Solitude

.Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ. Đài mây trôi dạt phách hồn xa. More...

TS – LC&ĐV – 1
Sunday, August 20, 2017 Author: Trường An

Ngay cả con voi thì sờ cái đuôi nó cũng có thể kết luận "con voi có hình cái chổi". Lịch sử tất nhiên hổng có hình cái chổi, nên làm bài ghi chép tổng hợp để có gì còn...

Bài viết này hoàn toàn không có ý vị yêu ghét thương hờn gì hết, đơn giản là bài tổng hợp kiến thức tổng quát. Mấy chữ viết tắt trên kia có thể đọc là "Tây Sơn - Lên cao và đổ vỡ". :))

---

I. Bối cảnh

1. Đàng Trong

Cuộc nổi dậy của Tây Sơn bắt nguồn từ Quy Nhơn - sau này là Bình Định, nhưng đây chẳng phải là cuộc nổi dậy đầu tiên và duy nhất ở địa điểm này. Truy ngược thời gian, năm 1695 đời chúa Minh đã có cuộc nổi dậy mà sử ghi chép:

"Người lái buôn ở Quảng Ngãi tên là Linh (không rõ họ) tụ đảng hơn 100 người, tự xưng là Linh Vương, tạo chiến thuyền, đúc binh khí, cùng người Quy Ninh là Quảng Phú (không rõ họ) hợp đảng, ra vào núi rừng, hoành hành cướp bóc, quan địa phương không dẹp được, nhân dân sợ hãi chạy báo lên. Chúa sai dinh Quảng Nam hợp với hai phủ Quảng Ngãi, Quy Ninh đem quân đi đánh."

Dù chỉ vài dòng trong sử, nhưng rõ ràng quy mô của cuộc nổi dậy này không nhỏ, khi phải tập hợp quân binh 3 phủ đi đánh mới bình định được. Quảng Phú trốn đến Phú Yên, bị bắt. Và rồi chỉ vài năm sau, vào năm 1708, lại có 1 vụ mưu phản tại vùng này:

"Nội hữu phò mã Tống Phước Thiệu (con Nội tả chưởng dinh Tống Phước Trí) mưu phản, bị miễn làm dân thường. Trước là Thiệu cùng Cai đội Nguyễn Cửu Khâm (con Nguyễn Cửu ứng) ngầm mưu làm bậy. Nhân khi Câu kê Hòa Đức lãnh quân đi đánh giặc, Thiệu ngầm sai thuộc hạ là bọn Trịnh Nghệ, Tường Vân (đều không rõ họ) vào Quảng Nam, thầm kết những tay hào kiệt, mưu đồ trước lấy Bình Khang, sau lấy Phú Yên, rồi trở về lấy Quảng Nam, cướp quân Hòa Đức, thẳng tới Chính dinh, phóng lửa nổi loạn. Tôn Thất Thận cũng dự mưu ấy, đến khi mưu tiết lộ thì đem việc cáo phát ra."

Một điểm đáng lưu ý khác của các vụ nổi loạn trong đời chúa Nguyễn là sự tham gia của các tôn thất. Như trên kia nói rõ mưu đồ "thầm kết những tay hào kiệt" - nói cách khác là thủ lĩnh của những nhóm, hội, đoàn đủ sức để làm được các điều trên. Nhớ lại cuộc nổi loạn của tôn thất từ thời chúa Thượng cho đến chúa Hiền, dù không nói rõ, cũng là 1 điều tương tự: Cuốn sổ "Đồng tâm hướng thuận" mà chúa Thượng phải cho võ sĩ đến Quảng Nam, âm thầm giết tất cả người có tên trong sổ, chúa Hiền phải cho đốt để lấy danh, chắc chắn đã có những cái tên mà ngay cả nhà chúa cũng không đường đường chính chính hạ thủ được.

Nên nhớ Đàng Trong là nơi mà 1 anh "chủ buôn ngựa" như Châu Văn Tiếp cũng có thể nắm giữ cả 1 đội quân có thể đương đầu với Tây Sơn, có quan hệ với nhóm người Thượng đủ để Nguyễn Long cầm quân chặn đường Thượng đạo hàng chục năm dài. Và Châu Văn Tiếp chỉ là 1 thương buôn bình thường trong hệ thống thương buôn trải khắp vùng đất này.

Điều này cho thấy các cuộc nổi loạn tranh giành ngôi chúa trong họ Nguyễn đã không còn dừng ở những đấu đá cá nhân và lực lượng quân đội riêng biệt họ có thể tập hợp mà đã lan ra tới những lực lượng khác ở vùng đất này. Đến lượt họ, các lực lượng kia cũng tìm cách câu kết, nương nhờ danh thế của các ông họ Nguyễn Phúc để mưu cầu việc riêng của mình.

Mà trong vùng đất Đàng Trong, ta có gì? Ngoại trừ lực lượng người Việt tập trung chủ yếu ở Thuận Hóa, một ít ở Quảng Nam, từ Quảng Ngãi đổ xuống đã là vùng đất của đủ tộc người. Chiêm Thành là 1 quốc gia đa dân tộc, là nhà nước có kết cấu kiểu mandala tập trung các tiểu quốc nhỏ lẻ của nhiều dân tộc khác nhau.

Chúa Nguyễn tìm mọi cách để đưa ảnh hưởng của người Việt xuống, tập trung ở 2 "đầu mối": Quy Nhơn và Gia Định. 2 cuộc di dân lớn nhất được ghi trong sử sách là lúc chúa Hiền đưa 2 vạn tù binh bắt được ở Nghệ An xuống Quy Nhơn, và năm 1698, sau khi "kinh lý" Gia Định, chúa Minh đưa dân ở Quảng Bình, Quảng Trị đến Gia Định. 2 địa điểm này về sau quả nhiên là "điểm nóng" của chiến tranh. Hay nói cách khác, lực lượng đủ để có thể kết nối thành hệ thống để thực hiện cuộc chiến tranh này chỉ có người Việt. Các lực lượng dân tộc khác chỉ là thành phần giúp đỡ hỗ trợ, có thể dễ dàng bị tiêu diệt, bắt quy phục, thay đổi...

Nhưng dù vậy, không thể coi thường sức mạnh của lực lượng "ô hợp" này nếu có khả năng kết nối họ lại. Những cuộc nổi dậy của các lực lượng này trong thời chúa Nguyễn vẫn thường xảy ra luôn, lúc thì là vua Chiêm Thành, lúc thì là người dân tộc (như trong "Chuyện chàng Lía"), và đặc biệt là thương nhân người Hoa.

Quy Nhơn là kinh đô cũ của Chiêm Thành, nơi có thương phố cổ ngàn năm tuổi Nước Mặn. Chiêm Thành có trình độ thương nghiệp rất cao, được tiếp nối vào đời chúa Nguyễn với hệ thống thương phố, nguồn, chợ đan cài khắp từ vùng núi cho đến đồng bằng. Và từ đời chúa Nguyễn đã sớm có những tin tức bất ổn về hải tặc tập hợp quanh vùng này. Lập nghiệp trên vùng đất khô cằn, họ Nguyễn dùng thương nghiệp để tạo dựng sức mạnh cho vương triều, kể cả giữ cho dân chúng no ấm - Như vụ việc đời chúa Thượng, dân chúng Quảng Nam nhổ lúa trồng dâu, chỉ cần Chân Lạp không bán gạo lên là nạn đói to xảy ra. Thương buôn - ở đây là lực lượng kinh thương người Hoa - đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong toàn bộ đời sống Đàng Trong.

Và như đã nói trên, liên tục, liên tục những cuộc nổi loạn dính dáng tới các lực lượng này xảy ra. Từ các tôn thất âm mưu chiếm đất đánh lên đến nổi loạn riêng lẻ như Linh Vương. Cho đến khi Tây Sơn nổi lên, họ cũng sử dụng lực lượng then chốt nhất: từ bọn hải tặc người Hoa Tập Đình, Lý Tài cho đến những ông thương buôn như Huyền Khê (không liên quan gì đến hòa thượng Huyền Khê đâu).

Trong thời kỳ đầu của Tây Sơn, chỉ thấy Tập Đình và Lý Tài xông trận. Đến khi Tập Đình, Lý Tài bị quân Trịnh đánh tan ở Quảng Nam, Tây Sơn phải vội vã cầu hòa nhận chức phong của Trịnh, cho thấy lực lượng Hòa Nghĩa quân này quan trọng như thế nào.

Nhân nói đến trận chiến ở Quảng Nam, lại cần nhắc đến 1 việc mà mọi người đều bỏ qua: Hội An bị san thành bình địa do trận chiến của quân Hòa Nghĩa và lực lượng người Hoa ở Hội An.

Theo sử sách ghi, chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy đến Quảng Nam, nhưng ở đây đang bị nạn đói, nhắm không ở được nên giao nhiệm vụ lại cho Đông cung Nguyễn Phúc Dương. Nguyễn Phúc Dương đã chiêu tập lực lượng ở Hội An để chống cự quân Tây Sơn, dẫn đến kết quả Hội An bị hủy hoại hoàn toàn.

Và đội quân Hòa Nghĩa này, khi đến Gia Định, lại xung đột với quân Đông Sơn, là đội quân tập hợp để bảo vệ chúa Nguyễn, trong số này hẳn không ít người ở Cù lao Phố, nơi đã bị Tây Sơn đốt cháy.

Như vậy, đạo quân Hòa Nghĩa mà Tây Sơn khuyến dụ được lúc đầu vốn là 1 lực lượng hoàn toàn đối kháng với người Hoa sống lâu đời ở Đàng Trong. Nhìn thân phận hải tặc của Tập Đình và Lý Tài có thể hiểu nhóm người này chính là nhóm hải tặc hình thành từ nửa cuối đời Càn Long, sống nhờ vào cướp bóc và lấy vùng ven biển Việt Nam để ẩn náu, có thể đánh cướp thuyền thương mại nội địa lẫn buôn lậu cạnh tranh - Như vấn nạn hải tặc Trung Quốc mà triều Nguyễn phải đối phó suốt sau này.

Đến đây lại nổi lên 1 vấn đề thắc mắc điều mà nhiều người tin: Nạn tiền kẽm đã đẩy các thương nhân tạo phản? Nhưng tại sao chỉ có thương nhân ở vùng Quy Nhơn tạo phản, trong khi thương nhân ở các vùng khác vẫn theo chúa Nguyễn, đến nỗi để các trung tâm thương mại Đàng Trong bị hủy hoại hoàn toàn?

Có lẽ ta phải hiểu ngược lại việc này: Khủng hoảng tiền kẽm làm chính sức mạnh của triều Nguyễn lung lay chứ không phải làm bên tạo phản mạnh hơn. Cuộc khủng hoảng này đi cùng với cuộc chiến ở Chân Lạp - Hà Tiên năm 1771-1774, kéo dài đến cả khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi chúa phải cử phò mã Nguyễn Hữu Thụy đến Chân Lạp đàm phán với người sau này là vua Rama I, Mạc Thiên Tứ phải dời đến ở Trấn Giang. Quân Nguyễn rõ ràng đã dùng toàn lực ở phía Nam, tập trung những đại tướng như Tống Phúc Hiệp, Nguyễn Cửu Đàm - và khi Tây Sơn nổi lên, chỉ có quân của Tống Phúc Hiệp từ Gia Định kéo lên mới đe dọa được.

Như đã nói, triều Nguyễn lấy sức mạnh từ thương mại. Khi nền thương mại này lung lay, dù vẫn có thể kêu gọi 1 số người ủng hộ, nhưng quân Nguyễn chẳng còn đủ sức để làm gì, và các lực lượng ủng hộ 1 là ngãng ra, 2 cũng không còn đủ sức lực. Trong khi đó, mảnh đất Thuận Quảng của họ Nguyễn chỉ cần đứt gãy nguồn cung ứng hàng hóa là nạn đói khủng khiếp xảy ra.

Ta hãy nhớ đến mưu kế của ông đại sứ Anh vào thế kỷ 19: Muốn đánh VN, cứ cắt đứt đường liên lạc, cung ứng giữa các vùng Nam Trung Bắc.

Nhưng đặt câu hỏi "Tại sao lại là thương nhân ở Quy Nhơn?" thì cũng có thể đã soi sáng được 1 việc: Đây là 1 vùng đất rất "đặc thù". Phố Nước Mặn là khu thương phố cổ hơn hẳn Hội An, Thanh Hà lẫn Gia Định. Và các mối kết nối trong khu vực này cũng mang tính đặc thù cao. Đi lên vùng núi thì là đất của các dân tộc vốn thuộc Chiêm Thành cũ, đi xuống thì là di dân có tổ tiên là tù binh của chúa Nguyễn, xuống phương Nam thì là đất của Chiêm Thành, lên phía Bắc là vùng Quảng Ngãi mà đến tận thời Pháp thuộc còn liên tục có tin báo về "bọn giặc mọi".

Thời kỳ đầu, lực lượng Tây Sơn có gì: Hòa Nghĩa quân của Tập Đình, Lý Tài, quân của nữ chúa Thạch Thành chiếm Phú Yên, quân của Chiêm Thành góp sức. Nhìn lên phía Bắc, Nguyễn Phúc Dương tập hợp lực lượng chống lại - đến tận khi Nguyễn Phúc Ánh đánh đến được Quảng Ngãi thì cũng thu được một đống người đi theo ủng hộ. Nhìn xuống phía Nam, thì Châu Văn Tiếp cũng là nghe theo lời "phù Đông cung" đấy chứ có phải vì Tây Sơn đâu.

Như vậy, có lẽ K.W. Taylor đã đúng khi cho rằng Tây Sơn là 1 "lực lượng địa phương", và cuộc nội chiến này mang tính địa phương rất rõ. Tính địa phương quá rõ rệt trong vùng đất đầy xáo trộn của họ Nguyễn.

Và điều để tạo thành chiến thắng của Tây Sơn ở Đàng Trong không có gì khác ngoài sự suy sụp của triều đình chúa Nguyễn. Thời chúa Võ vương, Nguyễn Cư Trinh đã dâng bản điều trần về các điểm yếu trong hệ thống quản lý khắp Đàng Trong, nhưng Võ vương chỉ xem qua mà không trả lời. Thật ra chẳng có ông vua nào "thấy họa trước mắt mà để im", chẳng qua có những thứ nói dễ hơn làm, và làm không được. Trong đó, điều cốt yếu nhất nằm ở hệ thống hành chính Đàng Trong.

Triều đình chúa Nguyễn là triều đình quân sự, phát xuất từ 1 nhóm người bảo trợ chúa Nguyễn Hoàng xuống phía Nam. Từ Quy Nhơn trở đi, họ nhờ cậy vào thế lực của các đại phú gia lâu đời ở ngay vùng đất ấy như Trần Đình Ân - cha vợ của Đào Duy Từ - ở Quy Nhơn, hay Trần Thượng Xuyên ở Gia Định, thậm chí cả các phiên vương như Kế Bà Tử của Chiêm Thành. Với các lực lượng chống đối, họ Nguyễn đưa quân tiêu diệt và cắm lực lượng của mình vào - như vị phò mã họ Mạc tên Nguyễn Phúc Vinh ở Phú Yên. Để quản lý hệ thống ấy, họ Nguyễn nhất thiết phải dựa vào các lực lượng quân sự, các họ tộc lâu đời như Nguyễn Cửu, Trương Phúc, Tống Phúc... Và các vị quan này lại không hưởng bổng lộc triều đình mà thu tiền ở các nguồn được ban làm bổng lộc.

Như vậy, việc "tận thu" xảy ra trong thời Trương Phúc Loan, hay thậm chí trước đó là thời Võ vương mà Nguyễn Cư Trinh khuyến cáo, xảy ra hoàn toàn không thể khống chế được - hoặc chỉ có thể khống chế tạm thời bằng quyền lực nhà chúa với các quần thần. Tương tự như vậy là quyền lực của quân đội. Sự im lặng của Võ vương cũng chỉ vì thế mà thôi.

Ngay cả trong triều đình này, việc triệt hạ nhau cũng để lại hậu quả lâu dài. Dễ thấy nhất chính là việc con của Trần Thượng Xuyên là Trần Đại Định bị Trương Phúc Vĩnh vu cáo mà chết trong tù, vợ của Trần Đại Định là con gái họ Mạc đưa con trai về Hà Tiên. Như vậy, quân Nguyễn chiếm được quyền quản lý Gia Định từ tay quân Long Môn của họ Trần. Nhưng khi Chân Lạp cùng Xiêm La hợp sức tiến đánh năm 1771, đội quân này căng hết sức ứng phó, để rồi... mất luôn Phú Yên, Bình Thuận. Mạc Thiên Tứ chết, cả lực lượng Hà Tiên, Gia Định đều không còn dùng được, để rồi Đỗ Thanh Nhơn phải tự tập hợp lực lượng lại từ đầu. Và chỉ đến khi... Gia Định bị hủy hoại không còn gì, Võ Tánh mới có thể tập hợp được hầu như tất cả sức mạnh của vùng này lại để phản kháng.

Như vậy, sức mạnh đỉnh cao và trượt xuống hố sâu của triều đình chúa Nguyễn là 1 quá trình, Trương Phúc Loan là người có nhiệm vụ... đào hố. Khi quyền lực khống chế tối cao không còn, các lực lượng trong triều đình được mặc sức sát phạt nhau, vơ vét về cho bản thân, tạo nên bất mãn lan rộng trong dân chúng lẫn binh sĩ, ngay cả người trong triều. Kết quả, 1 đứa bé 13 tuổi được cử làm thống soái đi đánh Tây Sơn (không thua cũng uổng), tướng giữ lũy Trấn Ninh thì chả lo chống Trịnh mà lo ép chúa giao Trương Phúc Loan ra giết.

Các chúa Nguyễn có vẻ đã nhận ra điều này, khi quá trình tập trung quyền lực được thực hiện liên tục từ thời chúa Minh cho đến Võ vương, nhưng điều họ Nguyễn thiếu là chính danh. Minh vương cầu phong với Khang Hy nhưng bị từ chối, Võ vương tự xưng quốc vương nhưng vẫn là thần tử của nhà Lê. Vậy là "Quảng Nam quốc" cứ thế ở trong tình trạng hỗn độn sáng tối, mập mờ quyền lực, không thể tạo lập nổi cho mình 1 hệ thống quản lý, luật lệ, hành chính vững vàng hơn. Và các lực lượng khác, kể cả trong chính triều đình hay tại địa phương, cứ thế mà nổi lên lặn xuống như sóng triều. Trong khi đó, các cuộc chiến lớn nhỏ vẫn không ngừng diễn ra, đẩy thế lực của các dòng họ tướng quân này lên cao hơn. Người ta chỉ có thể "cải cách" khi đạt được sự yên ổn nhất định, chứ có ai điên đâu mà cải cách khi đang rối như canh hẹ.

Tây Sơn đã có được tất cả khủng hoảng của triều Nguyễn: kinh tế, chính trị, quân sự, mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn địa phương, mâu thuẫn của triều đình - trong thời điểm mà triều đình này suy sụp nhất. Lực lượng thương nhân ở Quy Nhơn kết hợp cùng người được gọi là "giáo Hiến" tự tạo cho mình 1 danh nghĩa phù trợ tông thất, kết hợp với các nhóm dân tộc như hình mẫu các cuộc nổi loạn trong hàng trăm năm đời chúa Nguyễn. Vả lại, sức mạnh "giúp đỡ" Tây Sơn lớn nhất là quân Trịnh cùng với Nguyễn Phúc Dương. Quân Trịnh tiêu diệt đội quân cùng triều đình chúa Nguyễn tại Thuận Hóa. Nguyễn Phúc Dương "cản đường" Tống Phúc Hiệp từ Gia Định đánh lên, giúp Tây Sơn yên ổn được trong thời gian khủng hoảng mất quân Hòa Nghĩa. Và như đã nói, cuộc chiến với Xiêm La và sự sát phạt nhau ở Gia Định đã làm vùng đất này yếu đi như thế nào.

Vậy là, an ổn được ở Quy Nhơn, thấy quân Trịnh đánh xuống Quảng Nam, Tây Sơn cầu hòa nhận tước phong của Trịnh để đi đánh Nguyễn. Bị Tống Phúc Hiệp đánh từ Gia Định lên, giết nữ chúa Bà Hỏa, chiếm lại Phú Yên, Tây Sơn đưa Nguyễn Phúc Dương ra làm bình phong khiến Tống Phúc Hiệp dừng lại (ban đêm ra đánh lén). Hai nhóm Đông Sơn với Hòa Nghĩa đánh nhau ở Gia Định, tạo đà cho họ Nguyễn bị giết hết. Nạn đói ở Quảng Nam gây bệnh dịch khiến quân Trịnh phải lui, Tây Sơn chiếm Quảng Nam. Họ Trịnh giành ngôi với nhau ở Đông Kinh mà rút quân ở Thuận Hóa về, Tây Sơn lên chiếm Thuận Hóa "vườn không nhà trống".

Tất cả "vấn đề" trong hàng trăm năm của triều đình họ Nguyễn đã hiển lộ, kết hợp lại thành 1 khối nổ tung trong thời gian ấy: Các cuộc nổi loạn của thương nhân, tông thất, dân tộc, chiến tranh ngoài biên ải, sức ép của quân Trịnh, kinh tế bị cắt đứt, đấu đá trong triều đình. Và lúc này, triều Nguyễn hoàn toàn không còn chút sức mạnh nào để giải quyết như đã từng.




MM-LVD
Monday, July 24, 2017 Author: Trường An

Rất "lạ thường" là khá nhiều phần của sử VN chỉ có thể tìm được ở... ghi chép ngoại quốc. Đặc biệt là hầu-như-tất-cả những gì liên quan đến Lê Văn Duyệt. Ví dụ như chuyến thăm của sứ thần Miến Điện - vụ việc trọng yếu đã khiến LVD bị xử tội, và cũng liên quan mật thiết đến vấn đề bang giao của VN thời kỳ ấy, nguyên nhân hệ quả của đủ mọi thứ - Nhưng lại không hề được ghi chép cẩn trọng đàng hoàng trong chính sử triều Nguyễn. Hầu như tất cả hành động của LVD trong sử như bị "phủ 1 màn sương" lờ mà lờ mờ, kết quả là nhìn bản ghi hạch tội thì 99% nghĩ "oan ơi là oan".

Đến khi đọc được ghi chép của sứ thần Miến Điện thì đã rõ... chả oan tí nào. =-= http://truongan.name/?p=7310

Này thì lạm quyền cử sứ thần đi làm việc riêng rồi chém gió với vua rằng đi mua vũ khí. Này thì tự tiện kết giao kéo sứ Miến Điện đến VN "âm mưu" đi đánh Xiêm, rồi đùng đùng cãi nhau với vua đòi đánh nhau - Này thì dặn dò của Gia Long "đừng gây chiến ngoài biên ải" đã ném ra sau đầu vạn dặm. Này thì gài vua vào thế đã rồi, rồi gây hậu quả to bự cho sau này - Thằng Xiêm nó biết nó sang VN hạch hỏi đủ thứ, đến khi Lào đánh nó thì nó quặc luôn sang trách nhiệm của VN, đánh xuống luôn Chân Lạp (Ờ mà Chân Lạp dưới thời LVD chả biết quản lý kiểu gì để 10 thằng hết 9 bất mãn, ông sứ Anh còn buông 1 câu "thảm hơn cả dưới sự cai trị của Xiêm"). Nói chung, nhìn tội quả thật... chả oan tội nào.

Bonus thêm dưới ghi chép của ông sứ thần thì này là quan dưới trướng LVD tham ô tham nhũng, này thì lạm quyền như vua, này thì xử phạt tàn khốc chả cần luật lệ gì, chỉ cần ngứa mắt là đem chém... Các ghi chép của Li Tana thì nào là hàng hóa buôn vào Gia Định thì toàn thuốc phiện, bán ra thì toàn là gạo (đồ cấm bán), ông nào bà nào cũng nói đến bọn buôn lậu hoành hành ngoài khơi.

Kể cả những chuyện của người liên quan tới LVD trong triều, ngay cả 2 ông người Pháp. Năm 1823 Minh Mạng đã cho tìm mua thuyền Tây cũ về lắp ráp nghiên cứu lại, nhưng việc này lại không được ghi trong chính sử - nó nằm trong Di biên của "người ngoài" lẫn ghi chép của ông con lai Pháp. Và lục đục của MM với 2 ông quan Pháp quanh chuyện người muốn nghiên cứu tàu người muốn... lập ràng buộc cho Pháp cũng rơi rớt mỗi nơi 1 mảnh. Sau mấy hồi đọc lại thì nhận ra chả phải sử quan "không biết viết sử", mà chả qua là... lúc nào LVD cãi nhao với MM mà "không có lý" thì... bỏ qua, lúc nào thấy "vua có vẻ sai sai" thì ghi vào, LVD làm gì sai thì không ghi, mà hễ MM khen LVD là phải ghi, cái gì không ghi không được thì ghi 1 nửa, chả ai biết đầu cua tai nheo nó ra làm xao, mà sai to đi nữa thì... Lê Chất sai.

Ờ mà, khi nhớ đến đoạn "làm tàu" trên kia thì tự nhiên nghĩ ra... sử này có sự tác động nào của Pháp hay chăng? Bởi những phần "gọt giũa lược" này sẽ gây ảnh hưởng lớn đến cảm nhận của người đọc về phần rất quan trọng trong thời kỳ ấy, là kiểu như nài: Ôi ông LVD thiệt tài giỏi "tự do" làm nên tất cả, chỉ "lực lượng thủ cựu" chống phá ghét ổng. Trong khi LVD chỉ làm Tổng trấn 10 năm, Gia Định do Gia Long xây hết rồi, Chân Lạp do LVD quản 10 người phản hết 9, đến Bạch Xuân Nguyên đánh nhao với Lê Văn Khôi cũng là hục hặc cá nhân trong chính cái nhóm này, quân Xiêm thì do chính LVD "kéo về" do đi đêm với Miến Điện - Nói chung, MM vừa nắm GĐ 1 cái là tất cả tan tành xác pháo trong khi vẫn "chưa hiểu chiện gì xảy ra". Bonus thêm là đám tù phạm Thanh Nghệ kia là MM đã 5 lần 7 lượt gào "đừng có dùng bọn nó, đừng có dạy khỉ leo cây" mà LVD để ngoài tai, để rồi chúng nó chiếm luôn thành. Ờ, vại mà... trách nhịm là của MM nhoa, chớ ông quản việc coi vua như giẻ rách kia vô tội. '______'

Vậy là, 1 cái tổng thể trong thái độ trị quốc trị dân, bức tranh toàn cảnh về cả VN và thế giới trong chính nội bộ VN rơi rụng gần hết, trở thành kiểu xung-đột-cá-nhân chả biết đầu cua tai nheo ra làm xao (với "định hướng" rõ ràng ông-quan-oan).Tất cả lờ mờ 1 cách có-chủ-ý.

Như ngày trước mình từng thắc mắc tại xao LVD lại muốn "hợp tác" cùng Miến Điện đi đánh Xiêm, trong khi Xiêm đang bị Anh "bóp cổ" (Anh tấn công khiến Xiêm đầu hàng). Hành động này sẽ khiến Xiêm... chạy thẳng về phía Anh, dùng sức của Anh đi bóp cổ kẻ địch trước (Và hiện thực đã xảy ra đúng thế, Anh hợp sức Xiêm đánh Miến Điện, VN may quá chưa dính đòn dù sứ Xiêm sang hạch hỏi MM - vầng, MM mới đúng là toàn phải "gánh hậu quả" của LVD).

Đọc lại tự nhiên nhận ra 1 chuyện: Lúc ấy 2 ông quan Pháp kia đang chuẩn bị rời khỏi VN, đang ở Gia Định. Mà 2 ông này nhận lệnh của vua Pháp để "thiết lập quan hệ" với VN kiểu... giống Anh với Mã Lai. Thêm 1 chi tiết nữa là LVD... tỏ ra hâm mộ Napoleon, đây hoàn toàn là do ảnh hưởng của người Pháp. Do đó, có thể chính người Pháp đứng sau việc "xúi dại" này, đẩy VN ra đánh Xiêm, đánh luôn cả Anh để... Pháp nhảy vào.

Chỉ nội trong thái độ của LVD và MM với... Napoleon cũng đã cho thấy quan điểm, nhận định khác nhau. Như trên, LVD khen Napoleon vô cùng, trong khi MM nghe ông con lai bốc Napoleon lên tận trời là... đùng đùng nổi nóng (ờ, cũng chả phải "đùng đùng nổi nóng" đâu, là kiểu không muốn nghe nữa thì đúng hơn). 1 ông thì hẳn nghĩ "bạn ta thiệt là giỏi", 1 ông thì chắc đang nghĩ "nó mạnh vậy mà đánh ta thì ta phải làm xao". Cho nên, 1 ông hăng máo đòi "họp bè đánh nhau" kiểu "có Pháp bảo kê ta không sợ Anh", 1 ông nghĩ thầm "đùa hả người, 2 thằng khác nhao chỗ nào".

Cho nên, người Pháp... rất khoái LVD (kể cả mấy ông cố đạo nọ kia). Với sự "liên hệ mật thiết" của người Pháp trong chính quyền Gia Định (mà 2 ông cố đạo chính là thành phần chủ chốt trong phản loạn), liệu có thể cho rằng xung đột dằng dai của 2 bên về đủ thứ có sự góp phần của mấy "bàn tay lông lá" hay chăng? Dù gì, chiện chởi nhao tung trời quanh mấy ông sứ Miến Điện khởi đầu cho tất cả ồi đó (Và sử VN dím sạch, vô cùng sạch).

(Chú thích: Chiện Anh với Mã Lai cũng "vui" lắm. Ban đầu Anh "hỏi xin" cái cảng be bé ở Singapore làm chỗ đậu tàu thôi nha, rồi mấy năm sau... Anh chiếm nguyên cái tiểu quốc Johor nha. Mấy năm sau nữa là chính quyền Mã Lai trở thành puppet của Anh nha. Cho nên ai mà tin cái chiện "chúng nóa" "chỉ đi xin đất lập khu buôn bán" thì... ngây thơ dễ xợ. :v )




Con trai Lê Quý Đôn
Monday, July 24, 2017 Author: Trường An

Đây là nhân vật hầu như ít ai để ý tới, trừ scandal liên quan đến người cha, nhưng là 1 nhân vật kiểu "rất thú vị". Lê Quý Kiệt, hay trong sử Nguyễn thì phổ biến hơn với tên gọi Lê Duy Thanh.

Trước tiên nói về xì can đồ, thì năm 1775, Lê Quý Kiệt dính phải vụ án đổi quyển thi với 1 thí sinh khác, bị buộc đánh rớt. Lê Quý Đôn bị tội chủ mưu vụ này, bị cách chức đi hiệu lực, Lê Quý Kiệt thì bị chúa Trịnh giam vào ngục.

Nhưng mà, đến năm 1808, ngay kỳ thi Hương đầu tiên của triều Nguyễn, Lê Quý Kiệt đậu ngay ở trường Sơn Tây. Năm 1810, Lê Quý Kiệt được triệu cùng các học sĩ khác như Phạm Quý Thích về Huế, phong chức Đông các học sĩ. Sau đó, trong công cuộc tìm lăng, Lê Quý Kiệt lại đóng vai trò rất quan trọng khi "tìm ra" đất làng Định Môn núi Thọ Sơn. Năm 1814, Lê Quý Kiệt thăng tiếp Thị trung trực học sĩ kiêm Thái thường tự khanh góp việc Lễ bộ.

Nhìn "thành tích" này thì Lê Quý Kiệt chắc hẳn chả dốt đến độ phải có người làm bài thi hộ - hoặc quả thiệt thời trẻ chơi bời đổ đốn nhưng bị 1 lần sợ xanh mắt đã chịu tu tỉnh học hành. Nhưng cuộc đời Lê Quý Kiệt còn có 1 "vai trò" khác: Góp phần "thổi lửa" đẩy mâu thuẫn của Minh Mạng với 2 ông quan họ Lê lên cao, cao, cao.

Theo Minh Mạng kể thì ngày còn làm hoàng tử chả mấy khi tiếp xúc với quan lại bên ngoài, chỉ đi tìm đất xây lăng chung với Lê Quý Kiệt thì mới thân nhau. Theo cái "dư luận bên ngoài" kiểu Quốc sử di biên thì các quan trong triều cãi đông cãi tây chứ chả ai muốn lập Minh Mạng, chỉ có Lê Quý Kiệt "trước sau như một" ủng hộ - ờ, cái này thì cũng chỉ là tin đồn nghe cho vui thôi. Nhưng 1 phần có vẻ rất đúng là Minh Mạng vốn... chả thân với ông quan nào thật. Ngoại trừ mấy ông thầy thì quan thân bên cạnh MM sau này chỉ là mấy ông bạn học cùng thuở bé, ít thân hơn tí nữa thì là mí ông xuất thân thấp được cất nhắc sau này. 1 phần bản tính MM vốn ghét chuyện chia bè kéo phái, 1 phần chắc do Gia Long - vừa kiểm soát con mình mà cũng vừa "cảnh giác" với mọi trò kéo phái, cho nên khôn ngoan nhất là đừng có làm. =))

Nói như vậy thì nếu Lê Quý Kiệt "dám" ra mặt ủng hộ thì chưa chắc đã sống nổi. Nhưng mà nói chung thì 2 ông này thân nhau đi. Cho nên sau khi MM lên ngôi đã cử Lê Quý Kiệt đến làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng - cũng theo lời "tự sự" thì chủ ý là để coi có biết làm việc thực tế gì không. Mà Sơn Nam thượng là đất thuộc Hà Nội với Hưng Yên sau này.

Mà vầng, như mọi ông "Hiệp trấn" do MM phái đi khắp nơi thời này, năm 1820 được phong chức, năm 1821 Lê Quý Kiệt bị tố cáo tham nhũng - Theo Di biên thì là do Lê Quý Kiệt cãi nhao với ông quan cùng làm, bị người ta bới ra việc người nhà dựa thế làm bậy, xúi dân cầm đơn tố vua đang ở Bắc thành chờ sứ phong. Lê Quý Kiệt khóc xin quan Kinh tra xét chứ đừng để Nguyễn Hựu Nghi tra, thằng cha này mà tra thì thà chết còn hơn.

(Vầng, Nguyễn Hựu Nghi là người đã tố án vụ... Nguyễn Văn Thành. Mà theo mấy ông quan thậm thụt nói với nhao thì thằng dụ con Nguyễn Văn Thành "làm thơ mưu phản" ấy vốn là môn khách của Nguyễn Hựu Nghi chứ không ai khác. Mà theo nguồn khác nữa thì Nguyễn Hựu Nghi là người của Lê Văn Duyệt. Nói chung, dòm cái là biết... thà chết còn hơn thiệt.)

Vậy là, Lê Quý Kiệt liều chết xin thay người xử, Lê Chất đứng 1 bên gào đồ vô lễ phải chém, chém, chém. Minh Mạng thấy thế thì trói Lê Quý Kiệt lại đưa về Huế xử. Ở trấn Sơn Nam, Lê Chất lấy được hết "lời nhận tội" của người nhà người xung quanh đưa về Huế, Lê Quý Kiệt bị cách chức đi làm việc không công ở Quảng Bình. Vậy vẫn chưa yên, năm 1824 cả Lê Chất với Lê Văn Duyệt vào tâu xin về hưu vì tội... vua không xử chém Lê Quý Kiệt, luật không vững dân không tin làm việc không được.

Tất nhiên, chiện này thì chỉ là cớ thôi, mâu thuẫn thiệt thì... cả đống nhưng không tiện nói, lôi cái gì "chính nghĩa" nhất ra nói. MM quăng bản án lại bảo xem có sai gì không, thì thôi (Lần nữa, thiệt ra mí ổng dàn xếp được bằng cái gì thì... chả biết). Nhưng đã giả điên thì làm luôn, đến sau này Lê Chất lại bị xử vì cái tội lằng nhằng bám mãi cái án này.

Mà thật ra thì ngoài vai trò "cái cớ" ra, Lê Quý Kiệt "đạp đuôi" gì Lê Chất đến cái mức phải giết mới nghe? (À, quên việc Lê Chất thiệt là "thanh liêm cao quý" như tiếng đồn về ông đồng liêu đê. Di biên chép chiện linh tinh còn viết bà vợ 3 của Lê Chất mở đàn chay cầu tự suốt 9 ngày 9 đêm kìa).

Khi Lê Quý Kiệt bị xử, Thực lục trích lại lời MM nói lúc đưa Lê Quý Kiệt làm Hiệp trấn: chả phải ta yêu ghét riêng quan miền nào đâu, đâu cũng là dân ta mà. Lúc đầu đọc thì thấy hơi ngược ngược, sau mới nghĩ ra: MM phải "thanh minh" cho việc dùng quan người Bắc chớ hông phải là ngược lại. Dòm suốt dàn đại quan thời ấy toàn quan miền Nam.

Tiện phải nhắc lại thì là ngay trước và sau khi MM được lập làm thái tử, 1 đống quan miền Bắc bị "thanh trừng" khi Lê Chất được đưa ra Bắc thành. (Dẫn đến cái chuyện Nguyễn Du được cử làm Đại học sĩ vào đúng năm này luôn nhưng vào triều im thin thít, chính MM lúc đó là thái tử chạy lại bẩu có gì nói đê, triều ta hông kỳ thị Bắc Nam gì đâu, chỉ tại đám kia có tội mà - vầng, ổng bị bịnh "lý tưởng hóa" hơi bị nặng). Cuối cùng trong dàn quan miền Bắc chỉ còn mấy ông "học sĩ" làm việc văn thư là còn sống sót.

Trong đó thì Lê Quý Kiệt cũng coi như là sứt sẹo gì vẫn còn 1 chút "thân thế", cha dù sao cũng là đại quan cũ, nhà dù sao chắc cũng có chút của cải (vợ LQĐ nổi tiếng vì giàu). Ý định của MM cho Lê Quý Kiệt đến Sơn Nam làm quan cũng rõ luôn, là để "nghe ngóng tình hình", xem xét người trong vùng, coi tiến cử được ai thì làm - như sau này MM gom được 1 mớ quan, mà ông "được việc" nhất là... con nuôi của Nguyễn Văn Thành.

Cho nên... bị đập là phải đạo. Dù chưa thảm bằng Huỳnh Công Lý ló mặt đến Gia Định được mấy tháng đã bị tố án "méo hiểu ra sao", Lê Quý Kiệt đã "hy sinh" theo lời tự sự: Huhu, lúc bị lệnh đi trấn tui đã từ chối rồi mà hông được, tối ngày nơm nớp lo sợ mắc tội mà cuối cùng cũng dính. (Hãy nhớ tới lời MM thường dùng khi dụ khị người khác đi làm trấn thủ "tui biết ông tốt lắm hông làm gì nên tội đâu, cẩn thận là được ha, ha, ha" :v ). Thiệt ra theo logic thì có thiểu năng đến mức nào mới đi đơn thương độc mã gây chuyện ở chỗ Lê Chất, với 1 ông vua mới lên ngôi được có mấy tháng "chống lưng"?

Và rồi, trong 1 đám quan nhà Trịnh, hầu như chỉ mỗi ông bố Lê Quý Đôn "được" sử quan viết Cương mục "đặc cách" cho mấy đoạn chê bai nát nước lên bờ xuống ruộng vô cùng "đặc sắc": Làm quan thì nhờ đút lót mà lên chức, làm việc thì vừa bất tài vừa bất lương, làm người thì vô cùng ba chấm. :v Trong khi ân oán cá nhân hay ân oán triều đại thì chả có, LQĐ thì cũng chỉ là ông học sĩ viết lách nọ kia, làm quan sai chỗ nọ chỗ kia chớ cũng chả lớn hơn ai mà cũng chả quan trọng hơn ai. Vậy mà dòm suốt ngàn năm lịch sử, trăm năm triều Trịnh chỉ có ông LQĐ bị "chú ý đặc biệt" đến mức độ này. =))))

Vừng, sau khi dòm can cớ của ông con Lê Quý Kiệt, tự dưng hiểu ra luôn. Đã bẩu, từ lâu mềnh đã có cảm giác rất to rằng sử quan theo phe LVD chớ hông phải là ngược lại âu. =))))




Sandglass 3
Thursday, July 6, 2017 Author: Trường An

Thiệt ra thì HQ đến năm 1987 mới có cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên, và đến năm 1997 mới có "cuộc chuyển giao ngôi vị cho đảng đối lập" 1 cách hòa bình đầu tiên (trước đây toàn là đảo chính).

Nói như vậy để biết tình hình chính trị HQ nó là như nào, hông phải như cách người VN thường nghĩ "ôi chao nó đi theo Mỹ theo tư bản vại là dân chủ tự do, thượng tôn pháp luật, vv lắm lắm".

Ngược lại, theo chính trong bộ phim này nói "Mỹ ủng hộ tổng thống Park vì ông ấy mạnh mẽ, chúng ta không thể để cho Mỹ thấy chúng ta yếu đuối". Park Chung-hee, chính là vị tổng thống được gọi là độc tài, đoạt ngôi vị bằng 1 cuộc đảo chính và đặt thể chế độc tài quân sự lên khắp đất nước, cho đến khi bị ám sát vào năm 1979. Và 1 phần của các cuộc biểu tình trên khắp HQ vào những năm 80s là tâm lý chống Mỹ.

Để hiểu điều này thì cần liên tưởng đến chính trị miền Nam trước 75, những gì mà Mỹ đã làm với chính trường miền Nam. Thứ Mỹ cần ở đây là 1 chính phủ đủ sức khống chế cục diện, để phục vụ cho mục đích ngăn chặn "làn sóng đỏ" lan xuống ĐNA. Do đó, Mỹ có thể cho chính phủ "độc tài" của Ngô Đình Diệm tồn tại hơn 10 năm, nhưng rồi lại đứng sau đảo chính lật đổ nó khi hành động của chính quyền này nằm ngoài tầm kiểm soát. Nhân nhắc nhớ lại, các cuộc càn quét, thanh trừng CS tàn khốc nhất chỉ đến sau khi NĐD bị lật đổ, còn trước đó mục tiêu của NĐD là xây dựng, củng cố quyền lực cho chính mình - cho nên mới có tin đồn NĐD sẵn sàng bắt tay với miền Bắc. Chiêu bài "dân chủ, tự do" mà các chính khách đối lập sử dụng cũng được truyền thông Mỹ tuyên truyền, đẩy lý do cho cuộc đảo chính thành 1 cuộc "cách mạng vì dân chủ".

Quay lại với HQ, thì giới chính khách HQ trong những năm ấy cũng y chang miền Nam VN. Sau cuộc chiến với miền Bắc, chính trường HQ như canh hẹ, và HQ trở thành "sân trước" Mỹ dùng để đối kháng với TT lẫn TQ. Thứ Mỹ cần, do đó, là 1 chính quyền đủ mạnh mẽ - lý do y chang như lúc Mỹ chọn NĐD. Và để đủ mạnh, giới chính khách này cần làm mọi thủ đoạn để giành lấy quyền lực, trừ diệt đối thủ, củng cố vị thế. Họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn, đơn giản là... đập chết thằng kia, phức tạp thì là tranh giành quyền và lợi ích kinh tế. Từ đó, doanh nhân trở thành "máy bơm tiền" cho chính phủ, và doanh nhân cũng dựa vào chính phủ để đoạt lấy lợi ích cho bản thân. Nhờ quyền lực, doanh nhân làm đủ trò bức hại dân chúng, chiếm đoạt bất cứ thứ gì có lợi cho mình. Nhờ tiền bạc, chính khách giữ vững quyền lực của mình. Mối quan hệ cộng sinh này đẩy tất cả gánh nặng xuống tầng lớp dưới.

Chính quyền của Park Chung-hee nổi tiếng là 1 chính quyền độc tài với hàng loạt cuộc bắt bớ, thanh trừ, ám sát, đàn áp. Nên khi Park Chung-hee vừa chết, khi những cuộc đảo chính khác lại nổi lên, phong trào đòi "dân chủ tự do" cũng nổi lên - Mà thật ra thì, Gwangju chính là vùng của Kim Dae-jung, người sẽ trở thành tổng thống HQ vào năm 1997, thuộc về đảng đối lập với Park.

Thật ra nhìn mọi thứ đơn giản thì sự việc rất đơn giản, thiệt.

Năm 1980, sau khi tổng thống Park bị ám sát, các cuộc biểu tình nổ ra khắp nơi ở HQ do giới sinh viên cầm đầu, cộng thêm vào đó là công nhân các nhà máy. Tháng 12-1979, sau khi tổng thống Park qua đời, Choi Kyu-hah làm cuộc đảo chính giành chính quyền từ chính phủ lâm thời, đến tháng 4-1980 thì chính quyền cũ giành lại vị thế. Trong thời điểm này, vì lo sợ "Mỹ thấy ta yếu đuối không kiểm soát nổi tình hình", cộng với lo ngại về tư tưởng CNXH trong giới sinh viên (có thể là cả nghĩ rằng đảng đối lập đứng sau kích động), cùng với cuộc đấu đá trong chính nội bộ đất nước, chính quyền HQ cho lệnh đàn áp.

Chỉ ví dụ, sau vụ Gwangju, gần 1400 người bị bắt, hơn 400 người bị tù, 7 người bị tử hình. Trong đó có 2 sinh viên đứng đầu hội sinh viên chết ngay khi đang bị thẩm vấn.

Ở Gwangju, khi quân đội được phái tới lùng bắt sinh viên thì đã xung đột luôn với dân bản xứ, giết nhầm còn hơn bỏ sót. Dân chúng tụ tập nhau lại, ban đầu là biểu tình, sau là tự vũ trang chiếm luôn Tòa thị chính đối đầu với quân đội. Lực lượng vũ trang được đưa tới Gwangju.

Kết quả, chính phủ nói thì chết có khoảng 200 người, nhưng con số tin đồn thì phải từ 600-2000.

Cho nên, nơi gọi là Cuộc nổi dậy Gwangju, nơi thì gọi là Cuộc thảm sát Gwangju.

---

Bộ phim này được làm năm 1995, 2 năm trước khi Kim Dae-jung trở thành tổng thống - Nên phải nói thiệt là nó cũng "bè phái" rõ rành rành. Nào là "đảng đối lập thật đáng thương, chúng ta cần bỏ phiếu cho họ", nào là bỏ qua hoàn toàn vai trò của những chính khách phe đối lập, cho thấy cái đảng cầm quyền kia chỉ giương vây hổ báo 1 mình, làm đủ trò đen tối tàn ác dã man. (Nhưng mờ đời này diễn vai cổ tích cho ai xem vại?)

Ngay cả trong HQ thì trước đây cũng chẳng mấy ai biết vụ việc Gwangju, cho đến khoảng đầu những năm 90, nhất là bộ phim này đã tạo nên cơn "địa chấn" (và nhất là tạo tiền đề cho Kim Dae-jung thắng cử. Như đã nói, Gwangju là vùng của Kim Dae-jung, cho nên sau vụ việc ở đây, Kim Dae-jung đã bị tuyên án tử hình rồi được Mỹ đưa đi lưu vong, đến năm 1985 trở về).

Thật ra thì... hãy nhìn số năm. Chẳng phải do các "anh hùng dân chủ" đã chiến đấu và chiến thắng đâu, mà là vì... Liên Xô sập mất tiêu ồi, và TQ đã trở thành đồng minh của Mỹ trong những năm ấy. Không còn đối thủ, đương nhiên Mỹ cũng không còn lo phải giữ 1 chính quyền "mạnh mẽ" để kiểm soát HQ bằng bàn tay sắt. Do đó, lãnh đạo đối lập được đưa về, chính quyền cũng chấp nhận bầu cử, nền "dân chủ" được thành lập. Và rồi, khi không còn thể chế độc tài, các doanh nhân có thể chọn lựa phía mình muốn đứng, sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 khiến mọi chính quyền sập hết, đảng đối lập thắng cử.

Đã bảo, nhìn đơn giản thì đời đơn giản, vậy ó.

---

Nghĩ ra thì cái phim này phản ánh tâm hồn người HQ ở 1 chiều sâu khó tả.

Như tình yêu, mình nói là 2 bạn nhân vật chính có yêu nhau đâu (hay ít ra là 1 phía không yêu). Thật ra, cái theme song dành cho anh vệ sĩ mới là Love theme. Ở bất cứ phân cảnh tình cảm nào, cái theme song này lại nổi lên. Đúng vậy, thật ra tình cảm của 2 người này mới là tình yêu, cái tình cảm câm lặng này mới là "nền tảng" của phim. Nhưng mà ngay từ khi bắt đầu, 2 người chỉ luôn là kẻ đứng bên 2 bức tường không thể vượt qua. Anh không đủ ngông cuồng để tuyên bố "anh sẽ mạnh lên để có được em" như nam chính, em thật ra cũng chẳng thể nào bỏ xuống địa vị, trách nhiệm của mình. Ngay cả khi em bảo anh bỏ đi cùng em, anh cũng chỉ nói anh biết là em chẳng bỏ đi đâu. Mà nếu đã đứng ở vị trí hiện tại, vĩnh viễn cũng chỉ có thể là như thế. Anh xây dựng bức tường kiên cố vĩnh viễn không thể vượt qua.

Em yêu cha em, nhưng cha em có thể hy sinh, làm tổn thương em vì công việc của mình. Mỗi lần em muốn tiến lên thì bị bức tường kia chặn lại. Tất cả xa lánh em vì địa vị mà em có. Chỉ có 1 kẻ ngông cuồng bất chấp chạy đến nói "em là của tôi, tôi sẽ không để mất em". Nhưng em yêu kẻ ấy hay vì khao khát khác của riêng mình?

1 kẻ xuất thân dưới đáy, càng vùng vẫy càng bị giẫm đạp, chỉ có cách vươn lên duy nhất là đi cùng với bóng tối. Là kẻ cả đời sống vì tình yêu, cuối cùng rơi hẳn vào bóng tối. Thật ra thì cả đời anh có oán hận ai đâu, anh chỉ biết yêu thương mọi người, làm hết lòng hết sức cho tất cả. Nhưng chỗ ở của anh là bóng tối, nơi duy nhất chấp nhận anh, cũng là nơi hủy diệt anh. Tình yêu đơn thuần nhất, chỗ ở của nó là bóng tối.

1 người lớn lên với nhận thức "cái gì đúng là đúng, sai là sai" lại phải mang mặc cảm tội lỗi suốt đời, lại đối mặt và trở thành 1 bộ phận của quyền lực. Rồi sau đó, nỗi đau của anh cũng chẳng là gì. "Ai mà không có vết thương", gặm nhấm vết thương của mình, cảm giác tội lỗi của mình là đồ ích kỷ. Chỉ có lao lên, dùng cả cuộc đời để bù đắp, để sống vì người khác.

"Ai mà không có vết thương", nhưng gặp nhau vẫn chỉ nở nụ cười. Giải quyết được gì - có thể là không gì hết. Chúng ta chờ đợi, nhưng có thể là chẳng bao giờ có kết thúc. Bao nhiêu nỗi đau đã trải qua, cái quan trọng là "sau đó" - Sau đó, chúng ta sẽ sống - đã sống như thế nào.

Hồi trước mình từng bảo chứ tư tưởng của xã hội HQ khá là "kỳ cục". Tự nhiên xem bộ phim này xong hiểu ra hết sóng ẩn sóng ngầm.

---

Muốn hiểu HQ thì coi phin này đê. :meo7:




Hoàng Công Lý là ai?
Saturday, October 22, 2016 Author: Trường An

Thì hẳn là ai ở SG cũng đã nghe qua câu chuyện: Hoàng Công Lý là cha vợ Minh Mạng, ông ta tham ô bị Lê Văn Duyệt phát giác. Vua muốn bao che, LVD quyết tâm "trừ hại cho dân", blah blah. Vấn đề là, dòm hết danh sách cung phi của Minh Mạng không có lấy nửa cái họ Hoàng. :v

Dù Thực lục nhắc đến Hoàng Công Lý khá nhiều lần nhưng Liệt truyện lại không ghi chép gì, cũng không có "manh mối" gì về dòng họ xuất thân của HCL. Cái chi tiết "cha vợ" kia cũng chỉ xuất phát từ các nguồn tin rất "hư cấu" - đừng bảo vì HCL có tội nên con gái không được ghi, đến con Lê Chất còn ghi nữa là. Các cuốn sử đồng thời của "người ngoài" như Di biên, Ký văn đều không hề nói HCL có dính dáng gì tới gia đình MM. Như vậy, Phó Tổng trấn Gia Định HCL là ai mà lên được chức tước như thế?

Lật lại Thực lục, lần đầu tiên nhắc đến HCL là năm 1801, Gia Long đánh úp Phú Xuân, rồi phong HCL làm Thuộc nội Cai đội. Đây là cuộc tấn công bí mật, GL đã dùng quân mới mộ từ GĐ đến để đánh, cho nên đây cũng có thể là lần đầu tiên HCL "xuất trận" trên quan trường. Như Minh Mạng sau này nói "Hoàng Công Lý không có công trạng như các ngươi (các công thần)".

Trong thời GL, HCL rất được tín nhiệm. Từ Vệ úy vệ Thị trung được làm Trấn thủ Bình Định, rồi Tả Thống chế. Đến việc xây dựng Kinh thành cũng có HCL chỉ huy. Rồi HCL được cử làm Phó Tổng trấn GĐ - trước khi LVD đến. Khi người Chân Lạp nổi loạn, HCL không đánh dẹp nổi mới cử LVD đến.

Và rồi, LVD làm Tổng trấn, HCL bị tố tham nhũng, bị xử tử ngay ở GĐ.

Nếu muốn dò lại "tung tích" HCL, thì "tình cờ" sao thời đó cũng có khá nhiều người họ Hoàng Công. Đáng chú ý là năm 1793, Nguyễn Đô từ Huế vào GĐ, đưa theo 1 người là Tri huyện Hoàng Công Khê. Trong quân Võ Tánh ở Bình Định cũng có 1 vị hàng tướng Bình Định tên là Hoàng Công Thành, cũng chạy về phía GĐ năm 1793.

=> Hãy nhớ đến lúc Hoàng Công Lý được cử làm lãnh Trấn thủ Bình Định trong khi chỉ là 1 Vệ úy. Đây có vẻ là 1 "chiến lược an dân" tạm thời vì sau đó HCL lại được rút về Huế.

Khả năng rất cao, HCL là người Bình Định, chính là dòng dõi của những hàng quan hàng tướng này. Điều này cũng có thể "lý giải" tại sao HCL "1 trận thành danh", đồng thời tại sao lại được gia tăng cấp bậc nhanh như vậy. Các tướng tử thủ Bình Định lẫn dòng dõi của họ được trọng dụng rất cao, ngay cả Ngô Văn Sở.

Nhìn lại hành trạng của HCL, ta lại thấy 1 chi tiết vô cùng đáng chú ý: HCL chính là người cuối cùng gặp Nguyễn Văn Thành. Thực lục không nói nhưng Liệt truyện ghi rõ ràng HCL chính là người dâng thư trần tình cuối cùng của Nguyễn Văn Thành cho Gia Long, khiến vua cởi bỏ mọi tội trạng cho NVT. Tại sao HCL có được lá thư đó, cũng như là người cuối cùng NVT bộc bạch hết sự uất ức của mình - Hẳn nhiên, HCL phải là người rất thân với NVT.

Vầng, ta bảo - tranh chấp thời ấy nó chỉ loanh quanh về lại "điểm khởi đầu" này à. :v Ta tưởng tranh chấp là ở thành Nam, thực ra "tâm điểm" của nó lại nằm ở thành Bắc. =))

Đầu năm 1820, GL chết, MM lên nối ngôi. Khi đưa Lê Văn Phong, em trai Lê Văn Duyệt làm Phó Tổng trấn Bắc Thành, MM cũng đưa HCL về làm Phó Tổng trấn Gia Định. HCL được giao đào sông An Thông, rồi chỉ mấy tháng sau Chân Lạp nổi loạn, sự việc xảy ra như trên.

Theo sử Nguyễn, MM không có hành động nào để "gỡ tội" cho HCL, thậm chí không cho gọi về Huế xử mà để lại GĐ cho LVD xử - trái ngược với Trần Nhật Vĩnh sau này (vầng, nhân vật TNV này cũng rất đáng chú ý, để nói sau). Có thể thấy HCL là vị đại quan lớn nhất (cho đến lúc ấy) bị xử tử vì tội tham nhũng, cho nên ngay chính MM cũng lấy "tấm gương" ấy nhắc đi nhắc lại. Nhưng mà - nhìn lại khoảng thời gian ngắn ngủi HCL đến Gia Định, liệu có thể nào mà có thể gánh nổi tội trạng "tàn ngược dân chúng khiến dân nổi loạn", làm như toàn bộ trách nhiệm trút lên hết HCL (Chân Lạp lúc ấy cũng coi như thuộc về GĐ, nên dù quan quân VN đối xử rất "ba chấm" thì lỡ làm gì bị tố cũng gánh hết).

Vừng, nói HCL đến GĐ thời gian quá ngắn, thì thật ra là đang nhắm đến người cai trị GĐ trước đó, suốt từ 1816-1820: Trịnh Hoài Đức.

Quan hệ của Lê Văn Duyệt và Trịnh Hoài Đức sau này đã chuyển về trạng thái gần như kẻ thù. LVD thậm chí nhiều lần công khai lẫn nói sau lưng bảo Minh Mạng phải giết THĐ đi.

Phía THĐ thì chẳng rõ thái độ, nhưng có 1 việc rất rõ: Phía LVD từng ép chết người anh em thân thiết của THĐ là Ngô Nhơn Tịnh. Trong thời gian làm Hiệp Tổng trấn với LVD, Ngô Nhơn Tịnh bị tố cáo oan, uất ức mà chết.

Còn nếu truy ra xa hơn, thì THĐ cũng có quan hệ rất tốt với... Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường.

Sau khi HCL chết, MM cử Trương Tấn Bửu về làm Phó Tổng trấn GĐ cùng 1 lời nhắn nhủ đầy hàm ý: Ta biết ngươi không đến nỗi không giữ pháp luật, nhưng ở quan trường hiền quá thì đám người dưới làm càn đổ cho người trên, nhìn gương HCL ấy. Rốt cuộc Trương Tấn Bửu cũng "chịu nhiệt" được hơn 1 năm, đào xong kênh Vĩnh Tế là xin về hưu luôn, 5 năm sau mới chết.

Từ đây có thể đặt ra 1 nghi án lớn hơn về chuyện sát phạt nhau của 2 phe phái kéo dài suốt thời GL sang đến thời MM, mà HCL chính là "chốt thí" của cả 2 bên. Điều này không có nghĩa là nói HCL không có tội hay LVD đích thân ra tay, mà là 1 "hệ thống" - như MM nhắc nhở Trương Tấn Bửu.

Cũng như cuối đời LVD cũng mắc phải "cục nghẹn" Trần Nhật Vĩnh. Ngay cả ông sứ thần Miến Điện đến GĐ chỉ có mấy ngày cũng nghe tiếng tham ô lạm quyền của "vị quan thân cận với Tổng trấn" này luôn. Nên 1 viên quan hầu cận MM có chuyện vào GĐ cũng trở về báo cáo lại với vua về Trần Nhật Vĩnh. LVD nổi giận đùng đùng ép vua phải giết chết người tố cáo này. Đến ông sứ Miến Điện cũng ghi nhận 1 trường hợp có ông quan bị LVD xử tử, tịch biên gia sản vì "âm mưu làm hại" viên quan thân cận của LVD.

Không rõ số phận của viên hầu cận ra sao. Nhưng đến cuối đời, khi quân Gia Định thua thảm luôn quân Chà Và, khi GĐ rối như canh hẹ, người dân bắt đầu ùn ùn kéo đến tố cáo Trần Nhật Vĩnh, LVD mới đau khổ nhận ra tin nhầm người. Mà sau này hễ nhắc đến LVD là MM lại bắt đầu lôi tên TNV ra chởi. :v

Vụ xử án Trần Nhật Vĩnh này cũng rất là "phức tạp". Nhận thư tố cáo, LVD báo lên, MM gật đầu bảo "ông xử luôn đi, khỏi đem về kinh". Vậy mà chả hiểu sao mấy tháng sau TNV bị xử tử ở Huế - điều này cho thấy MM cũng chả còn tin gì "pháp luật" ở GĐ, và có thể cũng đã tranh cãi hơi bị nhiều.

---

Mình từng nói chớ, "tập đoàn" lâu nhâu phía dưới LVD là bọn vô cùng đáng xợ, thiệt luôn.

---

Có nhiều người từng nói, sử VN được viết như... sao lại kịch truyện của TQ, từ binh biến Trần Kiều đến... Tây du ký.

Thật ra, "biểu tượng" chính là những... mơ ước không thành. :v 1 quốc gia "không có lịch sử" mà chỉ thích "biểu tượng" thì đừng hỏi xao rơi từ hố đen này sang vụ nổ Bigbang khác.

"Em ơi lâu đài tình ái đó, chắc không có trên trần giannnnnn..."

Nghe chơi thoai, đừng tin. :v https://www.youtube.com/watch?v=ff-z1o0d1EE




Dịch ngắn
Wednesday, July 13, 2016 Author: Trường An

Voyage from French to Cochinchina in the ship Henry - Captain Rey of Bourdeaux.

Gia Long, người đàn ông mà sự thăng trầm của số phận không đáng nhớ bằng sự thiên tài và phẩm chất đạo đức của ông, luôn luôn khao khát sự đổi mới và cải tiến cho nền quản trị cộng đồng. Tuy nhiên, lo sợ sự nghịch chuyển trong tâm lý của số đông, thần dân trong những vùng quản trị, ông bắt buộc phải chấm dứt nhanh những dự án thay đổi của mình. Được huấn luyện trong nghịch cảnh, ông nắm bắt lượng thông tin của mọi chủ đề vượt xa mức thường có của những ông hoàng phương Đông. Kết quả là ông cũng chẳng lạ lẫm gì với tình trạng của thần dân mình - và sự thích hợp của họ với hệ thống chính quyền mà ông muốn xây dựng. Vì lý do này, khi chọn người kế vị, ông đã không chọn người con lớn nhất, mà là người ông biết có khả năng và sự cứng rắn nhất. Người mà ông biết (theo chính bộc bạch của ông) "có thể cầm cây gậy và sử dụng nó trong điều kiện cần thiết, không phân biệt với mọi kẻ thuộc mọi tầng lớp, dù lớn hay nhỏ".

"Yêu cho roi cho vọt" là 1 cách nói hay ho, nhưng với người VN thì nghĩa của nó phải đảo ngược lại. Ở đây các thần dân có vẻ như muốn nói với người lãnh đạo rằng "Nếu ông muốn tôi tôn trọng ông, yêu ông, thì hãy trừng phạt tôi". Sợ và yêu là những khái niệm đồng nghĩa với nhau trong miệng người VN, những người nói "Tôi sợ anh" và "Tôi yêu anh" không khác gì nhau.

... Ông ấy cũng có thói quen tha thứ cho phạm nhân trong những lần ân xá 3 lượt dành cho những người biết hối lỗi và thành thật. Ông đã hơn 1 lần nói với Bá Đa Lộc, người mà ông vẫn coi là thầy dạy của mình, rằng "Vì tình bạn của ông dành cho ta, ông sẽ không bao giờ để cho ta nắm quyền lực phán xét quá mức nghiêm trọng. Ngoài ra, nó cũng sẽ chứng tỏ ta sai nếu ông 3 lần cầu xin ta gia ân cho kẻ phạm pháp."

Tổng trấn Bắc Thành hiện tại (Lê Chất) trước đây là tướng chỉ huy của kẻ thù với Gia Long. Chuyển đổi qua quân đội nhà vua, đáng lẽ ông ta phải bị trừng phạt hoặc đày đi làm lính trong quân. Ông ta lại được tin tưởng giao nhiều nhiệm vụ quan trọng. Vào tháng 4-1803, ông ta là người phát động đợt tấn công đầu tiên vào Kinh, thủ phủ của Tây Sơn. Ông ta đã bắt được 1 tù binh nhưng sau đó chấp nhận thả hắn đi, cảnh cáo hắn không bao giờ xuất hiện trước mặt ông ta lần nữa. "Bệ hạ," ông ta nói, "Trong 10 năm, thần đã ăn cùng 1 chén cơm với kẻ ấy trước khi thần phục vụ ngài, làm sao thần có thể giết hắn được?" Nhà vua trả lời: "Nếu ta ở địa vị ngươi, ta cũng làm thế mà thôi."

... Thái tử hiện giờ chừng 30 tuổi; được dạy dỗ rất tốt. Anh ta rất thông thạo hình học, thiên văn học, địa lý. Anh ta thường sử dụng chữ Roman khi viết, nhưng từ chối học ngôn ngữ ngoài tiếng nước mình. Rất nhiều công trình phương Tây hữu ích được dịch lại cho anh ta sử dụng, và từ học ở một viên quan Pháp, anh ta đã biết cách xác định tọa độ trên trái đất bằng cách quan sát mặt trăng.

... Người VN có vẻ hiền hòa tự nhiên, dễ chịu, lễ phép và thông minh. Tầng lớp dưới của họ vượt trội hơn kẻ dưới ở TQ, thậm chí cả ở châu Âu về tính tôn trọng lễ giáo và trật tự.

... Khăn đội đầu không bao giờ được mang ra khỏi cửa nhà, ngoại trừ khăn trắng để tang, nhưng cũng không ai đến trước mặt quan trong bộ dạng ấy.

------

Người được nhắc tới ở đây chắc là Lê Văn Thanh. Hồi Lê Trung bị triều Tây Sơn giết, Lê Chất phải đi trốn, do Lê Văn Thanh che giấu cho. Đến khi Bình Định bị hạ, Lê Văn Thanh bị bắt, rồi trốn đi, tới khi Gia Long đánh Phú Xuân xong lại thấy bắt được, rồi lại thả.

Mà vầng, hóa ra Minh Mạng biết xài chữ quốc ngữ, cái chữ "hình học" thì đúng là ghi geometry đấy. Sau này mấy ông quan Pháp trở lại đem tặng kính thiên văn với thước đo địa đồ, chắc cũng là cho "sở thích" của vua.



----

Embassy to the Eastern court, Cochinchina, Siam and Muscat - Edmund Robert

Đây là nhật ký hành trình của người trong đoàn thuyền Hoa Kỳ đi làm việc tại các nước trong khoảng 1832-1834. Thuyền này tên là Peacock, là thuyền chiến, đã từng ghé qua Việt Nam đặt quan hệ ngoại giao, nhưng mờ không thành công vì cái lý do... giời ơi lắm. :v

Đọc nhật ký hành trình này đoạn ở VN, nửa đêm cười như khìn. :v

Chiện xui thứ nhất, đến lúc nào hông đến, đến vào năm 1833 người ta đang oánh nhao, cho nên Sài Gòn hông vào được, Phan Rang đổ xuống cũng kẹt cứng, thuyền này túc tắc làm sao mà... mắc cạn kẹt ở Vũng Lắm, Phú Yên. Cho nên mất mấy ngày thư qua tin lại mới có quan lớn từ tỉnh xuống coi, mất mấy ngày nữa mới gọi được người từ trên xuống.

Chiện xui thứ hai, đến lúc nào không hay, vừa đến cái là... thời tiết xấu. Biển động, thuyền lắc như điên, mí ông quan VN lại bị bịnh say sóng. Chờ hết bão mới tới được thì chớ, ngồi nói chuyện trên tàu cũng hông được, gọi nhau xuống bờ... cãi nhau.

Vừng, nội dung cãi của các bác vô cùng phong phú. Từ chuyện lá thư đầu tiên dịch ra không được dùng tên An Nam mà phải là Việt Nam nhóa, vua không dùng chữ "vương" mà phải là "hoàng đế" nhá - Tới chuyện thư gửi cho ai phải viết rõ ràng ra nhóa. Sửa sơ sơ, chuyển thư của Tổng thống Mỹ đến Huế, vào tay "bộ trưởng ngoại giao" rồi, bộ trưởng gửi người nói lại là phải có bản copy lá thư cho bộ trưởng xem trước để báo lên vua, cùng những yêu cầu chính của đoàn sứ giả lần này.

Từ đây bắt đầu cuộc cãi nhao dằng dặc của... cả 2 bên ngang như cua. Anh Mỹ bảo nhất định không là không, thư Tổng thống tao gửi cho vua nhà mi chứ có gửi cho thằng bộ trưởng đâu mà đòi đọc. Anh Việt bảo đó là thông lệ xưa nay ở xứ tao, bộ trưởng phải biết mày muốn cái gì đã, chữ viết rõ ràng, kê khai đầy đủ làm bằng chứng rồi mới báo cáo lên vua được, mày chỉ nói miệng đến lúc mày đòi cái khác thì xao. Anh Mỹ khùng lên bảo Tổng thống nhà tao hông nói chuyện với kẻ phục dịch, thông lệ nhà tao hông có thế. Anh Việt bảo, nhà tao trước nay chơi với mọi thằng Tây, từ Anh đến Pháp đều thế, xao chỉ có mày khoái cãi vậy. Anh Mỹ lôi bằng chứng ông sứ Anh đến từ thời... Tây Sơn ra làm bằng là ổng gặp ngay trực tiếp "vua" (Nguyễn Nhạc) nè. Anh Việt sạm mặt, tao hông thèm nói thứ này nhóa. => Cuộc cãi vã này mất 5-6 ngày mới thỏa thuận được.

Nhận được bản copy rồi, anh Việt lại bắt sửa. Anh hỏi ngang hỏi ngửa Tổng thống là cái chức chi, ủa vậy là bầu cử lên hở, thay đổi sau 4 năm hở? Chắc bụng anh nghĩ vậy thì chức này đâu to bằng vua, các anh bảo nhao là chọn từ ngữ dịch sao cho khiêm cung nhã nhặn thoai. Anh Mỹ nghe được, chắc cũng có tật giật mình, bắt đầu sửng cồ lên: Tổng thống nhà tao hông có kém vua nào hết nhé, Tổng thống nhà tao cũng được mọi người tôn trọng, địa vị ngất trời, cũng là vua 1 cõi đó. Ngày hôm sau anh Mỹ rủ đoàn xuống bắt mấy ông quan xin lỗi, các ông nói, hở, tao có ý bất kính gì đâu. Nhưng anh Mỹ tức sẵn rồi, hằm hè kể lại suốt.

Bộ trưởng Việt OK rồi, giờ đi dịch lại lá thư đàng hoàng trình lên vua. Nhưng mà bản dịch lá thư của Tổng thống Mỹ khó xơi quá, "friendly" hông thích hợp để làm thư ngoại giao nè, God phù hộ ngài thì phải là thượng đế chớ hông phải Chúa Kitô nè. Anh Mỹ vốn đã ôm cục tức sẵn, lại thêm tính anh xưa nay (đến nay vẫn thế) coi anh là cha thiên hạ, anh làm gì kệ anh người khác đừng có xớ rớ vào, bảo thư nhà anh thì dịch cho nó sát nghĩa vào. Dịch không xong, thư không chuyển được thì anh bỏ đi, thuyền nhà anh ở khắp thế giới chớ anh không đi cầu cạnh thằng nào hết nhé. Anh Việt bẩu, là mày đến nhà tao chứ có phải tao đến nhờ mày đâu, mày đến đây đặt quan hệ là muốn giảm thuế thông thương mà. Không có mày tao vẫn chơi với thằng Anh thằng Pháp, mà cảng biển tao mở tự do, thằng nào muốn đến thì đến, mày muốn giảm thuế nên mới có việc nài chớ tao có lợi gì đâu. Anh Mỹ hất hàm bảo, Anh Pháp nó đến đây vì nó không vào vài vùng của TQ được, chớ tao cóc thèm nhờ. Anh Việt bẩu phong tục nhà tao là làm việc như thế, sao mày khó ở vậy? Anh Mỹ hằm hè, mày đến nhà tao thì tao vẫn cho mày làm việc theo ý mày muốn, nên giờ tao thích làm theo lối của tao, tao khó ở với mày đấy thì xaoooooo.

Nói chung, do điều kiện ngoại cảnh thời tiết và do cãi nhao hăng say, từ khi thuyền cập bờ đến khi đi đã mất gần 1 tháng. Sau khi khuân được lá thư đi đến Huế rồi, anh Mỹ ra hạn định, 7 ngày sau mà chưa có kết quả là tao nhổ neo đi à. Nhưng 3 ngày sau thư mới đến tay bộ trưởng. Kết quả, Đại Nam thực lục kể, vua vừa nhận được thư, cho người ra xem thì thuyền Huê Kỳ đã (giận dỗi) bốc hơi.

Vừng, câu chiện ngoại giao dở hơi nhất trong lịch sử.

---

Mà theo những ghi chép trong này, triều đình VN thời kỳ này dùng kha khá người Tây, ví dụ như 1 thủy thủ người Anh điều khiển thuyền, M.Vanier là con lai của tướng Gia Long cũng ở lại VN làm chỉ huy tàu thuyền dù cha đã về nước. Người thông ngôn thuộc Thiên Chúa giáo, giáo sĩ cũng có. Phản ứng với tàu Huê Kỳ cũng rứt là thân thiện, cho quà, cho ăn cho uống, bảo cảng nhà tui tự do muốn đến thì đến. Cãi nhao là do... khác biệt văn hóa thoai.



------

NARRATIVE OF A VOYAGE TO COCHIN CHINA.
By CHARLES CHAPMAN

Như giới thiệu trước đó, C.Chapman là người của Công ty Đông Ấn Anh, đại diện Toàn quyền Anh tại Bengal đến Nam Hà năm 1777-1778 để bàn chuyện làm ăn (mà chưa biết sự cố mới xảy ra). 1 vài điểm đáng nói:

- Vầnggggggg, như đã nói trước kia, Nhạc hông phải là anh "ngồi xó QN", ngược lại, chính là người vạch ra 1 "kế hoạch vĩ đại": "Ông ấy bộc bạch cho tôi vài ý tưởng tương lai mà ông vạch ra: Họ sẽ hạ bệ vua Cambodia, chiếm lấy toàn bộ bán đảo cho đến biên giới với Xiêm La, vùng thuộc về Nam Hà cũ, và tiến lên phía Bắc, nơi đang thuộc quyền kiểm soát của Bắc Hà. Để thực hiện điều này, ông ta mong có được sự hỗ trợ của vài tàu Anh, đổi lại là vài vùng đất nhượng địa ở nơi mà họ muốn (chỗ này ghi số nhiều ợ)."

- Làng đói bị cướp được trích ở bài trước ở gần Vũng Tàu, và người cướp là Nguyễn Huệ. :v Vì khi Chapman đến, Nguyễn Huệ còn đang bận đi "chinh phạt" Đồng Nai, Nhạc không đi. Sử Nguyễn cũng ghi thời gian đó chỉ có Huệ đến đốt phá Gia Định (Cù lao Phố cũng tiêu vào lúc này). Vầng, chính anh, đã hết người để đổ thừa. :v

- Trang phục quân Tây Sơn màu xanh dương. :v (Quân Nguyễn mới mặc màu đỏ) Thật ra quân này chưa có đồng phục toàn bộ đâu, nhưng quân của vua tại Quy Nhơn mặc mào xanh.

- Nguyễn Nhạc mặc trang phục y chang vua VN, nhưng đón đoàn đại sứ bằng vũ công mặc trang phục Chiêm Thành (Hindu). Và Nhạc đội khăn (tuban) mào đỏ khi mặc thường phục. Và khi gặp chuyện bất lợi (như tin báo từ Đồng Nai), Nhạc cho làm lễ hiến tế trâu.

- Hội An đã bị phá như thế nào: "Nó bị chiếm giữ và hủy hoại bởi 1 trong những viên tướng của Nguyễn Nhạc... Đến Hội An, chúng tôi đã ngạc nhiên khi thấy tàn tích của 1 thành phố lớn. Những con đường được quy hoạch đơn giản, lát đá phẳng phiu, hai bên có những dãy nhà gạch vững chãi. Nhưng trời ơi, tất cả chẳng còn lại gì ngoài tàn tích của những bức tường rào. Và ở vài nơi bạn còn có thể nhìn thấy vài kẻ khốn khổ vốn là chủ nhà trước đây, che mưa nắng bằng cái lều chỉ được dựng bằng tranh và tre."

- Về nạn đói những năm này: "Tại Huế đang nằm dưới sự kiểm soát của Bắc Hà, đáng lẽ được cung cấp thực phẩm tốt hơn các nơi khác, thịt người đang được bày bán công khai ở chợ."

- Tây Sơn đối xử với họ hàng nhà Nguyễn như thế nào: "Có 1 người họ hàng xa của vương tộc ẩn náu được trong vùng do Bắc Hà kiểm soát. Viên quan (của Tây Sơn) có quen với ông ta, liền giả vờ gọi ông đến để che chở. Người đàn ông tôi nghiệp này đã đem theo vợ con cùng cả gia đình rất đông người đến. Khi đến cảng Đà Nẵng, ông đi tàu đến trước, để vợ con lại trên thuyền. Viên quan nhanh nhảu đón ông ấy, đưa về nhà, nhưng chưa qua cổng, ông đã bị lính bắt giữ, ngay lập tức bị chém bay đầu. Sau đó, viên quan này lên thuyền đi đến chỗ vợ con hoàng thân. Ngay khi vừa lên thuyền, ông ta đã cho trói tất cả phụ nữ và trẻ em lại ném xuống sông, lấy tất cả tài sản của họ."

(Hèn gì toàn bộ họ Mạc ở Quảng Nam phải đổi thành họ Nguyễn tránh nạn. =-=)

---

Ngoài lề: Thư từ năm 1803 giữa đại sứ Anh về "thông tấn xã con vịt": "Những người Pháp quen thuộc tính cách vị vua này cho biết ông ấy sẽ không bất động lâu, và TQ sẽ là mục tiêu tiếp theo trong tham vọng của ông. Nhà vua được nói là đã bất mãn với vua TQ vì đã không chịu thừa nhận ông là vua của VN dưới tên hiệu mà ông yêu cầu."

Năm 1807, 1 trung úy Anh được cử tới biển Đông để "khảo sát" quần đảo Hoàng Sa, và từ đó, "bạn" Anh bị sút bay. =-= Năm 1814, Gia Long cho cắm luôn cờ ở Trường Sa, "đây là đồ nhà ông, cấm đụng".



------

Vietnam’s Overseas Trade in the 19th Century: The Singapore Connection

The Singapore Chinese and the Saigon Trade of the nineteenth century

Đọc Báo cáo ngoại thương VN thế kỷ 19 với Singapore của Li Tana, lại chú ý đoạn này:

"Riêng về các thuyền buồm, tôi phải lưu ý rằng đã có các sự cập bến hàng năm, trong ba năm qua, từ kinh đô của Nam Kỳ, một tàu-thương mại và vận tải thuộc Nhà Vua Nam Kỳ (Cochinchinese), là kẻ, bất kể các thành kiến về Trung Hoa của ông, sau này đã trở nên hài lòng với các [báo cáo?] chi tiết và các lợi nhuận của mậu dịch." - John Crawful

Bên Tào bẩu bác MM ghét Tây, bên Tây bẩu bác ghét Tào, là xao, là xao? :v :v :v

Nhưng thiệt ra chuyện đáng quan tâm hơn là bảng biểu đồ mậu dịch trong các năm. Trong khi Gia Định thời Lê Văn Duyệt thường được cho là giai đoạn "cởi mở" nhất, thì thực ra khối lượng mậu dịch lại không bằng các năm sau.

Tuy thật ra điều này còn do TQ bị Anh đánh, mậu dịch với TQ do vậy đã không thể suôn sẻ, và thương nhân tại VN đã chuyển hướng sang các nước ĐN Á từ sau năm 1839. Nhưng nó cũng đã cho thấy VN không còn phụ thuộc vào thị trường TQ (nên Minh Mạng nghe chuyện oánh nhao chỉ than "nhà ta vậy là thiếu trà ồi".)

Mà thiệt ra tài liệu kinh tế kiểu này còn có thể nói được nhiều điều về chính trị. Ví dụ như mậu dịch giai đoạn 30-39 đã sụt giảm ngay từ năm 30 chứ không chờ đến khi chiến tranh khởi phát - Trùng với khoảng thời gian Gia Định khủng hoảng cuối thời Lê Văn Duyệt, đánh nhao với Chà Và còn thua, bị vua chởi cho tơi bời. Hay như báo cáo rằng hàng hóa hàng đầu xuất cảng từ Singapore qua Sài Gòn là thuốc phiện, cũng trùng khớp với hàng loạt chiếu chỉ MM ban ra bảo LVD phải kiềm chế nạn thuốc phiện. Hay như hàng xuất hàng đầu của GĐ là gạo, cũng trùng luôn với hàng loạt lệnh cấm xuất gạo từ phía triều đình. (Nghĩa là, phía trên nổi khùng lên nói rã cổ cũng chả có tác dụng gì sất.)

Theo báo cáo này, hàng hóa xuất khẩu hàng đầu của GĐ thế kỷ 19 là gạo, xuất đi TQ lẫn các nước ĐN Á. Nhưng triều đình VN lại kiềm chế hết mức chuyện xuất gạo. Chuyện đơn giản là xuất quá nhiều thì trong nước thiếu, trong nước thiếu thì giá gạo lên cao, giá gạo lên cao thì chỉ có thằng giàu sống thôi chứ dân nghèo tiêu tùng hết. Tiền cũng không mua được gạo, ví dụ như trận đói ở Nam Hà vì nhổ lúa trồng đay, dân nghèo mới là người chết đầu tiên.

Gạo là mặt hàng hết sức nhạy cảm mà chỉ cần giá chênh lệch biến động 1 tí là hậu quả hàng loạt người chết đói. Ngay đến GĐ "kho gạo" cũng bị nạn đói vì giá gạo chênh - nhưng có lẽ nguyên nhân lớn nhất do nạn đầu cơ của thương nhân Tàu. Như đã thấy ở các báo cáo thương mại này.

Còn ở miền Bắc, khủng hoảng lương thực đã là... chuyện thường xuyên. Trong ĐVSK, những năm ghi "đói" bao gồm: 982, 1042, 1156, 1208, 1268, 1290, 1291, 1292, 1301, 1310, 1320, 1333, 1337, 1343, 1344, 1354, 1358, 1379, 1405, 1408, 1409, 1447, 1467, 1487, 1490, 1492, 1512, 1517, 1557, 1559, 1572, 1577, 1585, 1586, 1589, 1594, 1595, 1596, 1608, 1629, 1630, 1634, 1679, 1681, 1694, 1695, 1702, 1703, 1712, 1713, 1724, 1728, 1740, 1741, 1753, 1757, 1758, 1768, 1774, 1776, 1777, 1778, 1786, 1788, 1790.

Vầng, năm đói ngày càng dồn dập, mà thật ra sử ghi còn chưa biểu hiện được hết tai hại của nạn đói. Như 1 trận đói "sơ sơ" mà sử chỉ ghi "năm đó đói" chứ còn chưa được ghi "đói to", Baron đã mô tả "trận đói ấy hàng triệu người chết". (Dù chắc cũng chỉ ghi phiếm chỉ, ai đâu đi đếm).

Nạn đói ở Bắc bộ đã xảy ra thường xuyên ngay từ cuối thế kỷ 15. Những thế kỷ trước thì lúc 10 năm, lúc 50 năm mới xảy ra nạn đói 1 lần, còn từ thế kỷ 16 được 10 năm không bị đói là chuyện hiếm có khó tìm.

Thật ra thì chả nhà cầm quyền nào muốn dân đói để đi nổi loạn cả. Cho nên số liệu "đói" này ngoại trừ lý do là... thời trước thiếu sử liệu nên không ghi hết, thì lý do có thể là vì mật độ dân số cao quá mức hoặc... biến đổi khí hậu dẫn đến khủng hoảng lương thực thường xuyên.

Ngoài ra thì có thể còn vì 1 lý do khác nữa: Sự tập trung ruộng đất mức độ cao và đầu cơ lúa gạo của thương nhân. Ví dụ trong thời Nguyễn, khi lúa kho đã phát đến mức phải đem đầu này đắp đầu kia, triều đình nảy ra ý mới: Khuyến khích người giàu góp lúa để lấy tước phong (aka bán lúa lấy tước. Cái phẩm tước này thiệt ra cũng làm được nhiều việc lắm, như cho phép xây nhà đẹp hơn, mặc đồ sang hơn nè, miễn phu nè :v ). Chuyện này thật ra đã có từ thời Trịnh, khi vợ Lê Quý Đôn đi "làm từ thiện" rình rang hay những thương nhân buôn gạo lớn nổi tiếng.

Thật ra, "giới tư sản" cũng đã xuất hiện ở VN khá sớm, nhưng... 1 là người Tàu, 2 là những địa chủ liên kết với giới đầu nậu (Tào), và kết quả là nó càng mạnh thì càng khiến kinh tế xã hội khủng hoảng hơn (Dù thiệt ra chuyện đói kém vẫn do thiên tai là chính). Từ thế kỷ 17, Baron đã cảnh báo về nạn chảy máu vàng bạc qua đường thương mãi, đến thế kỷ 19 thì còn nạn thuốc phiện. Đi kèm theo nó là khủng hoảng lương thực, dân số, thật là... Lượm ơi.



-------





Copyright © Trường An. All rights reserved.