Solitude

Cảnh như thị, nhân như thị

TT
Sunday, June 2, 2019 Author: Trường An

Nghi lễ phong Thần phi của Hồ Thị Hoa: "Cho Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự là Phan Hữu Tâm sung làm Chánh sứ, Thượng thư bộ Lễ là Phan Huy Thức sung làm Phó sứ, cầm cờ tiết, bưng sách vàng đến từ đường làm lễ tuyên phong".

Chưởng phủ sự là quan võ nhất phẩm, Thượng thư bộ Lễ là quan văn nhị phẩm - nghi lễ này tương đương với nghi lễ của Hoàng hậu Tống thị năm 1806: "Sai Chưởng Thần võ quân kiêm giám Thần sách quân Khiêm quận công Phạm Văn Nhân cầm cờ tiết, Hộ bộ Thượng thư Tích Thiện hầu làm phó đem sách vàng ấn vàng tấn phong". (Dù sao quan văn nhất phẩm ngoài Tôn chính phủ ra thì chỉ còn Thái sư, Thái phó, Thái bảo, Thượng thư coi như là cao nhất trong hệ văn rồi.)

Sách thì vẫn là sách bạc mạ vàng thôi, nhưng nghi thức thì thiếu mỗi bố cáo thiên hạ. Minh Mạng mà sống đến năm 1846 thật thì chắc phong hậu nốt.

Cả đời Minh Mạng lo phong cho Hồ Thị Hoa, nên... Thiệu Trị có làm Thái tử ngày nào. Gia Long xóa sạch công trạng danh phận của Hồ Văn Bôi, thân phận ban đầu của Thiệu Trị chắc còn kém cả Hồng Bảo sau này, cỡ con trai cung nhân xuất thân phó thường dân. Cho nên ban đầu phong Hồ Thị Hoa làm Chiêu nghi thôi mà Thiệu Trị còn dâng biểu tạ ơn đấy. Minh Mạng lấy cho Thiệu Trị con gái Phạm Đăng Hưng là Thượng thư Lễ bộ với Nguyễn Văn Nhân cũng là người làm danh sách công thần Vọng Các - sau đó mới có thể phong Hồ Văn Bôi lên làm Tướng quân Đô thống hàm Nhị phẩm, cho nhà họ Hồ tập ấm. Chắc với ý đồ lợi dụng thời gian khiến mọi người quên việc, 10 năm sau mới dùng cái nghi lễ kia phong Hồ Thị Hoa. Đến khi sắp chết truyền ngôi cho Thiệu Trị mới lôi chiếu từ dưới giường ra. Vậy cho nên Hồ Thị Hoa mới có cái bảng "sơ yếu lý lịch" mới đọc thì tưởng đâu xuất thân cũng đường được, nhưng là 1 tay ông chồng "phù phép" ra hết.

Thiệu Trị được Minh Mạng bảo hộ cực tốt nhóe. Mới đầu còn cho ở lại giữ Kinh thành khi vua đi Bắc nhận phong, tháng 11 trời lạnh cha còn gửi thư về hỏi sức khỏe con thế nào. Sau chắc thấy công việc cực quá chuyển cho ông con thứ 2. Sau nữa trong triều đấu đá nhao thì giấu biến ông con cả đi mà giả điên "chưa phong được hậu". Cái này phải nhìn năm 1835, con trai Hiền phi là Miên Hoành chỉ mới được cho đi cày ruộng tịch điền thay cha đang bệnh rên hừ hừ, tế thay Thái miếu 1 lần do bộ Lễ làm sai phần tế Thế miếu, vậy là cuối năm ấy lăn đùng ra chết. Cuốn Quốc sử di biên toàn nhắc Kiến An công chắc hông phải tự nhiên, mà chuyện "lầm" của bộ Lễ trong việc tế Thế miếu năm đó, dùng hoàng thân thay vì hoàng tử cũng... hơi bị vi diệu. Năm 1835 chính là năm xử tội 2 ông quyền thần, anh nào thò mặt ra lanh chanh là anh đó chết.

Đến sau năm 1836 phong Hồ Thị Hoa xong rồi thì mới thấy Thiệu Trị xuất hiện trở lại, đi bắn mấy con nhạn thôi mà ông bố đặc biệt dặn dò "coi chừng súng ống". Đến lúc đó Thiệu Trị mới có chút danh phận mà làm Tôn nhân phủ - aka 1 tay ông bố phù phép nâng lên. Che chở kiểu ấy nên... làm Thái tử ngày nàoooooooooo??? Có mà gần hết thời gian làm hoàng tử cũng là kiểu hoàng tử phó-thường-dân, được cha cưng bà yêu nhưng thiên hạ méo biết là ai, đánh nhau loạn cào cào cũng chả bao giờ đánh tới.

Rồi mới có cái tin-đồn Thiệu Trị do quyền lực Trương Đăng Quế bảo hộ - Tất cả là do ông bố dùng chiến thuật thời gian xong rồi... cả thiên hạ không ai biết đấy là đâu.




Cung đấu
Friday, January 25, 2019 Author: Trường An

Đây là bệnh ngứa mỏ phát sinh. Hông biết mí ông định làm phin cung đấu thời-Nguyễn đã có đọc đoạn này trong Đại Nam thực lục hay chưa:

Thiệu Trị, tháng 9 năm 1844:

Dụ rằng: "Những thân thuộc họ ngoại về các đời trước, nhún nhường, nhu hòa, kính sợ, cẩn thận, để khéo giữ lấy tính chân như họ Phàn họ Mã rất ít, mà 3 đời cầm chính quyền, 5 tướng giữ chính sự như họ Vương họ Đậu rất nhiều. Có thể không lấy đó làm răn được chăng? Hoàng khảo ta đã thận trọng trong việc đó mà khéo xử trí, thật làm phép hay cho con cháu muôn đời. Nay, con của họ ngoại Phúc quốc công ta là Hồ Văn Thập, Hồ Văn Lưu khoảng năm Minh Mạng được đội ơn vua, nghĩ đến Phúc quốc công ở thời trung hưng theo vua một lòng khó nhọc, sau khi xong trận đánh, đại định rồi, chén rượu mừng thắng trận ở Nam cung chưa xong tiệc vui thì Quốc công đã để lại nghiệp nhà cho con còn trẻ tuổi cô đơn mà nghèo khó, tình rất đáng cứu giúp. Nên cho tập phong hàm ấm tử, được lâu dài ở đời, lại gia phong hàm quản vệ, để đủ cho lui tới làm việc. Đến ta nối nghiệp lớn, theo chí đời trước, nhân ngày ta Bắc tuần, phái sung tuần hộ Kinh thành và truy tùng chỗ hàng tất, mới được cùng với mọi người theo thứ bậc mà cất nhắc lên, hiện dự nhị phẩm. Biết là ơn hậu, bọn ấy vâng pháp luật, giữ phép công, làm sáng tỏ thanh danh của nhà. Hơn nữa ta giữ lẽ công, rất chính, phép nước nhà không riêng ai, bọn ấy quyết không dám rông càn mảy may gì trong ngày nay.

Nhưng cái cơ màu nghiêm phòng từ lúc chưa nảy mầm, và lời dạy để lại bảo cho đời sau có thể không cẩn thận được chăng? Để tỏ rõ hậu đạo, nay chuẩn cho Hồ Văn Lưu do nguyên hàm Thống chế, Hồ Văn Thập do nguyên hàm Chưởng vệ, đều được vào chỗ triều thỉnh, cũng đủ cho cả hai giãi bày lòng thực trong phận làm tôi. Tức thì giải ấn triện dinh Tiền phong và chức Chưởng quản thị vệ đại thần viện Thượng tứ, không cần phải làm việc quan và trông coi quân lính nữa.

Các ngươi, lương tâm cũng chưa mất, phải nên nghĩ bảo toàn lấy gia thanh, trung thành với công liệt của Quốc công các ngươi, đừng cho là không có tội mà phải lui, phải giáng. Cái chỗ nên lập pháp để dạy cho con cháu trăm đời, không phải vì ơn riêng mà để cho ở chỗ nhàn rỗi. Đó là nghĩ về trước, tính về sau, phòng ngừa từ khi mới chớm, ngăn chặn tệ lớn dần.

Con cháu trăm đời của ta noi theo phép nhà, không dựa vào ơn riêng, cốt phải coi trọng danh khí. Phàm những họ ngoại quyền thần, hậu cung và hoạn quan, nếu có 1 người nào không chịu xét kỹ, khéo xử trí vào chỗ này tất là sinh chuyện không hay, nên nghĩ nối noi đời trước để làm tấm gương soi. Nếu vua đời sau có phiếm dệt chơi bời, thì người làm tôi con nên giữ lời nói của ta để can gián, mong giúp vào những chỗ không kịp, cẩn thận giữ gìn pháp độ đã sẵn.

Chuẩn cho đem lời dụ này lục giao cho Sử quán giữ để cẩn thận và đưa đến nhà Thái học khắc vào bia đá để tỏ rõ về lâu xa. Lại sao lục cấp cho trong Kinh ngoài tỉnh, khiến cho biết ta dùng người làm chính sự, cẩn thận công việc, giữ gìn phép công, chính là kế lo sâu, tính xa đó."

---

Tóm tắt cái tuyên dụ loằng ngoằng ở trên: Họ mẹ Thiệu Trị là họ Hồ dù chẳng có lỗi gì nhưng truất toàn bộ quyền hạn, chỉ cho giữ chức khống tập ấm chơi vậy thôi. Lấy điều này làm lệ cho muôn đời sau, lập con thì "giết" họ mẹ.

Khắc luôn vào bia đá trước nhà Thái học. Ban bố cho toàn quốc để zua nào làm sai thì cả nước tha hồ chửi. =))

Làm phin cung đấu thời Nguyễn là chiện nhảm xịt nhất thiên hà. =____= Cơ bản vì chính các ông vua cũng đặt ra đủ luật kiềm chế họ ngoại, phong cho ăn chơi nhảy múa gì đó thì cho, nhưng đừng hòng tham gia chính sự. Cho nên các bà hậu, dù là Từ Dụ cho đến Nam Phương đi chăng nữa toàn là... puppet của các phe phái trong triều, có tiếng không có miếng. Cả chuyện lập vua phong hầu gì cũng là các ông oánh nhao. Các bà có oánh nhao quanh mấy miếng nem thì oánh, nằm mơ mà đòi "cung đấu". =)) Đấu làm quái giề để... các bà lên thì dòng họ các bà bay xuống. Đừng nhìn chức tước của mấy ấm tử họ ngoại mà ham, toàn đồ hữu danh vô thực.

Thiệu Trị chỉ "hiền" so với Minh Mạng thôi, chứ cũng đừng đùa với bác. Chuyện cung đình thời Nguyễn "có sóng" tí thì chỉ mấy năm đầu đời Minh Mạng, nhưng bác Mạng là quái vật hồ Lốc nét. =)) Đọc sử mà xem người ta báo bác 1 câu, bác ngồi diễn ra nguyên 1 bộ phin tiền nhân hậu quả phông nền toàn cảnh trước sau trái phải, xong bác chởi thằng kia bố láo. =)) Vậy mà bác còn suốt ngày tự nhận "ta thiệt dễ tin người, dễ bị lừa", '__' bác mà là vua của ngôn tềnh cung đấu thì bác phải... chết ngắc từ thời voi Ma mút.

Cung-đấu-thời-Nguyễn, nghe sai y choang tuyết rơi tháng 6. =___=




Móc mắt
Wednesday, January 2, 2019 Author: Trường An

Đọc sử hay thấy mấy ông hay kể tội Thiên Chúa giáo "lấy mắt người làm phép", mà phần kể tội này nó kéo dài từ tận thời Tây Sơn (hay trước đó nữa) đến sau này. Đọc lần đầu thì nghĩ chắc đồn nhảm, nhưng đọc thấy nhiều lần mà lại kéo trong thời gian quá dài thì chắc hẳn đây là 1 ấn tượng rất sâu đậm của người đương thời về TC giáo - bên cạnh chuyện "phá bàn thờ, bỏ tổ tiên".

Nghĩ vậy nên đi search thử coi nguyên nhân tại xao lại có chuyện í. Okie fine...

"If your right eye causes you to sin, pluck it out and cast it from you; for it is more profitable for you that one of your members perish, than for your whole body to be cast into hell. And if your right hand causes you to sin, cut it off and cast it from you; for it is more profitable for you that one of your members perish, than for your whole body to be cast into hell." - Jesus, Matthew 5:29-30

Link

Nếu mắt phải con khiến con phạm tội, hãy móc nó ra quăng đi, thà mất 1 phần cơ thể hơn là để toàn bộ rơi vào địa ngục. Nếu tay phải khiến con phạm tội, hãy chặt nó quăng đi.

Vừng, và đây là 1 câu nói khá phổ biến và gây tranh cãi khá nhiều của TC giáo (search "christianity pluck eye" để thấy kết quả). Tại sao lại nói thế thì mà rằng thì là theo giáo lý ở Đây thì mắt là phần quan trọng thần thánh nhất của cơ thể - và nói ngắn gọn thì "thần tượng" aka các-tôn-giáo-khác là bọn lừa đảo chắn trước mắt khiến người hông nhìn thấy chúa, người hông tin chúa, người nhìn thấy toàn thứ ba láp và làm ra toàn tội lỗi. Và không được ánh sáng chân lý chói qua tim chiếu rọi nên người phạm đủ thứ tội. Mà nói chung với các bác TC giáo ngày chưa xưa lắm thì đi theo cái đạo khác là mang tội rồi đê, thần thánh nhà người ta là ma quỷ hết ráo.

Mà ờ thì nói chung là, đi rao giảng bằng cách khuyên "móc mắt quăng đi" để đến được thiên đường thì nghe cũng hơi bịnh. Mà chắc các ông cố đạo đến VN cũng rao giảng thế hơi bị nhiều nên truyền đến đời đời kiếp kiếp, hễ nghe đến TC giáo là nghe "tôn giáo móc mắt".

Nhưng nói đi cũng phải nói lại thì nói xong có làm không để thành ấn-tượng-khó-phai như thế? Các ông cố đạo Tây chắc hông làm nhưng người bản xứ thì... chưa chắc. '__' Hãy search thêm "pluck eye ritual" để biết nghi thức móc mắt vẫn còn rất phổ biến ở... châu Phi, mà nước đơn cử là Nigeria - 1 đất nước có 49,3% người theo TC giáo, 48,8% người theo Hồi giáo. Và trong khi Hồi giáo không có 1 phong tục hay nghi thức nào liên quan đến móc mắt, thì bài nghiên cứu Này cho biết nạn bắt cóc người móc mắt (và "làm thịt") là 1 thứ nghi lễ hiến sinh cổ xưa kết hợp với nghi thức tôn giáo mới du nhập. Nói đơn giản, trên nền tảng sự mê tín kiểu "quăng răng đi là hết đau răng", cúng người (hay vật) cho thần là hết nạn, thì lời-khuyên kiểu "mắt là 1 bộ phận thần thánh đem lại soi sáng"+"đi theo chúa sẽ được phù hộ" sẽ dẫn đến 1 kết-luận: Móc mắt ra làm phép chắc được đó.

Thiệt ra, nhìn tấm gương của châu Phi thì hông nên mong đợi gì đến viễn cảnh "soi sáng văn minh" như các bố phương Tây tự vỗ ngực, nhất là chiện chả liên quan gì đến văn minh như tôn giáo. Hai thứ "mông muội"+"mê tín" này dám nó chỉ kết hợp thành 1 dạng mới khủng bố hơn. Con người luôn thích nghe, thích nghĩ theo ý mình muốn + tầm hiểu biết của mình mà.

Trong khi đó, TC giáo đặt nền móng trên 1 tôn giáo cổ xưa, sẽ đồng thời đính-kèm theo nó là những nền tảng văn hóa cổ xưa, ví dụ như... ăn thịt người - trong 1 nghi thức vô cùng phổ biến là bánh thánh. Vừng, cái bánh tròn tròn nhỏ nhỏ được phát cho mọi người trong mấy dịp lễ ấy, thật ra nằm trong 1 nghi thức chuyển hóa bánh thành... thịt chúa. Và các bánh thánh, rượu nho phát cho các tín đồ thật ra mang ý nghĩa là ăn thịt uống máu chúa. Văn hóa "ăn thịt người" của TC giáo được kha khá học giả khai thác và bàn luận, ví dụ như cuốn nghiên cứu dài khủng khiếp Này.

Cũng theo nghiên cứu trên, việc tự móc mắt liên quan rất nhiều đến niềm tin tôn giáo (TC giáo), ở phần Này. Và cuốn sách này đã nhắc đến 1 phương thức trừ-tà cổ xưa: Móc mắt. Vì mắt được cho là chứa đựng linh hồn quỷ dữ (hãy nhớ tới cụm từ phổ biến evil eye), người trừ tà sẽ móc mắt kẻ bị quỷ ám (mà thiệt ra là bệnh nhân tâm thần).

Và thực sự có người đọc kinh thánh nhiều quá nên tự móc mắt để... trừ tội lỗi. Các vụ án được ghi ở Đây cho thấy trăm hình vạn trạng con chiên tự móc mắt mình ngay trong thời hiện đại này luôn - các trường hợp này được ghi nhận là không làm tổn thương phần cơ thể nào khác ngoài mắt.

Nói chung, với 1 nền văn hóa đặt sự quan tâm thần thánh vào mắt và có lịch sử lâu đời chữa bệnh thần kinh bằng móc mắt, dẫn đến ngay trong thời hiện đại vẫn còn người móc mắt tìm thiên đường - Thì ờ, hông nên hy vọng quá cao ở 1 xã hội thế kỷ 18-19. Với lời khuyên kiểu "hãy móc mắt ra" thì chắc cũng có người làm thật, mà nhà chức trách nghe xong "lời khuyên" này chắc cũng nổi da gà rượt các ông đập cho vì tội xúi-dại.

Và trong thế kỷ 21, thấy 1 tôn giáo "là lạ" vác bánh với rượu gì-đó đỏ đỏ đi tuyên truyền "đây là máu thịt chúa nà, ăn vào thì thành con chiên ngay lập tức", cả nước đã nhảy đổng lên đòi xét nghiệm coi đó là thứ nước thứ bánh quái quỷ gì. =)) Thì hỏi xao cùng 1 giọng y choang vậy, các ông xa xưa ăn đập vì tội "lấy máu người, thịt người ép ra thành rượu thánh". Hầy, thời xưa hông có máy xét nghiệm, trong khi các ông nổ tung tóe đây là máu là thịt được chế tạo bằng công thức bí truyền Ai Cập cổ đại thì... ăn đạn là phải đạo. (Và rứt nghi ngờ là ngay cả khi bị đập vì tội đem thịt người chế biến cho con chiên, các ông cũng cắn răng hông chịu thừa nhận bánh là bánh, rượu là rượu đâu.)

Nói túm lại thì, đọc sử đàng hoàng sẽ thấy "mọi sự có nguyên nhân của nó", chứ hông phải tự gật gù "chắc tại người xưa bị ngâu". Thiệt ra ó mà, các ông ngồi lôi 1 vạn chiện của "bọn kia" ra chởi thì phải rành sáu câu ồi, chứ các ổng hông tự ngồi vẽ ra âu.

 

 

 

 

 

 




Chú thích
Sunday, November 11, 2018 Author: Trường An

Thiệt ra đây là chiện hông cần chú thích nhưng lượn 1 hồi ngứa mắt thì phải đi chú thích thoai. Thì mà rằng thì là Hà Tông Quyền vốn là bạn-thân của Minh Mạng. Thân đến mức mà năm nào đó, Hà Tông Quyền dính vào 1 xì can đồ dùng loạn tùng bậy ấn văn thư, thiệt ra ông không làm mà người khác làm, xong rồi đi bao che cho nhau. Minh Mạng biết được giận xì khói tống hết cả đám đi phạt tội. Xong rồi chỉ được 1 khoảng thời gian ngắn, Minh Mạng nguôi giận lại gọi Hà Tông Quyền về, bảo "Thiếu Quyền ta ăn không ngon". =))

Chiện này làm mị nhớ tới chuyện kể của đứa bạn BTV của mị, rằng nó nhận được bản thảo tiểu sử Trương Đăng Quế do con cháu họ Trương làm. Xong rồi nó bảo mị "Đọc (chuyện ông Quế với Minh Mạng) y chang đam mỹ màiii ơi". =)) Vầng, Trương Đăng Quế là cố mệnh đại thần mà Minh Mạng gửi gắm Thiệu Trị, trong sử thì đúng là lúc nào cũng dính nhao như sam thiệt.

Ngoài ra còn bác Hoàng Quýnh, con trai Hoàng Quang ẩn sĩ, tác giả của Hoài Nam khúc. Cánh tay phải của Minh Mạng trong các vụ điều tra chặt chém vì... trên trời dưới đất chả sợ ai, chả sợ cả vua luông. Rất nhiều lần Minh Mạng phải khuyên bớt bớt đi chứ ông cứ thẳng ruột ngựa, cứ xông bụi gai thế thì ăn chưởng ta không đỡ nổi âu. Ngoài ra còn Nguyễn Đăng Giai, con trai của thầy dạy, bạn đồng học của Minh Mạng, bàn tay phải đi quản lý miền Bắc...

Nói chung, bạn thân lẫn quan thân của Minh Mạng chả có mấy liên quan gì với những ông tin-đồn. Nhưng thực ra thì bạn thân cũng chưa hẳn đã đồng tình hết với nhau, như Trương Đăng Quế thi thoảng lại có mấy tờ sớ, biểu tâu, đứng trong hàng ngũ tâu-xong-bị-bác. Nói thân thật sự thì có Hà Tông Quyền, đúng kiểu "Thiếu Quyền ta ăn không ngon" - nói chung, là 1 cặp bài trùng gần xa đều biết, người người đều hay.

Cho nên Quốc sử di biên mới có cái tin-đồn rằng thì mà là chính Hà Tông Quyền mách nước Minh Mạng lập hậu đê, dẫn đến họa sát thân (Mà thiệt ra đọc xong cái Quốc sử di biên nài mị cảm thấy nó thiệt là... đậm chất dân VN, chuyện nhỏ thì cắm cúi, chuyện lớn thì thành chuyện nhỏ, suốt ngày xoay quanh... cung đấu.) =)) Ờ nhưng mà tin đồn thì cũng có tí ti phần sự thật, chỉ có sau này đồ trợn-mắt-nói-dối nói xong không còn tí logic nào nữa luông.

Hông biết chữ Kiến An với chữ Trường Khánh nó giống nhao chỗ nào để có loại trừng-mắt-nói-láo ghi vào, hay là do sợ dân-thường méo biết Kiến An công là ông nào nên... viết thế cho nó dễ-hiểu? Ờ, xong zồi toàn bộ câu chiện vứt hết logic đi luông. Đường đường là con cả được-bảo-kê chân tơ kẽ tóc, đến đi ra ngoài bắn mấy con nhạn thôi mà ông bố còn hết hồn kêu về bảo cẩn thận súng đạn, anh rảnh lắm nên đi kiếm chiện với bạn-thân của bố anh?

Mà thiệt ra ó mà, méo có tài-liệu-hiện-đại nào nói Hà Tông Quyền vốn là người "thiếu hắn thì đời ta nhạt hoét" của Minh Mạng. =)) Trong phương hướng xây dựng hình tượng 1 chí sĩ Bắc Hà tân tiến giỏi giang đi Tây đi Tào, người ta méo dám thừa nhận... ông ấy đi được là nhờ vua cho đi. Hay là, cái con người giỏi-giang ấy là bộ sậu tri âm tri kỷ của vua đó.

---

Đã hiểu tại xao lúc đọc thấy chữ "trúc phượng hoàng" lại thấy quen quen, hóa ra nó là trúc cần câu, nguyên sản ở nam TQ, Đài Loan và bắc Đông Nam Á. Hay nói cách khác, nó là thứ trúc thấy đầy ở Huế chứ đâu. >___< Vườn Thê Phượng là trồng trúc phượng hoàng, người không biết nhìn nó giống cây tre. Chính nó

Và sau đó, là hoàng cung Huế vốn chỉ trồng sen trắng: https://baotainguyenmoitruong.vn/xa-hoi/sen-trang-ruc-ro-trong-hoang-cung-hue-1254943.html

Trong Phật giáo thì mỗi màu sen có 1 ý nghĩa khác nhau, sen trắng chính là Bát chính đạo, bồ đề tâm, khởi nguyên trong sạch nhất của linh thức. Sen đỏ là tình cảm, sen xanh là tri thức, sen hồng là sen của giáo phái nguyên thủy - đôi khi vẫn lẫn với sen trắng.

Nói chung... đây là 1 hoàng cung của người nhiều-chữ. Mà có điều là... đi dò sen trắng thì chỉ sen Mỹ có màu trắng. '__' Trong khi thư tịch của TQ đời Hán trở đi cũng nói về sen trắng, Bản thảo cương mục cũng có đoạn mô tả sen trắng.
Vậy thì có thể đây là 1 giống sen hiếm ở châu Á, hoặc là sen do người từ châu Mỹ đem tới - còn trước đó thì cũng giống sen xanh, sen trắng chỉ là 1 biểu tượng.

Nói chung... anh xài toàn đồ cao cấp quý hiếm thoai nhóe.




Ly hôn
Wednesday, September 12, 2018 Author: Trường An

Trong công cuộc ngồi hóng chiện, nghe kể về 1 phin như này "Nữ chính ngẩn ngơ nghe ông Tây nói về chế độ 1 vợ 1 chồng và ly hôn."

Phản ứng đầu tiên của mị: Không phải Anh theo Thanh giáo hảaaaa? (trong triều đình Thanh thì chắc là Anh, mà Pháp trong thời gian đó thì cũng cũng cuồng đạo bỏ xừ).

Vầng, bịnh chung của người-châu-Á là tưởng "châu Âu nó tân tiến sớm nhắm". Thế thì nó sang VN cuối thế kỷ 17 cho đến đầu thế kỷ 19 thì đã không nói lắm thế về chế độ ly hôn ở VN. Mà chả cần biết thằng Tây nào thì hiện tại vẫn còn 1-số (nhấn mạnh 1 số) gia đình dòng họ gì đó hông cho phép ly hôn vì đi ngược với điều luật giáo hội ó.

Đi dò lại thời gian thì quả thực đúng là đến tận năm 1857, ly hôn mới được hợp pháp hóa thành đạo luật ở Anh, coi đây là vấn đề dân sự chứ không thuộc kiểm soát của nhà thờ. Ở Pháp thì ly hôn cũng chỉ được hợp pháp hóa sau Cách mạng Pháp 1789, nhưng rồi quyền này lại bị hủy bỏ vào năm 1816, chỉ được thiết lập lại vào giữa thế kỷ 19. Ở các nước sùng đạo khác như Tây Ban Nha thì đến tận năm 1931 mới chấp nhận ly hôn, Ý thì tận 1970, Ireland là 1995, Malta là đến tận 2011.

Từ sau khi Giáo hội nắm quyền cai trị ở châu Âu từ thời Trung cổ thì ly hôn đã hầu như không còn được phép. Điều này đến từ quan điểm hôn nhân là sự ràng buộc thần thánh giữa 2 con người - ờ, đây là hạt nhân cơ bản của rất nhiều vấn đề. Cho nên ly hôn có thể coi là 1 hành động tội lỗi, và chỉ trong 1 vài trường hợp đặc biệt thì vợ chồng sẽ không còn sống với nhau nữa - Nhưng đây cũng phải là quyết định của Giáo hội, tòa án dân sự hoàn toàn không có quyền. Ngay cả khi không sống với nhau, hôn nhân của họ cũng không bị hủy bỏ.

(Một lần nữa, hãy nhớ đến điều luật "Không được tái hôn ở nhà thờ". Nhà thờ chỉ công nhận cuộc hôn nhân đầu tiên, và (tiếp tục) với 1-số nơi thì tái hôn không được vào nhà thờ, hay có thể làm lễ mà không được công nhận, vân vân các thể loại.)

Sau Kháng cách thì 1 số nước Tin lành cho phép ly hôn, nhưng quyết định của tòa án dân sự vẫn nằm dưới sự chỉ đạo của nhà thờ, và vẫn cực kỳ khó khăn để ly hôn vì đây được coi là hành vi đối kháng trật tự xã hội. Ly hôn chỉ được chấp nhận khi 1 bên đã vi phạm "lời thề với bạn đời", còn nếu cả 2 bên đều có lỗi thì... chúng mài về hành hạ nhau tiếp đi, khỏi thoát. Những hành động dẫn đến ly hôn được chấp nhận là bỏ mặc bạn đời, ngoại tình, bạo hành.

Nhưng đến 1643-1645 thì hợp pháp hóa ly hôn cũng chỉ mới được coi là 1 ý tưởng "đi trước thời đại". Năm 1670 mới có trường hợp ly hôn thành công đầu tiên của John Manners. Và Đức Phổ đi đầu châu Âu với đạo luật ly hôn vào năm 1752 - nhưng vẫn chỉ với những người không theo Công giáo.

Ở Anh, phụ nữ được coi là nằm dưới quyền bảo hộ cả về tài sản và luật pháp của chồng. Ly hôn ban đầu cần 1 số tài sản không lồ là 200 bảng, sau đạo luật 1857 giảm xuống còn 40 bảng nhưng vẫn cao ngất ngưởng và vẫn nằm trong sự khống chế nhất định của nhà thờ cho đến tận 1970.

---

Mà đùa chứ, ngay cả chế độ 1 vợ 1 chồng thì ai đọc sử châu Âu cũng biết các ông vua thu nhận vợ lẽ công khai, mấy chục dòng con, con cái vợ chồng oánh nhao tá lả. "Ông Tây" nào trước mặt vợ ông vua khác thuyết giảng về "chúng tui chỉ lấy 1 vợ" thì... mặt cũng hơi bị dày, đi lừa trẻ con à. =))

*ngao ngán lần thứ n* Tương tự như vậy với chuyện trinh tiết, ngoại tình, trọng nam khinh nữ, địa vị phụ nữ... Làm ơn quên lập tức, quên khẩn cấp cái ý nghĩ "Tây thiệt là văn minh tiến bộ sớm" đi giùm, kẻo Tây nó biết... nó nhột, mình thì tự hóa ra làm trò cười tự nhạo báng mình luông.




Màu nhuộm
Wednesday, August 8, 2018 Author: Trường An

Kỹ thuật pha chế màu đã có từ Ai Cập cổ đại, phát triển từ Lưỡng Hà đến Ấn Độ với kết quả là văn hóa màu sắc rực rỡ của 2 vùng này. Từ khi nền giao thương phát triển và lịch sử diễn tiến dần dần, càng nhiều loại màu mới được tìm ra cho đến khi nền công nghiệp màu nhân tạo khai sinh.

Ban đầu màu nhuộm được làm từ thực vật, rồi sau đó là các thành phần khác như vỏ ốc, màu côn trùng, khoáng chất... Kỹ thuật dệt nhuộm cũng tịnh tiến dần dần. Nhưng có 1 điểm đáng lưu ý là màu tự nhiên chỉ có 1 sắc độ, có thể làm nó đậm lên qua nhiều lần nhuộm chứ muốn làm nhạt đi thì chỉ có cách tẩy (cho nên thật ra không có màu nhuộm trắng, chỉ có cách tẩy vải trắng). Cho nên màu sắc thời cổ đại thực sự nghiêng về sắc thái đậm và trầm, ngay cả màu nhạt cũng chỉ do... phai màu đi mà có, không bao nhiêu màu có sắc neon chói lóa như màu nhân tạo.

Mà giới quý tộc do quy định màu sắc là 1, chảnh là 2, =)) nên sử dụng tông màu cát phục đều là màu đậm, cơ bản phai màu 1 phát là bị cho "đồ nhà nghèo" ngay. Trong đó, các tông màu được coi là quý xờ tộc thường là những màu đỏ, tía, đen, vàng.

Các màu trang phục có thành phần dễ tìm và rẻ tiền nhất trong tự nhiên là màu đỏ và vàng - 2 tông màu này được sử dụng nhiều ở Ai Cập cũng như đóng vai trò lớn ở Ấn. Ở châu Á, màu xanh lam cũng là màu khá rẻ tiền do nguyên liệu dễ kiếm, nhưng màu lam chàm ở châu Âu thì 1 thời lại được coi là màu nhập khẩu giá cao. Màu có thành phần khó kiếm nhất trong tự nhiên lại là màu lục và màu đen.

Thật ra màu đen thời cổ đại là màu chàm được nhuộm đi nhuộm lại, cho thêm than đốt vỏ ốc cùng các thành phần khác vào để có màu đen sậm - Cho nên có thể thấy ở vải thổ cẩm lẫn ngay cả các trang phục cổ còn lưu lại, màu đen này nghiêng tông lạnh, có khi chụp lên hình gần giống như màu tím than sẫm - hẳn là màu đen lúc phai đi.

- Ở châu Á, màu chàm - là màu xanh lam lạnh cho đến tím đậm - là màu khá rẻ tiền, cho nên 1 thời được dùng rộng rãi trong giới bình dân, cùng với màu trắng (cái này thì chả cần màu, dệt xong mặc thôi). Sau này người dân thích nhuộm vải đen để mặc vì nhuộm nhiều lần sẽ giúp vải bền, trông cũng có vẻ sạch sẽ nghiêm trang. Nhưng màu đen này cho đến thế kỷ 14 ở châu Âu mới tìm được màu đen tốt không phai từ sồi và cây keo cao ở châu Mỹ và châu Úc. Màu đen trở thành màu thời trang ở châu Âu từ thế kỷ 18 - tương đồng với khoảng thời gian màu đen thành "màu toàn dân" ở TQ-VN. Về màu chàm thì đây được coi là 1 loại màu phổ biến nhất nhì, nhưng sau này được coi là màu "cao cấp" hơn màu nâu và màu đen 1 tí, do màu xanh được quy định cho giới sĩ phu lẫn thường phục cho tầng lớp cao - Như có thể thấy ở Huế vẫn còn lệ trong ngày lễ tiết thì nam giới mặc màu xanh lam. Trong thời Lê, màu xanh chàm lại là màu thường phục toàn dân. Thời Trần thì sứ Nguyên đến thấy toàn dân mặc tuyền màu đen "như đàn quạ", sĩ tộc thì mặc đồ trắng.

Nói chung, vì tính chất giá rẻ và mặc bền, màu lam chàm với các biến thể từ lam cho đến đen là màu có lịch sử lâu dài ở châu Á. Hiện tại vẫn còn 1 loại trang phục lam chàm cực kỳ nổi tiếng: Màu đồ jean. Vầng, nguyên bản của màu jean từ xa xưa chính là nhuộm bằng chàm.

Màu lam chàm là màu lạnh nên ở độ trung bình là màu xanh rất sáng, người xưa gọi là "thanh cát vi minh", màu lửa sáng. Ở sắc độ nhạt thì nó vẫn sáng, cho nên muốn làm màu xanh nhạt thật nhạt, người làm vải thường phải tẩy bớt màu sau khi nhuộm xong. Nhưng nói chung thì màu xanh thời cổ đại cơ bản vẫn là màu xanh tím tông lạnh.

Chàm

- Một loại màu "giá rẻ" khác nữa ở VN là màu nâu - hoặc là màu hồng (vầng ngạc nhin chưa). Củ nâu dùng nhuộm màu nâu nếu chỉ nhuộm qua 1 lượt thì là màu hồng. Cho nên màu nâu sồng thực ra là màu nâu tông hồng. Mà màu hồng từ củ ấu cũng là hồng tông nâu. Cho nên cái gọi là "màu nâu non" ngày xa xưa là màu gạch non, thực chất là màu hồng tông nâu nhạt. (Áo các cô làm điệu ngày xưa toàn "màu nâu non" ó, thực chất là các cô mặc áo hồnggggg, gia giảm thêm tí nữa thì thành màu mỡ gà). Còn màu nâu củ nâu nếu nhuộm đậm thì có thể thành nâu đỏ, phảng phất như đỏ tía luôn.

Củ nâu cũng có thể cho vào màu chàm để nhuộm đen, màu đen lúc này sẽ cho ra ít sắc tím than hơn, màu đỏ+xanh thành màu tím, dập bớt sắc xanh đi.

Màu củ ấu

- Màu vàng thật ra cũng là màu khá dễ tìm. Người VN dùng gỗ cây mít, còn các chủng người, vùng khác trên thế giới thì dùng đủ loại rễ củ từ nghệ cho tới nghệ tây để làm màu vàng. Màu vàng thuộc loại màu dễ chế trên toàn thế giới, cho nên văn minh ở đâu cũng thấy màu vàng. Nhưng đây là màu vàng thực vật nên dễ thấy là nếu nhạt thì nó nghiêng về vàng đất, đậm thì nó nghiêng về vàng nâu, vàng cam - ví dụ như màu vàng chính sắc thực ra lại là sắc cam. Muốn tạo màu vàng rực rỡ hơn thì... thêu chỉ vàng vào. Từ Ai Cập cổ đại đã có dùng bột vàng pha vào màu, phát triển thành công nghệ mạ vàng, quét vàng, sau ở châu Á làm vàng thành sợi gọi là kim tuyến xe dệt chung vào vải, cho nên trên các trang phục cung đình thấy có những đường lấp lánh.

Nhưng mà nói chung thì dưới vẻ lấp lánh của vàng mười và luật cấm mặc đồ vàng ở châu Á sau này, màu vàng không phải là loại màu phổ biến cho lắm trong toàn dân. Cung điện nào cũng 1 khối vàng dát từ cửa vào giường, từ Buckingham cho tới Cambodia, cho nên màu quý tộc thực sự lại là... màu đỏ.

- Màu đỏ, từ màu đỏ tía cho tới đỏ sậm đều từng được coi là màu hoàng tộc ở châu Âu (cũng như Đông Á). Ở châu Âu, màu đỏ tía Tyrian purple được làm từ vỏ sò biển là màu quý tộc Trung Cổ vì... nó đắt tiền. Sau này họ chuyển sang màu đỏ sậm, hay màu đỏ yên chi - màu đỏ vô cùng phổ biến ở châu Á. Màu đỏ này được chiết xuất từ con bọ yên chi, sau này ở châu Âu có cả công xưởng nuôi bọ này để nhuộm vải. Ngoài ra cũng có khá nhiều thực vật, khoáng để tạo màu đỏ. Nhưng màu đỏ yên chi nói chung đã trở thành màu biểu tượng của Đông Á cũng như 1 thời ở châu Âu. Ngoài ra châu Á còn màu đỏ khá nổi khác là đỏ chu sa - màu đỏ đất, đỏ nâu.

Từ thời Tần màu đen được dùng làm trang phục chính cho vua, thì màu đỏ được dùng cho hoàng hậu, nữ quyến, nhưng này là đỏ sáng. Sang đến thời Tống thì vua mặc màu đỏ tía, các quan phân theo cấp bậc các màu đỏ khác nhau. Thời Minh vua mặc màu vàng là chính, các trang phục khác khá đa dạng đỏ, vàng, xanh..., hoàng hậu cũng tương tự. Các màu này được phân dùng cho các dịp khác nhau. Sang đến thời Thanh, ngoài bộ cát phục đen ai cũng biết thì thật ra phụ nữ hoàng tộc còn 1 loại cát phục đỏ. Theo mô tả về trang phục phụ nữ thường dân thời Thanh "con gái ai cũng mặc màu đỏ, màu hồng".

Ở VN thì khó khảo cứu hơn, nhưng hình tượng công chúa thời Lê cho thấy công chúa mặc màu đỏ. Thời chúa Nguyễn, theo mô tả của nhân chứng "con gái mặc toàn màu đỏ màu xanh", đến khi chúa Trịnh vào ra lệnh cho "không được dùng màu linh tinh", cho thấy vào thời kỳ này không có định chế trang phục rõ ràng.

Sang đến thời Nguyễn, màu đỏ thật ra còn được dùng rộng rãi hơn trong hệ thống - quân lính Nguyễn mặc đồng phục đỏ. Còn trong cung đình thì hoàng hậu, phi tần, hoàng tử, công chúa đều có trang phục đỏ, màu đỏ có thể coi là màu tượng trưng cho trang phục công chúa luôn. Còn theo nhân chứng, cung nữ nhà Nguyễn mặc trang phục hồng. Thật ra nhà Nguyễn lấy phương Nam, quẻ Ly, Hỏa làm chủ đạo nên trọng sắc đỏ.

Trong dân gian do luật hạn chế dùng màu nên màu đỏ được dùng cho các phụ trang như yếm, thắt lưng, khăn dây...

(Như trong Harry Potter, cái nhà cưng nhất của tác giả cũng là màu đỏ tía cho nó "hoàng tộc", thiệt ra đây là 1 dữ liệu có tính lịch sử vô cùng cao).

Vải đỏ thời Hán

Đỏ yên chi

- Các màu khác như lục, tím, xám ít được coi có tính biểu tượng hơn. Như đã nói trên, màu nhuộm lục thực ra không dễ tìm trong tự nhiên, do đó được tạo bằng cách pha màu xanh với vàng. Màu tím được tạo bằng đỏ pha với xanh. Màu xám tức là màu nhuộm đen chưa đủ độ, hoặc màu vải làm từ lông dạ tự nhiên, cũng coi như là 1 màu "nhà nghèo" ở châu Âu thời Trung Cổ. Chỉ khi màu đen lên ngôi, xám mới đi theo, cơ bản cũng vì... màu nhuộm xám cũng đắt tiền (dùng đồ đắt nghĩa là giào, hiểu vại đi).

Cho nên thực ra mà nói màu sắc cổ đại nằm trong 3 tông chính: xanh lạnh, đỏ thẫm, vàng nâu. Như bộ sưu tập trang phục nhà Thanh đây giống như bộ sưu tập "các sắc độ màu xanh" hơn: http://www.sohu.com/a/131683869_526635

Bằng thị giác mà nói thì màu nổi nhất chính là xanh sắc tông lạnh này chứ hông phải mào đỏ hay vàng. Ngay cả các màu sơn cũng làm từ đá, khoáng nên có màu đất chứ không phải sắc chóe lọe đầu thế kỷ 20.

(Cho nên mà đó mà, muốn phục dựng cũng cần biết sắc độ nào, chứ đỏ tưởng là đỏ, xanh tưởng là xanh, nâu tưởng là nâu đến lúc chúng nóa oánh nhao lại hỏi tại xao. Đến ngay cả màu nâu sồng nói là "phổ biến lắm" mà toàn cho màu nâu vàng cũng...

Nói chung đừng bị mấy tấm hình trắng đen tối mù lừa đảo. =-= Nói đen với nâu, xanh mà đen tím than, xanh lam chàm, nâu đỏ tía, hồng mỡ gà thì cũng chả "tối tăm" cái giề đâu. Màu củ nâu thoang thoáng sắc Tyrian purple zô cùng hoàng tộc =)) Thiệt ra mấy màu được gọi là nâu, đỏ với tía nhiều khi dòm lẫn lộn nhau, tương tự màu vàng với màu cam, xanh lam với xanh lục).





Copyright © Trường An. All rights reserved.