để nêu điều trung chính mà răn kẻ tham ô."

Thị lang Nội các là Phan Thanh Giản và Trương Đăng Quế dâng bài tụng đại khánh, thuật các công việc tự lúc vua lên ngôi đến nay, siêng lo chính trị làm gốc để được phúc hưởng thọ. Vua phê: “Bọn ngươi không lo cố gắng làm hết chức phận, cứ ngày thêm lầm lỗi, nay lại làm bài văn vô dụng này đối với lầm lỗi có bổ ích gì? Trẫm có thích nịnh ngoài mặt đâu? Vậy ném trả lại và truyền chỉ quở mắng”.

Bộ Hình dâng án ăn trộm. Người phạm ấy giữa ngày khánh tiết ăn trộm ở trước thể lâu. Vua ghét quá, sai cắm tên nỏ vào hai tai dắt đi dong phố cho mọi người biết. Lại đánh 100 côn hồng, xử tội trảm giam hậu.

Tiết Hạ chí, Khâm thiên giám suy nghiệm độ cao của mặt trời ở kinh sư để tiến lên. Vua dem bản vẽ chỉ bảo cho, mới biết là sai. Dụ rằng: “Bọn ngươi chức vụ là việc xem xét khí tượng mà không có kiến thức đích xác như thế, đáng lẽ giao nghị tội, nhưng còn nghĩ trước đây suy toán phép lịch biết được giây phút nguyệt thực lại tròn và trích ra được chỗ lầm của người Thanh cũng là đáng khen, nay hãy miễn cho. Sau này phải cho tinh tường hơn, không có một chút sai lầm mới được”.

Thự Tham tri Hình bộ là Nguyễn Công Trứ tâu rằng: "Từ Vĩnh Thanh trở về Nam đến Hà Tiên, đất rất màu mỡ, mà những ruộng cấy lúa được chưa khai khẩn hết. Xin đem các tù phạm an tháp ở đấy". Vua nói rằng: "Ngươi mới biết được một, chưa biết được hai. Hà Tiên là chỗ biên thuỳ, tiếp giáp nước Xiêm, nếu thả cả bọn tù phạm ra đấy, quan sở tại quản thúc có chỗ không chu đáo, một khi chúng trốn đi, ở nước ta thì chúng là người có tội, đến nước khác thì chúng lại là người có công, tệ hại sẽ không nói xiết". Rồi các địa phương liền theo nghị dồn bổ làm binh, dâng sớ tâu lên. (Quảng Ngãi thì đội Quy Ngãi; Bình Định thì 2 đội Bình Thiện; Phú Yên thì 5 cơ đội Yên Man; Bình Hoà thì 2 đội Hoà Thiện; Bình Thuận thì 2 đội thuộc binh; Phiên An thì đội An Lương; Vĩnh Thanh thì đội Vĩnh Lương; Định Tường thì đội Tường Mỹ, Hà Tiên thì đội Biên Lương; Nghệ An thì phủ Trấn Ninh 3 đội Ninh Thiện, phủ Tương Dương 3 đội An Thiện, Thanh Hoa thì 2 đội Thiên Thiện, Nam Định thì đội Hướng Thiện).

Vua dụ bộ Hộ rằng: "Nhà nước đúc tiền cho dân đủ tiêu dùng. Lại sợ dân ngu thấy lợi mà dễ phạm phép, cho nên có luật cấm đúc tiền trộm, phép nước rất nghiêm, là để dứt hẳn cái tệ điêu bạc. Nay lại nghe nói người nước Thanh đúc tiền ở nước ấy đem đến trộn lẫn để dùng khiến hàng hoá đắt mà tiền rẻ, có lẽ cũng do cớ ấy. Vậy hạ lệnh cho quan Bắc Thành nghiêm sức cho hạt duyên biên, phàm chỗ giáp giới nước Thanh, đường thuỷ, đường bộ, cửa ải, bến đò phải tìm cách dò thám, nếu có kẻ chở tiền kẽm từ nước Thanh đến thì bắt trị tội".

Bắc Thành lấy học trò trong hạt thành là bọn Hoàng Bỉnh Dy và Ngô Thập sung vào ngạch cống cử, bộ Lễ tâu rằng Bỉnh Dy là dòng dõi Hoàng Ngũ Phúc, Thập là em Ngô Hiệu, Ngũ Phúc có tội với bản triều, Hiệu thì có tên ở sổ nguỵ, Dy Thập không nên cho đứng hàng ngang với kẻ sĩ áo xanh. Vua bảo rằng: “Nhà nước đã có thể thống hà tất bo bo giữ hình tích làm gì. Vả bội nghịch vô đạo như Tây Sơn còn không nỡ giết hết cả họ, nữa là Hoàng Ngũ Phúc và Ngô Hiệu, tội chỉ ở bản thân nó, chứ con cháu thân thuộc có can gì. Không nên quá câu nệ. Hoàng Bỉnh Dy và Ngô Thập có thể đều cho Giám thần xét hạch, nếu dự trúng cách thì cũng cho học ở Quốc tử giám.

Vua dụ: “Trẫm rất thích thơ cổ hoạ cổ, cùng sách lạ của cổ nhân, mà chưa tìm được nhiều. Bọn ngươi nên để lòng tìm mua đem về dâng. Vả lại Trẫm nghe nói những nhà quan ở Yên Kinh nhiều người chép sách riêng, nhưng vì việc quan thiệp đến nhà Thanh, cho nên chỉ chứa riêng ở nhà, chưa dám đem ra khắc in. Bọn ngươi nếu thấy những sách loại ấy dẫu còn là bản thảo cũng không kể giá đắt cứ mua”.

Vua lại bảo bộ Binh rằng: “Địa thế nước ta ở ven biển, vốn lấy thuỷ quân làm món sở trường. Nhà Lê xưa không phòng thuỷ chiến, đến nỗi bại vong. Tây Sơn sau khi được nước cũng coi khinh thường không chịu thao luyện cho tinh. Thuỷ quân của Hoàng khảo ta tiến một trận giặc liền tan vỡ, dư uy lừng lẫy, cũng vì cớ đó. Nay tuy gặp buổi thanh bình, thuỷ quân càng không thể coi thường được. Nên bắt thao diễn luôn để ngày thêm tinh thục rồi cho tuần xét ngoài mặt biển để dẹp yên giặc biển, thế cũng là làm một việc mà được hai.

Tham hiệp Quảng Nam Nguyễn Đức Hội bị tội, phải cách chức. Hội cư xử trong gia đình không có khuôn phép. Người vợ bị đuổi, vào kêu ở Kinh. Đình thần bàn rằng Hội là người giữ việc nuôi dạy dân mà không cảm hoá được một người đàn bà, làm nhục cả đám quan thân (Quan thân: quan là mũ; thân là dải áo. Quan thân chỉ vào bọn làm quan.). Xin giải chức giao trấn xét hỏi. Hội cuối cùng bị cách chức, phái theo bộ Lễ sai phái gắng sức làm việc chuộc tội.

Các hoàng tử hoàng nữ thấy mùa hạ nóng nực nhiều người bị ốm, xin tự xuất thuốc men, sai thầy thuốc đặt nhà phát thuốc không lấy tiền ở những chỗ đông đúc trong kinh thành để phát thuốc cho người ốm. Vua cho làm.

Vua dụ bộ Công rằng: “Bắc Thành thống hạt 11 trấn, từ trước đến nay chỉ có một đường cái quan từ Sơn Nam trở lên bắc đến Nam Quan. Những chỗ khác trấn tiếp giáp nhau, còn nhân đường nhỏ của dân gian mà đi lại cũng vẫn chưa có đường lớn giao thông. Giả sử khi có việc cần cấp, sao khỏi trở ngại chậm trễ được? Vậy tư cho quan thành căn cứ vào các trấn lỵ, chỗ nào có thể mở đường cái to, khiến cho khi có việc công, tiện thông báo lẫn cho nhau và liên lạc tiếp ứng với nhau để chặn bắt giặc cướp. Lại ngay từ các trấn lỵ hoặc nhân đường mới này, hoặc mở đường khác, xem có thể chạy ngựa trạm đến thẳng kinh đô, thì lập tức sai sở tại xem xét tình thế, liệu chỗ đặt nhà trạm, rồi vẽ thành bản đồ, báo về bộ để tâu lên”.

Viên phân châu Khâm châu nhà Thanh, đưa thư cho tỉnh Quảng Yên nói giặc biển quấy nhiễu, có bọn thuyền buôn nhà Thanh là Trần Kim Phát, tình nguyện tự xuất công, xuất của ra biển nã bắt, đã được cấp giấy chấp chiếu cho phép không phân biệt bờ cõi, cứ việc đuổi bắt, mong rằng bên ta xét rõ không nên ngăn trở nhau. Thự Tuần phủ Lê Đạo Quảng cho là việc có quan hệ biên phòng, bèn tâu rõ lên, xin chỉ định đoạt. Vua dụ rằng: “Hải phận nước ta, dẫu giáp liền với nhà Thanh, nhưng bờ cõi đã có ranh giới rõ ràng sao lại nói là không phân biệt được? Ví phỏng bắt giặc, thì đôi bên đều phái binh thuyền, hải phận mình mà chặn bắt, thì giặc còn trốn đi đâu ? Há nên tính sẵn đến bước phải vượt bờ cõi của nhau ư?”. Vậy lập tức sức cho thổ Tri châu ở Vạn Ninh phải chiếu theo bản thư phúc đáp của bộ gửi đến mà viết tinh tả để trả lời. Từ nay về sau có việc gì trọng đại, quan hệ đến quốc thể mới được tâu lên. Còn việc tầm thường như việc này thì cứ tự đi trả lời quyết không có lý nào chiều theo lời xin của họ. Cứ việc một mặt tâu trình đầy đủ, một mặt thi hành cũng chẳng hại gì chứ  không nên loanh quanh kêu xin đợi lệnh, chỉ thêm chậm trễ ra thôi!”.

Đổi trấn Thuận Thành làm phủ Ninh Thuận. "Nay đương lúc nước nhà đã thống nhất, thanh danh văn hoá đã mở mang, tức như phủ Tương Dương ở Nghệ An; phủ Cam Lộ ở Quảng Trị đều đã đặt ra phủ, huyện, chia bổ quan chức. Đến như các phủ đất mới mở cũng đã bỏ thổ quan đặt lưu quan, mọi việc đều được sắp xếp đâu ra đó. Thế mà một hạt Thuận Thành phong tục vẫn nguyên như cũ hình như chỉ tạm ràng buộc, e chưa hợp với nghĩa đồng đều chung một phong tục. Vậy xin đặc cách sai quan Kinh một phen kinh lý để cho sự thể được giống như người Kinh”.



Thuyền buôn của Đô-ô-chi Ly người nước Pháp bị bão chìm ở phận biển Đà Nẵng. Nhà vua sai tỉnh Quảng Trị cấp cho 100 quan tiền 50 phương gạo, tìm chỗ cho ở. Nhân tiện cho đi về nước.

Phái viên thuyền Phấn bằng là bọn Vệ uý Trần Văn Lễ và Thị độc Nguyễn Tri Phương tự Tiểu Tây dương về, đem ngựa thiên mã (cao hơn 3 thước 7 tấc) Tây Vực dâng lên. Có người ở trận Bình Hoà tên là Du Gi lưu ngụ ở nước ấy gần 50 năm, đến bây giờ theo thuyền quan về, cho tên là Nam Phúc, trao chức Chánh đội trưởng, sung ty Hành nhân.

Binh thuyền của nước Phú Lãng Sa đến đậu ở cửa biển Đà Nẵng, nói là vâng mệnh vua nước họ, muốn được một viên quan ở nha Thương bạc đến nói chuyện. Vua sai sung biện Nội các Thị giảng học sĩ Nguyễn Tri Phương đến để dò hỏi, thuyền trưởng nhất định không nói. Lại sai Thị lang Trương Đăng Quế quyền chức quan Thương bạc đến. Thuyền trưởng ấy nói rằng vua nước ấy muốn cùng nước ta giao hiếu, nhưng xa cách biển khơi không đạo đạt được, nay nghe tin nước Hồng Mao mưu đồ xâm lất đất Quảng Đông (Trung Quốc), thế tất rồi cũng lan đến nước ta, nên vua nước ấy sai đến báo tin dặn ta đừng giúp Quảng Đông.

Trương Đăng Quế về tâu, vua cười nói rằng: “Nước ấy muốn mượn việc đó làm ơn với ta để mong đạt kế muốn giao hiếu đó thôi. Nước Hồng Mao mưu lấn nước Thanh, có can thiệp gì đến ta”. Lại sai Nguyễn Tri Phương đến bảo cho họ biết. Khi Tri Phương đã về thuyền ấy vẫn còn dùng dằng chưa đi, tự tiện lên núi Tam Thai (Tam Thai: núi Non nước.) để xem xét, lại nói muốn được một người hoa tiêu cùng đi ra các hạt Bắc Thành để vẽ đồ bản. Viên tấn thủ báo về, bộ Binh tâu lên. Vua nói: “Vào nước người ta tất phải hỏi các điều cấm. Vượt qua hải phận còn có điều lệ nghiêm cấm huống chi muốn vào nước người mà vẽ địa đồ mang về sao họ vô lý đến thế ! Tấn thủ không biết lấy lời lẽ nghiêm nghị mà cự tuyệt, động một tý là tâu báo, sao lại không có định kiến như thế!”. Sai Tri Phương lại đến hiểu thị thuyền ấy mới đi. Bọn Thành thủ uý án thủ hai đài thành An Hải, Điện Hải là Lê Văn Tường, Thủ ngự Đà Nẵng là Nguyễn Văn Ngữ, Hiệp thủ là Trương Vân Loan, vì không ngăn cản được việc họ lên núi, đều bị cách chức.

Đúc súng bắn liền 4 phát mẫu tử liên châu. Vua khen tinh xảo, thưởng cho các thợ áo quần và bạc lạng theo thứ bậc.

Quốc trưởng nước Nhã Di Lý (Nước này ở Tây dương, hoặc gọi Hoa Kỳ, hoặc gọi là Ma Ly Căn, hoặc gọi là Anh Cát Lợi mới đều là biệt hiệu nước ấy) sai bọn bề tôi là Nghĩa Đức Môn La Bách Đại, Uý Đức Giai Tâm Gia (tên hai người) đem quốc thư xin thông thương thuyền ở cửa vụng Lấm thuộc Phú Yên. Vua sai Viên ngoại lang Nguyễn Tri Phương, Tư vụ Lý Văn Phức đi hội với quan tỉnh, lên trên thuyền thết tiệc và hỏi ý họ đến đây làm gì. Họ nói: “Chỉ đến vì muốn giao hiếu và thông thương” nói năng rất cung kính. Đến lúc dịch thư ra có nhiều chỗ không hợp thể thức. Vua bảo không cần đệ trình thư ấy. Rồi cho quan quyền lĩnh chức Thương bạc làm tờ trả lời. Đại lược nói: “Nước ấy muốn xin thông thương, cố nhiên là ta không ngăn trở, nhưng phải tuân theo pháp luật đã định. Từ nay, nếu có đến buôn bán thì cho đỗ ở vụng Trà Sơn, tấn sở Đà Nẵng, không được lên bờ làm nhà, vượt quá kỷ luật, rồi giao thư cho họ mà bảo họ đi”.




CC
Tuesday, February 25, 2014 Author: Trường An

Minh Mạng có tổng cộng 18 chị em gái, trừ những người chết sớm còn lại 13 người.

4 người chị:

- Ngọc Châu: Năm GL thứ 7 (1808), gả cho con của Nguyễn Văn Trương, năm MM thứ 14 (1833), chồng chết. Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) thì mất, có 1 con gái.

- Ngọc Quỳnh: Năm GL thứ 7, gả cho con của Phạm Văn Nhân, đến 1844 chồng mất, 5 năm sau cũng qua đời. Có 2 con trai, 2 con gái.

- Ngọc Anh: Cũng năm 1808, gả cho Trương Phúc Đặng. Năm 1827, đánh PBV không nghiêm, Đặng bị cách chức, rồi tự tử. Công chúa đi tu, đến năm 1850 qua đời. Có 1 con trai, 3 con gái.

- Ngọc Trân: Năm GL thứ 17 (1818) gả chồng. Năm sau qua đời, thọ 30 tuổi.

9 người em:

- Ngọc Xuyến: Năm 1818 gả chồng, ngay năm ấy phò mã chết. Sau lấy Vệ úy Trương Văn Minh, chồng cũng chết trước. Năm 1851, công chúa qua đời, không có con.

- Ngọc Ngoạn: Năm 1818 gả chồng, ngay năm ấy phò mã chết. Năm 1827, công chúa qua đời, thọ 33 tuổi, không có con.

- Ngọc Nga: Năm 1818 gả chồng, ngay năm ấy phò mã chết. Sau lại lấy Vũ Viết Tuấn, năm 1840, Tuấn tử trận khi đánh nhau với Xiêm. Năm 1856 qua đời, có 3 con trai, 2 con gái.

(Năm 1818 có sự kiện gì mà cả 3 phò mã đều chết thì không thấy ghi. '_')

- Ngọc Cửu: Năm 1823 gả cho con trai Lê Chất, năm 1830 chồng chết. Năm 1838, cả nhà chồng bị giết. Năm 1846, công chúa qua đời, có 3 con trai, 1 con gái.

- Ngọc Nguyệt: Năm 1823 gả chồng, năm 1846 qua đời, thọ 44 tuổi, có 5 con trai, 4 con gái.

- Ngọc Ngôn: Năm 1823 gả cho cháu Lê Văn Duyệt, năm 1838, phò mã bị xử trảm. Năm 1856, công chúa qua đời, có 3 con trai.

- Ngọc Khuê: Năm 1825 gả chồng, năm 1827 qua đời, 21 tuổi.

- Ngọc Cơ: Năm 1829 gả chồng, năm 1837 chồng mất, công chúa dựng am tu. Năm 1856 qua đời, có 2 con trai.

- Ngọc Thành: Năm 1829 định gả chồng, chưa cưới thì qua đời, 18 tuổi.


---

Bắt đầu thấy oải. Nhưng nếu mềnh mà bỏ không đọc tiếp thì cũng coi như bỏ luôn Đông biên. Vì toàn bộ thứ sử biên-phiên-xuyên đều không xài được. =0= Mà đọc ngắt đoạn nhảy cóc thì chẳng 'thấy' được cái gì.

9 chúa, 11 ông vua, 9 cuốn, một mình MM chiếm 4 cuốn, mỗi cuốn cả ngàn trang. =___________= Hèn gì MM bảo người có tài mới đọc sử được, quả là cần kiên nhẫn phi thường.

(Thôi, xong 2 cuốn rồi, còn 2 cuốn nữa thôi. *lăn lăn*)

---

Hầu hết các con số về "nghèo đói" thời đó được "hân hạnh vinh danh" trước đây đều là sau chiến tranh hay sau các cuộc nổi loạn. Cái vòng luẩn quẩn xiêu tán - làm loạn - xiêu tán - nghèo đói - xiêu tán - làm loạn. Chống Pháp được vậy đã tốt. =.=

---

Ghi chép về MM mà đôi lúc phì cười với những "dạy vượn trèo cây" mí lị "con rối làm trò, đáng sợ mà không đáng tin". Nhận xét của MM về kiêu binh so sánh với CMTS Pháp khá là ngạc nhiên - Nhưng nghĩ lại thì lãnh đạo phá ngục Bastille chính là quân đội, rồi cũng chính tầng lớp này bị "bình dân" triệt tiêu.

---

Trước có bạn bảo mình viết về Trịnh Doanh đê, mình còn chưa kịp ngó hết. Nay xem tư liệu về Nguyễn Hữu Cầu, lại thấy Trịnh Doanh bắt được giặc rồi mở yến khao quân, bắt tướng giặc đứa dâng rượu, đứa thổi kèn. =0=

Vầng, Trịnh Doanh là NM (rút ra kết luận, đừng để lọt vào tay bọn biến thái này), lúc trước mềnh định bảo có bạn NM cool là bác này, nhưng giờ rút lại.




Chép vụn 4
Tuesday, February 25, 2014 Author: Trường An

1827 - 1829

Xử án sau Phan Bá Vành:

Những đồ đảng bắt được, án của thành xin đều trị tội như luật. Vua nói rằng: “Bọn chúng đều là con đỏ của triều đình, cũng có người sợ giặc tàn ngược mà bị hiếp phải theo, nếu đem xử cực hình cả thì lòng trẫm có chỗ không nỡ. Nếu một mực rộng rãi thì kẻ có tội lại được may mà khỏi. ở khoảng hai điều ấy, làm sao cho không oan uổng mà không bừa bãi thì được thôi”. Lại sai thành thần xét lại, cho giảm tội chết, phát đi sung quân gần 400 người.

Quan Bắc Thành tìm được sổ của giặc đem tâu lên, can liên đến quan dân hơn 800 người. Vua bảo bộ Hình rằng: “Hạt Bắc Thành thổ phỉ quấy rối, nay mới đánh được, dân tình còn đang sợ hãi, chính là phải nghĩ cách yên ủi vỗ về. Nếu chiếu sổ bắt giam tất cả, không khỏi rối loạn làng mạc, vương luỵ đến kẻ vô tội. Nếu im đi không xét thì kẻ càn bậy còn răn sợ làm sao. Vậy hạ lệnh cho thành thần mật bắt những người trong sổ mà có danh sắc đem xét hỏi trước, xem hư thực thế nào đừng cho người ngoài biết, dễ sinh ngờ sợ”.

Quan Bắc Thành tâu rằng: “Nam Định tự ngày thổ phỉ quấy rối, dân địa phương bị tàn phá, sau khi giặc dẹp yên, dân nhiều người bị đói, ba huyện Vũ Tiên, Thư Trì, Giao Thuỷ khổ nhất. Xin phái Thiêm sự Hộ tào là Nguyễn Văn Mưu đến hội với trấn thần phát chẩn, cứ 2 người cấp cho 1 hộc thóc hay 1 phương gạo, cho đỡ dân lúc gấp”. Vua theo lời tâu.

Kinh lược sứ là bọn Nguyễn Văn Hiếu, Hoàng Kim Xán đến Nam Định, đi thăm các huyện ấp, xét hỏi nỗi đau khổ của dân, tâu xin phàm các xã dân bị giặc đốt phá thì cấp cho mỗi nhà 2 quan tiền 1 hộc thóc; nhà nào phái viên ở thành đã phát chẩn thóc rồi thì cấp cho 2 quan tiền; người nào có nhà cửa mà của cải mất hết thì cấp 1 hộc thóc; người nào đánh nhau với giặc bị giết chết thì lượng cấp tiền tuất. Sơn Nam cũng theo như thế mà làm”. Vua y theo lời tâu. Tất cả chi hết hơn 5.700 quan tiền, hơn 1.980 hộc thóc.

Lấy Tả Thị lang Hình bộ là Nguyễn Công Trứ lĩnh chức Dinh điền sứ. Nguyên trước Nguyễn Công Trứ dâng sớ nói 3 việc:

1. Lập phép nghiêm cấm để trừ dứt trộm cướp. (Bắc Thành sau loạn Tây Sơn, tập tục kiêu ngoa, những bọn gian giảo, thấy lợi quên nghĩa, bắt cóc người, đào mồ mả để đòi tiền chuộc, tụ tập đồ đảng doạ nạt dân làng, tù trốn thì lấy nhà cường hào làm sào huyệt, tổng lý cũng lấy kẻ hung ác làm chân tay, để xưng hùng với nhau. Phàm gọi là làm loạn, không phải cứ đánh thành cướp đất mới là làm loạn; người không ở yên thuận lẽ cũng là loạn. Ngạn ngữ nói: “Loạn thì chém” không dùng phép nặng không ngăn được loạn. Xin đặt thêm hương trưởng mỗi làng 2 người, để coi sóc nhân dân khiến họ yên nghiệp làm ăn, ai du đãng trộm cướp thì báo quan ngay, nếu dung túng chứa chấp, việc phát giác thì tổng trưởng, hương trưởng, xã trưởng đều phải chém cả. Phàm cha anh không ngăn cấm được con em thì cho tự thú cáo trước, nếu giấu giếm đến lúc phát giác thì phải đồng tội. Như thế thì không ai dám phạm, mà trộm cướp yên tắt được).

2. Minh việc thưởng phạt để khuyến khích quan lại. (Nay lại dịch tham ô thường làm hại cho dân là bởi chưa có cách khuyên răn. Xin phàm các địa phương, nên thải bỏ những người hèn kém bớt đi một nửa, và cho thêm lương, để giữ thanh liêm; định lệ 3 năm, xét một lần, ai liêm cần thì được cất nhắc, ai khinh nhờn pháp luật thì không cứ việc lớn hay nhỏ, tang nhiều hay ít, đều trị tội cả, khiến ai ai cũng biết giữ mình. Như thế thì tham chuyển thành liêm cả).

3. Vỡ ruộng hoang cho dân nghèo. (Đời làm ăn xưa chia ruộng định của, dân có nghiệp thường cho nên ở yên nơi làng mạc không có gian tà. Ngày nay những dân nghèo túng, ăn dưng chơi không, khi cùng thì họp nhau trộm cướp, cái tệ không ngăn cấm được. Trước thần đến Nam Định thấy ruộng bỏ hoang ở các huyện Giao Thuỷ, Chân Định mênh mông bát ngát. Ngoài ra còn không biết mấy nghìn trăm mẫu, hỏi ra thì dân địa phương muốn khai khẩn, nhưng phí tổn nhiều, không đủ sức làm. Nếu cấp cho tiền công thì có thể nhóm họp dân nghèo mà khai khẩn, nhà nước phí tổn không mấy mà mối lợi tự nhiên sẽ đến vô cùng. Vả lại bãi Tiền Châu ở huyện Chân Định hoang rậm, trộm cướp thường tụ họp ở đấy làm sào huyệt, nay khai phá ra, không những có thể cho dân nghèo làm ăn, lại còn dứt được đảng ác. Xin sai trấn thần khám xét, phàm những đất hoang có thể khai khẩn được, cho những người địa phương giàu có chia nhau trông coi công làm, mộ những dân nghèo các hạt đến khai khẩn, như mộ được 50 người thì lập làm một làng, cho làm lý trưởng, mộ được 30 người thì lập làm một ấp, cho làm ấp trưởng; đều tính đất chia cho. Cấp cho tiền công để làm cửa nhà, mua trâu bò nông cụ; lại lượng cấp tiền gạo lương tháng trong hạn 6 tháng, ngoài hạn ấy thì làm lấy mà ăn, 3 năm thành ruộng, đến chiếu lệ tư điền mà đánh thuế. Quan phủ huyện sở tại lập kho chứa thóc để phòng năm mất mùa cho dân vay. Những làng ấp mới lập gọi là “quân Lực bản” ((1) Bản quân : xưa nay nghề làm ruộng là nghề gốc. Lực bản là ra sức vào nghề gốc.). Phàm các hạt xét thấy những dân du đãng không bấu víu vào đâu, đều đưa cả về đấy. Như thế thì đất không bỏ hoang, dân đều làm ruộng, phong tục kiêu bạc lại thành thuần hậu).

Bắt đầu đặt huyện Tiền Hải thuộc phủ Kiến Xương, Nam Định. Một dải Tiền Châu liên tiếp bãi biển. Trước kia cây cỏ rậm rạp, bọn cướp hay tụ họp ở đấy, không ai dám đến gần. Đã có câu nói "ai dám đến đùa quấy ổ giặc mà chơi". Lĩnh Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ đến nơi, chiêu tập phủ dụ lòng người mới yên.


Linh tinh:

(Luật thông gian) Điều quan lại ngủ nhà đĩ. Quan lại ngủ nhà đĩ thì xử 80 trượng, người mối lái xử nhẹ hơn 2 bậc. ấm tử, ấm tôn ngủ nhà đĩ đều xử nhẹ hơn quan lại 2 bậc. Giám sinh sinh viên ngủ nhà đĩ thì đều xử bắt về làm dân.

Vua từng cùng bầy tôi bàn về đạo làm chính trị. Dụ rằng: “Việc thiên hạ đến chỗ làm không được thì cũng phải biến thông thì mới chuyển vận được, cũng như sông để đi bè, biển để đi thuyền là lẽ thường. Nay chở gỗ đi đường biển thì thuyền không dùng được lại phải đóng bè mới đi được, xem một việc ấy thì biết việc khác. Trẫm từng nửa đêm suy nghĩ, những việc thi thố cũng muốn cho thiên hạ đời sau không ai nói vào đâu được, đến lúc thi hành lại thấy khó, cũng là thế như thế thôi. Phàm làm vua ở trên thiên hạ, bên tả, bên hữu, đằng trước, đằng sau, hăm hở mong mỏi không chỉ một việc mà thôi. Nếu việc này, việc khác đều thoả hết nhân tình thì làm sao cho được. Phàm mùa hạ thì phải nóng, mùa đông thì phải rét, khí hậu bốn mùa còn như thế nữa là việc chính trị à!”.

Mấy nghìn dân đói của các Man Sô Liên, Song Khả và Cổ Khẳng thuộc nước Xiêm xiêu tán đến ở phủ Bông Xuy nước Chân Lạp, hái lá cây và nấu bèo để ăn, nhiều người chết đói. Thành thần Gia Định đem việc tâu lên. Vua động lòng thương nói rằng: “Dân nước Xiêm xiêu tán đông như thế, nước Chân Lạp chứa thóc không được mấy, lấy gì giúp đỡ nhau. Trẫm thương dân như một, sao nỡ ngồi trông mà không cứu”. Bèn sai phát 4.000 phương gạo và 200 phương muối phát chẩn cho.

Giặc trốn ở Thanh Hoa là Ninh Đăng Tạo kết hợp đồ đảng, lén phát ở miền giáp giới Thanh Nghệ. Nhân dân bị hại đã lâu, trấn quan dùng nhiều cách tìm bắt, đồ đảng tan đi. Tạo thế cùng, ngầm đến Bắc Thành thú tội, lại không thú hết. Quan Bắc Thành tâu lên. Vua sai giết đi. Nhân bảo thị thần rằng: “Tạo tội ác đầy dẫy, không trốn khỏi lưới trời. Nó đã bị giết rồi thì vùng Thanh Nghệ được yên cả. Trẫm để lòng trừ tàn bạo để yên dân, kẻ không tội cố nhiên là thương xót, nhưng đối với kẻ đầu sỏ đại ác mà cũng thương thì chẳng là lòng nhân của đàn bà sao”.

Đặt Tượng cục pháp lam. Bọn Vũ Văn Mai, thợ vẽ ở Nội tạo, học được nghề làm đồ pháp lam(() Đồ pháp lam: đồ đồng tráng men, cũng gọi là pháp lang. Chữ Pháp là émail.). Bèn sai đặt cục ấy, hạn cho 15 người, thiếu thì mộ mà sung vào.

Người xã Đông Ngạc Sơn Tây là Phan Huy Tuệ dâng kiểu xe long đoàn, thuyền phượng dực. Vũ Khố bác đi. Vua nói rằng: “Kiểu xe thuyền ấy, tuy không ích gì, nhưng cũng là người có chí gắng sức khó nhọc xét dùng cũng không hại gì, để khuyến khích người có tài”. Sai cấp tiền gạo hằng tháng theo Vũ Khố sai phái.

Ngày Bính tuất, tế Trời Đất ở đàn Nam Giao. Trước đây Hữu ty làm cầu phao để qua sông Hương, lại sai bày quân thí nghiệm. Đến trước tế Giao một ngày, xa giá đến Trai cung, đi qua cầu phao nước sông tràn lên, bầy tôi đi theo đều sợ. Vua không biến sắc mặt, sai đổi lấy thuyền rồng theo hầu để sang sông. Người chuyên coi làm cầu là Nguyễn Tài Năng, người thí nghiệm là Phan Văn Thuý cùng người phù giá là Phạm Văn Lý đều bị đình thần tham hặc.

Vua lại nói: “Sử để ghi việc, không phải người học rộng không hiểu nổi. Vừa rồi sai các quan toản tu chức chế đến khi dạng bản tiến lên, lời văn nhiều chỗ quê mùa, thế mới biết tài chép sử là khó. Vả lại người Khởi cư chú ((1)Khởi cư chú: chức quan theo hầu vua, vua nói câu gì, làm việc gì, đều biên chép cả.) chép đủ việc hay việc dở, vua không nên xem. Xưa Đường Thái tông xem quốc sử, lại tự tay tước bỏ, trẫm cho là không phải. Người có chức trách cầm bút ghi việc, phải nghĩ làm thế nào cho muôn đời về sau tin được, phải cẩn thận nhé!”.

(==> Nên bây giờ phần sử của MM mới dài thế này =0=)

Vua đến ruộng Tịch điền xem lúa, bảo Kinh doãn là Đặng Đức Thiệm rằng: "Trẫm lúc ít tuổi, vẫn thích trồng trọt, cây đã trồng đều tốt rườm rà. Nay mới làm lễ cày Tịch điền, may gặp trời mưa, lúa tốt đẹp như thế há chẳng phải lòng trời ngầm giúp hay sao?"

Thuyền buôn Gia Định chở trộm nhiều gạo đem bán ở Hạ Châu. Vua bảo bầy tôi định lại chương trình để trừ mối tệ. Đình thần đều bàn rằng: “Việc bán gạo lại có nghiêm cấm, mà bọn buôn gian cứ thấy lợi thì làm, không sợ pháp luật. Nếu cứ để cho đi buôn mà đặt điều cấm thì pháp chế có rõ cũng không hơn được trước, sợ cũng chưa khỏi được sự gian lậu ở ngoài pháp luật. Muốn trừ tệ ấy chẳng gì bằng lấp cái nguồn đi là hơn. Nay xin từ nay về sau cấm hết thuyền buôn nước ta không được đến Hạ Châu buôn bán, làm trái thì chiếu luật buôn lậu mà trị tội”. Vua y theo.

Thái y viện tiến thuốc, chưa công hiệu, vua chán, liền mấy ngày không uống, Hoàng trưởng tử cùng các hoàng tử dâng sớ can khéo. Vua nói: “Thánh nhân chưa từng bỏ thuốc. Cha chúng mày lại trái với mọi người à!”.

Gặp có người thị vệ đi việc công ở Bắc Thành về, vua gọi hỏi về việc dân, nhân bảo thị thần rằng: “Việc đắp đê giữ lụt trẫm thường đến nửa đêm lo tính suy nghĩ đời sống của dân mà chưa được kế gì hay. Phàm đắp đê giữ lụt chẳng qua là tranh lợi với nước, tưởng cũng là vì địa thế khiến phải vậy thôi. Đất kỳ phụ ((1) Miền đất ở gần Kinh kỳ.) ở gần biển, nước lụt tràn lại rút ngay, không đê cũng được. Còn ở Bắc Thành thì địa thế phẳng rộng, nước lũ mùa thu tiến đến, nguồn xa dòng dài, không đắp đê ngăn lại thì cái nạn ngập lụt không thể tính hằng tuần được, ruộng đất nhà cửa của dân ta đều ở đấy cả. Nếu muốn dời đi nơi khác thì đi đâu được? Muốn cho tiện dân thì đê không thể bỏ được. Các đời trước đắp đê đã lâu. Nay chi bằng nhân đê cũ mà bồi đắp thêm. Nhưng trước khi làm cũng nên xét kỹ hình thế. Trẫm xem địa đồ, thấy gần đây các nơi đắp đê, có chỗ nhân lấy đất gần, có chỗ theo tư đê để đỡ nhân công, đều không phải là thuận thế nước mà dẫn dòng, vì thế nước sông chảy xiết dữ dội, đê không ngăn được. Thế thời việc của người chưa được chu đáo”.

Vua se mình mới khoẻ, muốn ngự điện nghe việc. Gặp trời mưa to, bầy tôi sợ lạnh rét can. Vua phê rằng: "Thế đủ biết lòng thành yêu mến, nhưng trẫm vẫn khoẻ, muốn gấp gặp các khanh để thoả lòng các quan trông ngóng, mà lòng trẫm cũng được thư thái, chẳng hơn ngày ngày chỉ thấy lũ đàn bà quan thị không biết nói chuyện gì à? Bèn ngự điện Cần Chính, bầy tôi lạy mừng ở sân, áo mũ đều bị ướt. Vua cho vời lên trên điện để ngồi, uỷ lạo hồi lâu rồi ban cho tiền vàng và chuỗi ngọc trai theo thứ bậc.

Hiện nay cung nhân có danh vị chỉ có 16, 17 người. Tất cả các ban chưa quá 100 người, đủ để sai khiến trong cung mà thôi.

Bắc Thành sát hạch viên dịch các tào, chia làm ba hạng ưu bình thứ, làm danh sách tâu lên. Vua xem bảo bộ Lại rằng: "Bắc Thành nhiều lại dịch ty viên, nay xem danh sách không có hạng liệt, cũng không xét ra được kẻ gian dối, có lẽ nào lũ ấy đều là người mẫn cán thanh bạch cả? Hay là có lòng thiên vị che chở mà như thế". Sai vứt trả lại mà phạt bổng Tào trưởng là Nguyễn Đăng Tuân 6 tháng. Lại dụ sai Phó tổng trấn Phan Văn Thuý cùng các bọn Binh tào Đặng Văn Thiêm, Hình tào Ngô Bá Nhân cứ theo lời dụ trước mà xét kỹ tâu lên.

Thực lại tâu rằng: “Nguyễn Trọng Ngọc một nhà anh em bốn người đều hiển đạt phúc ấm rất thịnh, bè bạn không ai kịp được”. Vua nói rằng: “Thế là mãn thịnh rồi. Ví con rối làm trò, đáng sợ mà không đáng tin cậy”.

Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt tâu rằng sáu phòng thành tào, và trấn Hà Tiên, nha lại ít mà việc thì nhiều, xin trích lính ở các cơ An thuận, Hồi lương ai biết viết tính thì sung bổ vào chức Vị nhập lưu thư lại, xoá tên trong sổ lính. Vua nói: “Bọn ấy nguyên là người can phạm không tốt, nếu lại sai họ làm việc đao bút ((2) Đao bút: người làm lại đời xưa, có việc gì thì chép vào quyển sách bằng trúc, nếu lầm, lấy dao cắt đi, nên gọi là đao bút.) thì chẳng hóa ra dạy vượn trèo cây à!”. Không cho.

“Kỳ trước giá gạo rất rẻ, 1 phương gạo bất quá 5, 6 tiền. Gần đây, tuy năm được mùa mà giá gạo cũng không dưới 1 quan, đó là bởi bọn buôn gian giảo đong trộm nhiều, và thuyền người Thanh chở khách đến họp ăn rất nhiều, cho nên như thế.

Lại từ trước đến nay, thuyền người Thanh chở khách đến mỗi năm hàng vài nghìn, nay ở xen trong hạt thành đến 3, 4 phần 10, gián hoặc lừa dỗ dân ta hút vụng thuốc phiện hoặc sinh điều hung tợn ăn trộm ăn cướp, có án luôn luôn, tệ ấy cũng không thể để lớn lên được. Xin từ nay có khách đến buôn thì người tay lái và thuỷ thủ đều phải đăng hết vào sổ điểm mục. Đến khi trở về thì viên tấn thủ chiếu sổ điểm lại rồi cho đi, chớ để sót lậu một người nào”.

Đến như người Thanh thấy nước ta đất tốt, đều muốn làm dân thì sao lại một mực cấm chỉ. Xin từ nay phàm thuyền người Thanh mới đến, thì sở tại chiếu sổ điểm mục đòi hỏi, người nào muốn ở lại thì phải có Minh Hương và bang trưởng bảo kết vào sổ chịu sai dịch để cho có chỗ cai quản. Còn người khác thì thả về nước hết. Thế thì số người ở lại có hạn, đã bớt được khoản phí họp ăn của họ, mà cái thói bướng nhờn cũng có thể trừ được. Vua theo lời bàn.



Quan hệ với Tây:

Vua từng xem sách sử đời Lê, bảo Phan Huy Thực rằng: “Trẫm xem cuối đời Lê Trịnh kỷ cương rối loạn, một việc kiêu binh lại là việc loạn lạ lùng, từ xưa chưa có, thực đáng thở dài. Trẫm từng nghe việc loạn ở nước Phú Lãng Sa, bắt đầu có người yêu quái truyền nói ở trong nước rằng: “Phàm loài miệng có răng đầu, có tóc đều là người cả, sao lại để cho giàu nghèo không đều”. Thế là ùa nhau nổi lên cướp của nhà giàu chia cho nhà nghèo để cho đều nhau, dần đến loạn to, so với việc kiêu binh cuối đời Lê việc cũng giống nhau. Nhưng đảng loạn nước Phú Lãng Sa cuối cùng bị diệt mà kiêu binh thì không từng có kết cục, lại như lọt lưới thì lạ thực”.

Trước kia người Phú Lãng Sa là Nguyễn Văn Chấn dâng 2 cái ống nhòm bằng đồng của Tây dương, gọi là ống nhòm mặt trời. Vua để một cái ở trong cung, một cái cho Khâm thiên giám, chưa có ai biết dùng. Vua từng khi rỗi đem xem biết được cách xem, gọi Phan Huy Thực và Nguyễn Danh Giáp bảo rằng: “Cái ống nhòm này, để bằng, để lệch, để cao, để thấp, độ số khác nhau, gần thì đo được núi non, xa thì xem được trời đất, rất là diệu”. Bèn chỉ vẽ cặn kẽ cho họ tự biết suy xét.

Bổ người Tây dương là Phú Hoài Nhân làm Chánh thất phẩm thông dịch ty Hành nhân, Tây Hoài Hoa và Tây Hoài Hoá làm Tòng thất phẩm thông dịch ty Hành nhân, mỗi tháng cấp cho mỗi người 20 quan tiền, 4 phương gạo lương, 1 phương gạo trắng, sai phủ Thừa Thiên trông coi, cấm không được ra ngoài dạy học trò để truyền giáo (Bọn Hoài Nhân đều là tên họ vua cho).

Lại ban súng đạn nhỏ của Tây dương (cũng gọi là Chưởng tâm lôi: Sấm trong lòng bàn tay) cho các đình thần.

Thuyền buôn Phú Lãng Sa bị gió dạt vào cửa biển Đà Nẵng, xin đem thuyền ấy nộp cho nhà nước. Vua sắc cho Quảng Nam đem bạc kho trả cho đúng giá. Nhân sai Thống chế Nguyễn Tài Năng đốc suất lính và thợ sửa chữa thuyền ấy, đặt tên là thuyền An dương.


Vua lại bảo thị thần rằng: "Người có nước có hai việc sửa đức và thiết hiểm đều không thể thiếu được. Nay trẫm chế tạo tàu đồng là muốn giữ những chỗ yếu hại ven biển, làm xưởng chứa sẵn đấy, để lúc có việc dùng đến. Vả lại chỗ yếu lại không đâu bằng vụng Trà Sơn. Tàu ngoại quốc đến chỉ có thể đỗ ở đấy, mà chướng khí rất dữ, giếng độc hơn 10 cái. Trước có tàu Tây dương tránh gió đến đấy, cuối cùng bị nước độc làm hại, do đấy mà nói rằng người ngoại quốc dù có muốn dòm ngó cũng không sao làm được. Hơn nữa do đó ta lại giữ được chỗ hiểm để có thể vận dụng tàu thuyền kia mà."

Khi trước đạo Cam Lộ có việc, vua mật dụ cho Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt phải phòng bị, đại lược nói: “Người Xiêm, dẫu mang bất trắc, nhưng việc lo ngoài của họ, như nước Hồng Mao, nước Diến Điện cho đến các man ở Vạn Tượng, có thể nào một loạt kinh lý ổn thoả được cả ư? Huống chi lại thêm mối lo trong nữa, thì lo việc mình chẳng xong, khó lòng bỗng chốc đem cả nước đến xâm lược được. Nếu chúng gây sự mà đến Gia Định thì một mặt tuỳ cơ đánh dẹp, một mặt thì tấu ngay, trẫm tất sai đại phát Kinh binh, chia đường thuỷ lục đều tiến, sẽ cho một trận tan tành sào huyện của chúng, cứ gì ngăn chống mà thôi đâu !. Chỉ sợ chúng chẳng dám phát trước”. Đến bấy giờ Duyệt dâng sớ nói rằng: “Thánh nhân làm việc tất là vạn toàn. Nay người Xiêm quấy nhiễu, chưa rõ hẳn là tự ý vua Xiêm hay tự biên tướng cần công. Vả lại hắn lấy cớ đòi hỏi Vạn Tượng mà quân ta vội động thì phải trái chưa rõ, mà tin tức việc binh lại lộ ra trước, nước họ lại nhân thể mà củng cố phòng bị, như thế chưa phải là mưu vạn toàn thủ thắng. Xin hạ lệnh cho quan kinh lý biên vụ, đóng binh không động, để xem việc biến chuyển ra sao. Lại sai sứ đưa thư sang Xiêm, đem việc thiết trách. Nếu họ cố ý gây chuyện thì ta lợi dụng vin cớ ấy, binh ta tuyên bố nghĩa lớn, thẳng tới kinh đô nước Xiêm, phá tan sào huyện của họ cũng chưa là muộn”.



Về Lê Văn Duyệt:

Mỗi lần Duyệt vào chầu, vua càng đãi hậu hơn lên, từng nói với thị thần là bọn Trần Văn Năng, Tống Phước Lương rằng: “Người ta nói Duyệt tính bướng, nay trẫm xem ra là người trung thuận, cái nghĩa thờ bề trên có sẵn lúc ngày thường. Thì ra cái tính bướng bỗng đã gột sạch, không ngờ lúc tuổi già lại tỉnh ngộ như thế”.

Tả Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Trần Nhật Vĩnh có tội phải hạ ngục. Vĩnh trước ở Gia Định, được Tổng trấn Lê Văn Duyệt tin dùng, cậy thế ăn của đút, thậm chí cướp vợ người, dỡ nhà, chiếm đoạt tài sản của người, người ta sợ nó tàn ngược không dám phát giác. Vĩnh đi nơi khác chưa đầy một tháng, nhân dân nộp đơn kiện rất nhiều. Duyệt thụ lý tất cả, già trẻ ai cũng reo mừng. Duyệt đem việc tham tâu lên, giải Vĩnh về để đối chất, xin phái quan Kinh về hội xét. Lại làm tờ tâu nhận tội mình tin dùng phải người bậy, xin giao bộ nghị xử.

Vua bảo bầy tôi rằng: "Duyệt trung thành có thừa, mà thiếu sáng suốt, đã vì kẻ gian lừa phỉnh đem lòng tin cậy thì vua cha ở trên đã nhắc bảo cũng vẫn mê không biết, nữa là liêu thuộc, có ai sửa chữa cho được. Đến lúc biết là lầm, hối không kịp nữa. Trần Nhật Vĩnh xuất thân hèn mọn, không dự khoa cử. Triều đình đã dùng làm đến chức này, mà dám luông tuồng làm bậy, tham lam bẩn thỉu, tội ác đầy rẫy, giá có trăm miệng cũng không thể cãi mà che giấu được, cần gì phải giải về để việc dằng dai ra. Tào thần nhiều người, tự trẫm chọn dùng, lẽ nào lại tự vì kẻ có tội tự chuốc tội lỗi, cần gì phải đợi phái quan Kinh".

Vua dụ Lê Văn Duyệt rằng: "Trước kia khanh nghe lầm tà thuyết của Trần Nhật Vĩnh, nhiều việc sai bậy, những chương sớ tâu lên có nhiều điều không hợp, trẫm nghĩ công lao ngày trước của khanh mà không trách mắng. Nay khanh đã đến lúc bóng dâu buổi chiều còn biết hối lỗi trước, đem Trần Nhật Vĩnh nghiêm tham trừng trị và tâu xin nhận tội, tình từ thống thiết, trẫm đã thấu hết lòng khanh. Có lỗi mà biết đổi, thánh nhân còn tha, nữa là trẫm đối với khanh à. Việc khanh xin nghị xử thì gia ân miễn cho. Vậy ban dụ này ân cần chỉ bảo cho được yên lòng. Từ nay về sau khanh nên càng kính giữ đạo làm tôi, hết lòng công trung, chọn người mà dùng, chọn lời mà theo, không nóng nẩy làm bậy, không riêng nghe một người, để giữ trọn lời khen, tiếng tốt, như thế mới xứng được lòng tốt của trẫm bảo toàn công thần đến vô cùng".


=> Có lẽ MM nhận xét đúng lỗi lớn nhất của LVD là "thiếu sáng suốt". Tính khí LVD có lẽ giống GL, kiểu người gì cũng tiếp nhận, nhưng lại không xét đoán được người. Lại thêm tính kiêu ngạo cho ý mình là nhất nên trừ khi sai rành rành thì thôi, bằng không thì chẳng nghe ai (người kiêu ngạo thường có thêm thuộc tính thích nghe nịnh '__'). Nên thân tín của LVD lại thường là bọn nhân phẩm có vấn đề. Đến sau này sự biến phát ra, mới bị đem xử tội dùng người bừa bãi, chứa chấp trong thành toàn là bọn tù bị đưa đi đày, thân tín thì lại toàn bọn thổ mục LVD "thu lượm" được lúc đi đánh quân man (Lê Văn Khôi là người dân tộc họ Nông).




Chép vụn 3
Monday, February 24, 2014 Author: Trường An

1826

Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Công Tiệp dâng mật sớ rằng: Nhân có sao chổi, ngu dân ở thành hạt bị những kẻ điên cuồng giảo quyệt mê hoặc xui giục, họp nhau làm giặc, xin sớm trừ đi.

“Trẫm từ khi lên ngôi đến giờ, chỉ lo còn một người dân đói rét, mỗi khi gặp tai thương đều để lòng vỗ về, năm nay được mùa mà giặc cướp lại nhiều, rất đáng than thở."

=> Được mùa cũng cướp, mất mùa cũng cướp. =o=

Năm này có sự kiện Phan Bá Vành. Vầng, năm nào tháng nào cũng thấy triều đình phát chẩn, mà được mùa một cái là họp nhau làm loạn. Đúng như Minh Mạng nói khi trước "chỉ ăn rồi làm loạn" (sau này bác nghĩ lại chắc cũng thấy mình tốt quá phí công '__')

Cơ mà, bọn Phan Bá Vành là dân cướp biển chứ "nông dân" cái mợ gì. =0= Toàn thấy cử thủy quân ra đánh. (Trích: Vua nghe tin ấy, dụ quan Bắc Thành rằng : “Giặc chỉ quấy rối ở đường thuỷ không dám lên bộ. Nên theo đường thuỷ mà đánh dẹp mới chóng thành công.") Chưa kể còn tụ họp với cướp biển bên Thanh. (Ờ mà đến Lê Văn Khôi còn là "nông dân" được thì hông nên hy vọng quá vào sử VN. Đọc bài viết về Phan Bá Vành nửa đêm bò ra cười, đọc cùng 1 cuốn sử mà phục trình độ hoang tưởng - xuyên tạc của người viết quá. =0= Vui nhất là xếp Nguyễn Hữu Cầu cùng thời với Phan Bá Vành. =)) Đúng là lừa "dân ngu (sử)".)

"Nhờ" Phan Bá Vành dạy là "Mất mùa chúng làm loạn, được mùa chúng càng làm loạn to hơn. Mất mùa chỉ có cướp bé, được mùa thì làm loạn to", hoặc do đã thấy mình bị-khinh quá mức rồi, Minh Mạng bắt đầu thay đổi to lớn từ đây. /_\

Từ đây, bắt đầu thấy thái độ của Minh Mạng thay đổi, ra tay chém đinh chặt sắt:



Bình Định có Vũ Văn Nguyên là con của nguyên án phủ Hoài Đức Vũ Văn Phượng, trước vì mắc tội giao cho Phượng quản thúc. Phượng chết, Nguyên lẩn trốn vào ấp An Tây, cùng với con Thái sư nguỵ Tây Bùi Đắc Tuyên là Đắc Khuông và Đắc Trị chơi với nhau, ngày ngày tập võ nghệ. Vua nghe biết, nói rằng: “Bọn ấy là đồ vô lại, nếu để yên không hỏi tội thì ngày khác lại như nguỵ Tây, khi ấy còn hỏi tội được nữa sao?”. Sai trấn thần bắt, đều xử tội chết.

Lại có Hồ Công Quang là Tú tài ở Quảng Bình dâng nói 13 điều, đều là cuồng bậy, như điều thứ nhất nói Nguyễn Hữu Thận là thế thần có thể làm được sư phó, không nên để ở nơi biên giới xa. Vua sai đường quan lục bộ hỗ tòng xét bàn. Đều xin chiếu theo luật “dâng thư nói đức chính của đại thần” mà xử tội trảm giam hậu, duy có Tả Tham tri Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân tâu: “Khi xưa Đoàn Chí Xung dâng thư xin nhường ngôi cho thái tử, bầy tôi là nhà Đường đều tâu nên giết mà Văn hoàng lại tha”. Vua nói: “Văn hoàng là vua hiếu danh không đủ bắt chước; bốn trăm tù tội chết mà còn tha cả, huống chi một mình Chí Xung. Vả lại a phụ đại thần, thói ấy không thể để lớn dần được. Khi xưa lại dân nhà Hán dâng thư ca tụng công đức của Vương Mãng đến hơn 40 vạn mà nhà Hán vì đó mà suy, đấy đủ làm điều răn rõ ràng. Tội Công Quang không thể tha được”. Bèn y theo lời bàn của các quan.

Vua thấy sang năm gặp tiết Lục tuần đại khánh của Hoàng thái hậu, gọi đường quan lục bộ bảo rằng: “Lễ mừng không gì hơn việc giảm thuế tha tù. Như các việc ban ơn cho thần dân, gia ơn cho học trò, thưởng cấp cho quân sĩ, đều là việc hay cách ngoại, dẫu có tốn đến hàng nghìn vạn trẫm cũng không tiếc; duy có việc tha tù trẫm không thích làm, vì tha kẻ có tội thì hại cho dân lành, có khác gì nuôi cỏ để làm hại lúa, các khanh nên thể tất ý của trẫm, hết lòng bàn bạc, việc gì nên làm thì liệt thành điều khoản tâu lên”.

Điện Bàn công Phổ đặt bậy quan chức và đúc ấn tín riêng, việc phát giác, Phổ vào cung xin chịu tội. Vua sai phạt bổng thân công 3 năm, rút hết thuộc binh, không cho theo ban triều hạ.

An Khánh công Quang cho tôi tớ trong phủ đi mua rẻ hàng ở chợ, bị phạt bổng 1 năm.

Vua xem lời tâu, cả giận nói rằng: “Thai là kẻ bề tôi chăm vơ vét, trẫm muốn xử cực hình để khuyên răn những kẻ sâu mọt, nay bàn xử trượng và cách, còn hiềm là nhẹ; bọn Khiêm Quang như muốn thân oan cho người, sao không hết sức công bằng xét rõ những án bọn Nguyễn Tử Bộc và Trương Văn Tùng mà để đến nỗi người bình dân phải nuốt nước mắt?”.

Lính vệ Cẩm y có kẻ ăn trộm bị lính tuần bắt được. Vua nói rằng: "Cẩm y là quân Túc vệ, trẫm đãi rất hậu, mà còn dám trộm cắp như thế, chẳng những là phụ ơn nuôi nấng mà còn không coi pháp luật vào đâu, nên theo quân luật mà xử”. Bèn sai chém ở chợ Đông. Quản quan là Chưởng cơ là Nguyễn Văn Quyền phải giáng 1 cấp.

Người làm việc ở kho kinh là Trần Công Trung đòi ăn tiền làm khó dễ, việc phát giác. Vua giao cho bộ Hình tra xét. án xong, vua nói: “Vụ án Đặng Văn Khuê năm Minh Mệnh thứ 3 đã theo luật nghiêm trị, thế mà bọn Trung còn dám công nhiên làm bậy, không kiêng sợ gì; tuy tang vật không quá 10 lạng, nhưng luật quý ở chỗ làm cho lòng người sợ hãi, nếu nhu nhơ để sống một mạng ấy thì e sau này những kẻ khinh nhờn pháp luật sẽ nhiều ra, không thể giết hết được”. Bèn sai chém Trung ở chợ Đông. Tòng phạm thì phát đi sung quân; giám lâm, chủ thủ đều bị giáng cách.

Vua dụ bộ Hình rằng: “Người xưa lập pháp, làm tội để khỏi tội. Như vụ án Đặng Văn Khuê, Trần Công Trung, dẫu có quá nghiêm, nhưng cũng là theo ý của người xưa. Nên truyền dụ cho các thành dinh trấn đều biết".

Lại dụ bộ Binh rằng: “Trương Phúc Đặng từ khi được trẫm uỷ cho thống quản biền binh Bắc Thành đến nay không biết chỉnh sức việc quân, chợt gặp việc bắt giặc thì xếp đặt lúng túng, chẳng có kế gì hay, cho nên các tướng biền đến đâu cũng chẳng nên công, vì thế nhen thành giặc lớn. Vậy Trương Phúc Đặng thì giáng 4 cấp điệu, lại lột cả mũ áo lập tức cuốn gói, không cho lính theo hầu, về Kinh đợi chỉ. Nguyễn Hữu Thận là quan to giữ một phương, không biết tính toán công việc thì giáng 2 cấp lưu. Nguyễn Đăng Huyên thì cách lưu, vẫn cho coi quân để ra sức đánh giặc chuộc tội”.

Đến lúc tờ tâu dâng lên, vua xuống dụ rằng: “Đăng Huyên trước là một viên bị cách, lúc trẫm ở tiềm để đã bỏ lỗi mà dùng, chẳng mấy năm, thăng đến Chưởng cơ, nhà nước phá cách dùng người đối với nó không phải là không hậu. Đáng lẽ phải cảm phát thiên lương, thề lòng ra sức. Thế mà địa phương gặp loạn, Bắc Thành đã giao cho đại đội thuỷ lực lại không xét kỹ cơ nghi, sai Ngô Văn Thành tiến đánh mà mình lại rụt lùi không cứu, đến nỗi hỏng việc, lại còn vẽ vời lấy bại làm công. Tự trẫm xem ra đã rõ như xem lửa cháy. Trước còn nghĩ hỏng buổi sáng mong đến buổi chiều cho nên cho đeo tội ra sức lập công. Nay lại chẳng mưu tính được gì, còn mong gì nữa. Vậy cách chức Nguyễn Đăng Huyên và giao xét nghĩ”. Án thành, Nguyễn Văn Tòng và Nguyễn Văn Tuyển đều trảm quyết; Nguyễn Đăng Huyên, Nguyễn Văn Đản và Nguyễn Quang Quảng đều trảm giam hậu.



Và bắt đầu bộc lộ thái độ "Thân Tây" rõ rệt:

Đóng 11 chiếc thuyền lớn bọc đồng năm cột buồm. Thưởng cho giám tu là thự Thống chế Nguyễn Tài Năng và từ Suất đội chuyên biện trở lên được gia cấp kỷ lục và sa đoạn; lính và thợ thì thưởng tiền 1.000 quan.

Sai Vũ Khố đóng thuỷ sương xa, bắt chước kiểu xe của Tây dương. Dụ rằng: “Vương giả lấy điều hay của thiên hạ làm điều hay của mình; xe ấy dẫu là người ngoại Di chế ra, nhưng khéo lạ có thể dùng được, bắt chước mà làm cũng không hại gì; nếu bảo là không cần học của họ thì là thô lậu thôi.”.

Khi sứ Xiêm tới Kinh, vào yết kiến. Vua thung dung hỏi: “Nghe tin nước Hồng Mao gây sự với nước Diến Điện, nước ngươi muốn ai thắng?”. Sứ thưa: “Nước Hồng Mao nhiều cơ mưu dối trá, nước tôi muốn cho Diến Điện thắng”. Vua nói: “Cứ như trẫm xem, chi bằng hai nước cầm cự nhau, nước ngươi có thể do đó tự mưu cho mình được; nếu một nước thắng thì nước ngươi có thể giữ được vô sự không?”.

Vua mở địa đồ, trỏ bảo bầy tôi rằng: “Trẫm nghe nước Xiêm La cùng nước Hồng Mao có hiềm khích, chợt có dùng binh thì Hà Tiên là chỗ hai nước xung đột nhau, ta nên tính toán ra sao để phòng việc không ngờ. Huống hồ nước Xiêm với nước ta là láng giềng giao hiếu, nếu có cấp nạn thì có nên cứu hay không? Thực là khó xử”.

Chủ thuyền người Phú Lãng Sa là Cốt Tu Mi đến buôn ở Đà Nẵng, đem những hoá hạng của Chưởng cơ Nguyễn Văn Chấn gửi dâng lên, có nhiều cái gãy vỡ mà giá cao quá, Hữu ty xin trả lại. Vua nói: “Chấn là tôi tớ nay nghỉ việc về nước mà còn nghĩ ơn nuôi nấng mấy chục năm của triều đình, nay cách xa muôn dặm dâng lòng thành, hiền lao vẫn như thuở trước. Còn cái vật vài nghìn vàng nhỏ nhặt kia thì sao đủ khinh trọng?”. Bèn sai cất hết vào kho mà trả tiền cho theo giá (7.680 lạng bạc). Lại giảm cho thuyền ấy 5 phần 10 số thuế cảng. Khi chủ thuyền trở về, lại lấy phẩm vật ở Nội thảng gửi cho Chấn và Thắng và sắc dụ hỏi thăm.

Cấp cho Khâm thiên giám hai thước phong vũ và hàn thử. (Thước phong vũ chuyên xem mưa gió thuận nghịch, lớn nhỏ, xét nghiệm ghi chép hằng ngày, thuỷ ngân nấu với thuốc đựng ở trong ống pha lê ở độ nào, phân nào...)

Vua nói: “Xưa nay đều nói rằng trời tròn đất vuông. Phàm đất vuông thì hẳn không theo trời mà chuyển vận được, cho nên sách Hỗn thiên nghi nói rằng trời hình như quả trứng, trời bao ngoài đất, thì đủ biết đất tròn. Nhưng lời nói đời xưa đã thành, không nên bày ra thuyết lạ nữa”.

(Hình như có người đã đọc sách thiên văn của Tây, lỡ lời nên đành chữa "thuyết lạ" =)) )



Gia Định có bệnh dịch lớn, quân dân chết hơn 18.000 người, thành thần tâu lên. Từ Bình Thuận ra Bắc đến Quảng Bình cũng có báo nạn dịch.

Thái Bình công Mỹ Thuỳ mất. Công là con Anh duệ Hoàng thái tử. Khi vua mới được tin công mắc chứng hoắc loạn cấp tính, tức thì sai đại thần đem ngự y tới thăm, đến nơi thì công đã chết rồi. Vua thương khóc, bãi triều 3 ngày, cho thuỵ là Mẫn Khác, sai Tống Phước Lương và Tôn Thất Dịch trông coi việc tang, phát của kho cấp cho. Ngày táng, lại bãi triều 1 ngày, xa giá đến nhà, vua thân rót rượu cúng.

Vua bảo Duy rằng: “Người ta nói “Kẻ sĩ không may mới làm Hình quan”, tin theo lời ấy thì bộ Hình có thể không phải đặt, mà bề tôi cứ chọn việc mà làm cũng là trung ư? Đó là lời nói vô căn cứ thôi. Tự trẫm xem thì nhà giam tù là nhà làm phúc đó. Làm hình quan nếu biết giữ lòng công bằng khoan thứ, người có oan uổng mà tỏ được lẽ oan, thì phúc cứu sống người còn hơn xa sự xây dựng bảy cấp phù đồ. Gần đây hình quan phần nhiều mắc lỗi, tội nghiệp ấy là tự mình làm, còn đổ cho ai? Ngươi ở bộ Hộ đã được tiếng là mẫn cán, trẫm biết đã lâu, nay ở pháp ty nên vì trẫm chia lo, chớ thấy người trước bị tội mà mang lòng thắc mắc nhé”.

Mô hình chợ ngày trước:

Mở chợ Nam Thọ (Chợ ở phường Phúc Tuy, chung quanh làm 100 gian quán, ở trong các quán có 4 dãy nhà, mỗi dãy 14 gian, ở giữa dựng đình Lạc Hội).

Sự tích điện Voi Ré:

Sai dẫn con voi ngự đến sân điện cho ăn. Vua bảo thị thần rằng: “Giống vật này rất lành. Người xưa chỉ nói sức chó, ngựa, chưa từng nói đến voi, ý giả người xưa, chưa nuôi voi nên không biết tính nó thuần”. Lại ngoảnh lại bảo Phan Huy Thực rằng: “Tiên triều ta có một con voi đực tên là Tế. Khi quân Trịnh vào lấn, sai tướng cưỡi nó đi cự chiến. Quan quân nhiều người chết, voi lội qua sông Gianh về đến bờ nam, lấy vòi thăm biết là không có tướng mục, lại qua sông xông vào trận, tìm thấy được tướng mục đem về. Voi rống lên một tiếng rồi ngã lăn xuống đất. Đến nay còn thờ. Đó đều là bằng chứng rõ ràng về tính tốt của giống voi”.





Copyright © Trường An. All rights reserved.