Solitude

.Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ. Đài mây trôi dạt phách hồn xa. More...

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ con người và sự thật
Saturday, September 3, 2011 Author: Trường An

Nguyễn Trường Tộ ít được người biết đến, cho tới khi tờ Nam Phong khởi đăng bài của các ông Sở Cuồng Lê Dư, Lê Thước, Nguyễn Trọng Thuật, đã biến Nguyễn Trường Tộ một người vô danh trở nên một nhân vật lịch sử. Tiếp đến, ông Từ Ngọc Nguyễn Lân đã viết và cho nhà xuất bản Viễn Đệ xuất bản vào năm 1941 ở Huế cuốn “Nguyễn Trường Tộ”. Giai đoạn này, ông Đào Đăng Vĩ dịch ít bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ cho đăng ở báo "La Patrie Annamite", không biết ông đã tìm thấy ở đâu hay ai đã cung cấp cho ông những bản điều trần đó để ông dịch. Tiếp đó, ông Vĩ đã viết và cho xuất bản cuốn “Nguyễn Trường Tộ et Son Temps”.

Hai mươi năm sau, năm 1961, ông Đặng Huy Vận và Chương Thâu đã viết chung và cho xuất bản cuốn “Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ 19”. Thời gian này, tập san “Nghiên cứu Lịch sử” cũng cho đăng một số bài của các ông Văn Tân Hoàng Văn Nọn, Hoàng Nam, Hồ Hữu Phước, Đặng Huy Vận, Chương Thâu và bà Phạm Thị Minh Lệ,…

Trong thời gian này, ở trong Nam không có quyển sách nào viết về Nguyễn Trường Tộ được xuất bản, nhưng có nhiều bài viết tôn vinh Nguyễn Trường Tộ trên các tạp chí Văn Đàn và Văn Hoá Á Châu,… Ngoài ra Tinh Việt Văn Đoàn còn thành lập “Hội phát triển tinh thần Nguyễn Trường Tộ”. Còn trên tạp chí Trình Bầy của chủ nhiệm Thế Nguyên Trần Gia Thoại có đăng một bài ca ngợi Nguyễn Trường Tộ là bài “Nội dung các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ” của sử gia Nguyễn Khắc Ngữ đăng trong số 33-35, từ tháng 12 năm 1971 đến tháng 2 năm 1972.

Đến năm 1988, Lm Trương Bá Cần cho xuất bản cuốn “Nguyễn Trường Tộ - con người và di cảo” ( tập I). Đây là cuốn sách đầy đủ nhất từ trước tới nay. Năm 1991, Trung Tâm Nghiên Cứu Hán Nôm thành phố Hồ Chí Minh cho tái bản cuốn “Nguyễn Trường Tộ - con người và di cảo” (Tập I – con người) của linh mục Trương Bá Cần. Đến năm 1992, Trung Tâm Hán Nôm thành phố Hồ Chí Minh cho ra cuốn “Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước” do nhiều người viết. Ở hải ngoại, năm 1998 nhóm Giao Điểm cho ra mắt quyển “Nguyễn Trường Tộ - thực chất con người và di thảo”.

Đọc bản tiểu sử của ông Tộ, do ông Lê Thước công bố: “Ông bị bệnh chết trẻ, ông có học nhưng không được đi thi vì là người Gia Tô, ông có tài mà không được trọng dụng, vì thế mà ai không chạnh lòng thương cảm.” Những bài viết về ông đa số là đã dành cho ông nhiều thiện cảm. Nhưng có một số người đã ca tụng, tôn vinh ông quá lố, như ông Lê Thước đã cho rằng: “Tư tưởng của người , học thức của người vượt quá xa người đương thời mấy vạn lần”; ông Nguyễn Trọng Thuật đánh giá: “Nguyễn Trường Tộ ngang với Khang Hữu Vi của Tàu”; còn ông Từ Ngọc Nguyễn Lân cho rằng: “Người Việt Nam sáng suốt nhất trong thời kỳ lịch sử rối ren nhất trong lịch sử Việt Nam, một nhà đại học vấn, đại kiến thức, đại tư tưởng và đại nghị luận. Một người như thế đáng được cả quốc dân tôn sùng, tượng đồng bia đá kể còn ít.” Có người còn cho rằng: “Ông là bậc kỳ tài, có những tư tưởng tân tiến và một tấm lòng sâu nặng vì nước vì dân”. Có người lại hỏi: “Tại sao vua quan thời Tự Đức không biết nghe theo Nguyễn Trường Tộ, nếu không bổ nhiệm ông làm thủ tướng toàn quyền như hiệp sĩ Toà Thánh Ngô Đình Diệm sau này thì cũng phải mời ông vào ngôi vị cố vấn khoa học kỹ thuật tối cao cho vua quan triều đình”…

Đa số người viết đề cao vai trò canh tân của Nguyễn Trường Tộ thì nội dung trong bài phải đả, phải công kích, mạt sát triều đình Tự Đức như phản động, ngu dốt, phong kiến, bảo thủ, cổ hủ,… không chịu nghe lời canh tân của Nguyễn Trường Tộ nên mới mất nước vào tay thực dân Pháp. Có người còn viết bịa ra là phái đoàn Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp, lúc trở về có tường trình cho vua Tự Đức biết văn minh của nước Pháp như “lấy nước ở tường ra”, “đèn cháy ngược” thế mà vua Tự Đức còn u mê không chịu nghe lời ông Nguyễn Trường Tộ mà canh tân đất nước. Luận cứ này còn đem cả vào trường học giảng dạy cho học sinh nữa.

Vua Tự Đức chết năm 1883, ông Phạm Phú Thứ chết năm 1882, ông Nguyễn Trường Tộ chết năm 1871. Tất cả những vị nêu trên cũng như trên toàn cầu, vào giai đoạn đó, chưa có ai biết hình thù cái bóng đèn điện nó ra sao. Cái bóng điện được thắp sáng lần đầu tiên ở trên trái đất này là ở trong phòng thí nghiệm của ông Thomas Edison, vào ngày 19 tháng 10 năm 1879, cháy liên tục đến ngày 21 tháng 10 năm 1879, ông cho tăng voltage, nó tắt liền (At 1:30PM on October 21, Edison decided to increase the voltage. Not until then did the bulb burned out). Phải qua giai đoạn thiết lập nhà máy làm bóng điện, nhà máy phát điện, trạm biến điện, cột điện, contact, dây chuyền điện…Đến cuối thế kỷ, các thành phố Mỹ và Châu Âu mới được thắp sáng khắp thành phố và tư gia vào ban đêm. Như vậy, thời ông Phan Thanh Giản, ông Nguyễn Trường Tộ làm gì có đèn cháy ngược? Điều này chỉ là tuyên truyền láo thôi.



NGUYỄN TRƯỜNG TỘ, ÔNG LÀ AI?

Về năm sinh của ông Nguyễn Trường Tộ, Lm Trương Bá Cần đã viết như sau: “Về năm sinh của ông Nguyễn Trường Tộ thì theo Lê Thước trong bài trong bài Nguyễn Trường Tộ tiên sinh, tiểu sử đăng trong Nam Phong số 102 và hầu hết các tác giả tiếp sau đó đều nói Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828, Minh Mạng năm thứ 9. Riêng Nguyễn Trường Cửu, con trai Nguyễn Trường Tộ, trong sự tích ông Nguyễn Trường Tộ, không nói năm sinh, nhưng nói mất ngày 10 tháng 10 năm Tự Đức 24… thọ 41 tuổi.

Hiện nay chúng ta không có đủ tài liệu để xác định một cách chắc chắn về năm sinh của Nguyễn Trường Tộ. Nhưng nếu ông năm Tự Đức 24, tức năm 1871, và thọ 41 tuổi, thì năm sinh phải là 1830 chứ không thể là 1828. Ngày mất, là tuổi thọ của một người, thường được gia đình truyền đạt một cách chuẩn xác. Trong bài tiểu sử của ông Tộ do ông Lê Thước công bố là năm 1860 ông Tộ đã 33 tuổi. Trong bài viết của ông Đinh Văn Chấp có cho biết ông Tộ sinh năm 1818 và chết lúc 43 tuổi.

Ông Tộ mất lúc ông Nguyễn Trường Cửu vừa được 18 tháng, còn quá nhỏ, chưa thể nào đàm thoại chuyện trò gì với bố được, và lúc lấy vợ có thể ông Tộ nói bớt tuổi để cho người phối ngẫu vui là ông chồng còn trẻ thì sao? Cho nên ông Tộ sinh năm 1828 hay 1830 tôi cũng chưa tin, có thể tuổi ông còn cao hơn nữa. Trước năm 1858, ông Tộ đã là linh mục. Ông Nguyễn Hoàng sinh năm 1839, mãi đến năm 1868, tức 29 tuổi mới được thụ phong linh mục. Căn cứ vào đó, có thể ông Tộ sinh năm 1828 hay 1827, hay 1826 chứ khó có thể ông Tộ sinh năm 1830 được.

Trong Việt Nam tự điển, Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ ghi năm sinh của ông Nguyễn Trường Tộ là năm 1827. Trong Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển của giáo sư Trịnh Văn Thanh, giáo sư sinh ngữ trường Jean Jaques Rousseau và Leuret ở Saigon, đã bỏ ra 10 năm để hòan thành tác phẩm và nhờ sinh ngữ, có thể ông đọc được tài liệu của Hội Truyền Giáo hay ở đâu đó, mới biết được năm sanh của Nguyễn Trường Tộ là năm 1818. Năm sanh này có vẻ hợp lý , vì lẽ sau đây:

- Trong Di Thảo số 6, ông Tộ viết: Nhân vì chân tôi bị tê bại sắp thành kẻ phế nhân, nằm ngửa ra mà viết, tinh thần buồn bã rối loạn, tự biết nói năng không thứ tự.

- Trong Di Thảo số 7, ông Tộ cho biết: Tôi hiện nay bị bệnh tê thấp chưa khỏi

- Trong Di Thảo số 8, ông Tộ viết: Tôi trước đây bị ốm nằm ở Gia Định, điều dưỡng đã gần hai năm, nay 10 phần đã giảm 5, 6

Những điều ông Tộ cho chúng ta biết ngày nay y khoa gọi là bệnh phong thấp cấp tính, tiếng Pháp gọi là rhumatisme articulaire aigue, tiếng Anh là acute articular rheumatism. Bệnh phong thấp hay tê thấp thường xẩy ra ở người lớn tuổi, khoảng 45 trở lên. Nếu không có thuốc chữa thì tim sẽ yếu dần, đi đến chỗ chết trong khoảng 10 năm. Như vậy ông Tộ bị tê thấp từ cuối năm 1863 hay đầu năm 1864 và ông Tộ qua đời năm 1871, nghĩa là sau 7 năm bị bệnh. Căn cứ vào bệnh lý của ông Nguyễn Trường Tộ, ông Tộ mất vào năm 53 tuổi, nghĩa là năm sanh của ông Tộ là năm 1818 là có lý hơn.

Trong tờ trình của Tỉnh Thần Nghệ An của ba ông Hoàng Tá Viêm, Ngụy Khắc Đản, Trần Nhượng đăng trong cuốn “Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo” năm 1988, Lm Trương Bá Cần, trang 478 và quyển tái bản năm 1991, nơi trang 189, đây là tờ trình lên vua Tự Đức của tỉnh thần Nghệ An, do lệnh của vua hỏi thăm tung tích của Hậu, Tộ. Sau khi tiếp chuyện với giám mục Ngô Gia Hậu (Gauthier), ba ông Hoàng Tá Viêm, Ngụy Khắc Đảm và Trần Nhượng đã viết tờ trình lên vua Tự Đức như sau:

- Lại nói tên Trường Tộ biết khá nhiều về tình thế nước ta, nay lại là đệ nhất thông ngôn cho giám đốc Tây, chỉ vẽ mọi việc thông dịch, xử lý trong các giấy tờ qua lại đều do y cả (quyển tái bản 1988, trang 478).

- Lại nói tên Trường biết khá nhiều tình thế nước ta, nay là đệ nhất thông ngôn cho giám đốc Tây, chỉ vẽ mọi việc thông dịch, xử lý các giấy tờ qua lại đều do y cả (quyển tái bản năm 1991, trang 189). Tên Trường Tộ này còn là tên Trường, bỏ đi chữ Tộ.

Thần hỏi: Gia Hậu đề cập đến Trường Tộ là người như thế nào vậy?

Đáp: Tên Trường Tộ trước là linh mục. Từ khi thuyền Tây đến Gia Định thì phần kém đạo hạnh, lệch lạc ra ngoài phạm vi đạo trưởng, năng lui tới Tây soát tìm vui (quyển xuất bản năm 1991, trang 189) như trên bỏ đi chữ Tộ.

Tờ trình này viết vào ngày 26-4-1870. Giám mục Ngô Gia Hậu (Gauthier) có thể không ưa Tộ, không còn trọng dụng ông Tộ nữa nên tiết lộ cho triều đình ta những gì trước đã được giữ kín từ lâu về ông Tộ, gọi ông Tộ là kiến trúc sư, có trí nhớ lạ thường, có tài năng lỗi lạc… Bây giờ ông Tộ làm việc cho pháp ngạch thông ngôn lên đến hạng nhất, lại là cựu linh mục kém đạo hạnh, là người phản bội tráo trở khi giám mục Hậu nói: "Gia Hậu nhân y nói người Tây tráo trở nên lấy câu này mà gọi người đa đoan đó tên là Trường”.

Lại nói: Y đã vốn theo tả đạo, làm đạo trưởng, chẳng biết gì mà bàn lếu láo đến công việc thật là không phải (trang 189-478). Trước giám mục Hậu đánh bóng cho ông Tộ là kiến trúc sư, có trí nhớ lạ thường, có tài năng lỗi lạc. Đến năm 1870, Nguyễn Trường Tộ được giám mục Hậu cho biết là linh mục kém đạo đức, là thông ngôn cho Pháp, chẳng biết gí mà nghị bàn lếu láo đến công việc thật là không phải, kẻ tráo trở…

Người ta cũng ngạc nhiên rằng một người làm việc cẩn trọng như Lm Trương Bá Cần mà chỉ mới ba năm sau ông đã sửa đổi lịch sử. Ông cố che giấu chức vụ linh mục cho Nguyễn Trường Tộ, không biết có ẩn ý gì? Ông viết: “Giáo sĩ (tức là bác sĩ Hernaiz) không phải là một linh mục hay giáo sĩ tu sĩ mà chỉ là một nhân sĩ tôn giáo nên gọi là giáo sĩ, như Nguyễn Trường Tộ cũng được gọi là giáo sĩ. Người giáo hữu đều có nhiệm vụ tông đồ truyền đạo, lôi kéo được nhiều người ngu ngốc theo đạo thì được giấy ban khen.” Như vậy thì tất cả giáo dân đều được gọi là giáo sĩ không thể phân biệt là trí thức mới được gọi là giáo sĩ, như vậy là sai. Các cụ ta gọi ông đạo trưởng Nguyễn Trường Tộ là giáo sĩ để phân biệt hai chữ tu sĩ cho các tôn giáo khác là có ẩn ý trong đó có giáo dở , gươm giáo và giáo gian, cũng như ở phương tây người ta gọi Jesuit là thầy tu Dòng Tên, vì những công tác họ làm lưu manh lươn lẹo nên sau này Tự Điển có thêm nghĩa chữ Jesuit như sau: “Người hay mưu đồ, người hay mập mờ nước đôi, người đạo đức giả, người giảo quyệt”.

Vì Nguyễn Trường Tộ là đạo trưởng tức linh mục từ trước năm 1858 nên ông phải có thời gian vào học chủng viện. Vì thế bản lý lịch, tiểu sử viết về Nguyễn Trường Tộ của ông Lê Thước và Nguyễn Trường Cửu là giả mạo ngụy tạo vào đầu thế kỷ 20 mà thôi.



LINH MỤC NGUYỄN TRƯỜNG TỘ LÀ NGƯỜI YÊU NƯỚC?

Linh mục Nguyễn Trường Tộ là người Gia-Tô, lúc sanh ra được đem ra nhà thờ để chịu phép rửa tội (baptême). Ghi tên vào sổ đạo của giáo xứ, địa phận để được gia nhập một quốc gia mới là quốc gia Vatican. Nước Vatican bao giờ cũng ở trên quốc gia trên trần thế, nơi đã sinh ra chỉ là tạm bợ. Mà nước Vatican là đồng minh với nuớc Pháp nên ông ta đã về cộng tác, làm việc với người Pháp. Cho nên linh mục Trương Bá Cần đã không ngượng ngùng khi viết: Đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ trở về Saigon (làm việc cho Pháp) với hoài bão lớn là đem những hiểu biết thu nhập được của mình để giúp đất nước (?) canh tân, tự cường tự lực ngõ hầu tránh được hoạ mất nước” (NTT, tập I, trang 220. Ở vị thế đó, rất khó mà xét định được ông Tộ có là người yêu nước nồng nàn không? Còn với đại khối phi Gia-Tô, lòng yêu nước được chứng tỏ khi có ngoại xâm là lăn xả vào cuộc kháng chiến để đánh quân ngoại xâm để bảo vệ đất nước, hoặc cầm kiếm cầm súng, hoặc cầm bút như cụ Nguyễn Đình Chiểu, cụ Phan Văn Trị, hoặc lao động yểm trợ chiến trường… Giặc đến nhà đàn bà còn phải đánh huống hồ là nam nhi.

Tác giả bài thơ nổi tiếng “HỒ TRƯỜNG” là ông Nguyễn Bá Trác cũng bôn ba nơi hải ngoại để tìm đường phục quốc. Nhưng về sau tuyệt vọng phải về nước làm việc cho Pháp. Nguyễn Thái Bạt, người đã du học ở Nhật, đã từng cùng với cụ Phan Bội Châu dựng bia kỷ niệm ông Asaba Sakitaro ân nhân cách mạng Việt Nam. Ông đã tuyệt tích không ai biết tin tức gì cả. Về sau, được biết ông đã đổi tên là Nguyễn Phong Di làm việc ở toà khâm sứ Huế (Hồi Ký Đặng Thái Mai, trang 236). Cả ba người làm việc với Pháp, không biết lòng yêu nước của Nguyễn Trường Tộ có thể so sánh với hai ông Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Thái Bạt được không?

Nếu Nguyễn Trường Tộ mà viết điều trần gửi lên vua Tự Đức trước năm 1858, nghĩa là trước khi đi Hồng Kông đọc tân thư của Tàu thì ông là người có tư tưởng canh tân tôi phải kính phục, và như thế đích thực ông là người yêu nước khỏi phải bàn cãi, không phải thắc mắc nghi ngờ gì nữa.

Trước Nguyễn Trường Tộ có ông Vũ Duy Khuê thời vua Minh Mạng đã đề nghị mở các hải cảng cho người ngoại quốc vào buôn bán và cho tự do tôn giáo. Vua Minh Mạng đồng ý cho người ngoại quốc vào tự do buôn bán. Còn về tôn giáo, vua Minh Mạng cử một phái đoàn sang Pháp điều đình. Phái đoàn chỉ được vài bộ trưởng tiếp, còn các giáo sĩ trong Hội Truyền Giáo thì chống đối, tố cáo vua Minh Mạng tàn ác, vô nhân đạo. Họ trông mong chính phủ Pháp đem chiến hạm qua biểu dương ở biển Đông. Phái đoàn trở về Việt Nam thì vua Minh Mạng đã mất, vua Thiệu Trị lên thay. Năm 1847, Lapierre và Rigault de Genouilley đem chiến thuyền đến Đà Nẵng bắn đắm 5 thuyền đồng của ta. Trong “Dương Sự Thuỷ Mạt” có cho biết tên 5 tầu đó là: Kim Đằng, Phấn Bằng, Linh Phụng, Thọ Hạc, Vân Bằng. Đến thời Tự Đức, năm 1851, ông Phạm Phú Thứ qua Macao, sang Hàng Phố, đến Quảng Châu đã tận mắt nhìn thấy hàng hoá của Tây phương tràn ngập, bày la liệt và thuyền máy nhiều tầng của Tây phương chạy trên sông. Lẽ dĩ nhiên đi chuyến này về có tường trình cho vua Tự Đức những điều đã thấy. Năm 1856, khi làm việc ở Nghệ An, ông đã hướng dẫn cho thợ đóng một chiếc tầu vận tải đường biển kiểu mới và một chiếc tầu đồng đặt tên là Thủy Nhạc. Ông đã thi hành thuyết tri hành hợp nhất, ông đã được vua Tự Đức khen thưởng bốn lần.

Ngoài ra còn các bản điều trần của các ông Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Nghĩa, Lê Danh Đề, Nguyễn Tiến Thọ, Hoàng văn Tuyển, Trần Tiễn Thành,…

Về các vấn đề cấp bách như cách thức tuyển người, định cư dân chúng, phân chia ruộng đất, việc miễn giảm thuế, luyện tập quân sĩ, dùng đồ nội hoá, khai thác mỏ, đúc súng,… vua Tự Đức ban hành dụ ruộng đất không được bỏ hoang, cho phép Chu Triệu Kỳ người Trung Hoa khai thác mỏ vàng An Bảo ở Thái Nguyên,… Vua Tự Đức còn là vị vua thông minh ham tìm hiểu, ông đã nhờ các thương gia Tàu mua sách báo. Ông thường đọc báo ngoại quốc viết bằng chữ Hán như Hong Kong Daily Press, Pekin Gazette và có thể các sách tân thư của Tàu. Vì thế, sau này, ông Phạm Phú Thứ lập nhà in, nhà xuất bản Hải Học Đường in một số tân thư của Tàu như:

- Bác Vật Tân Biên (khảo cứu về các môn khoa học tự nhiên)

- Khai Môn Yếu Pháp (phương pháp khai mỏ)

- Hàng Hải Kim Châm (kỹ thuật đi biển)

- Vạn Quốc Công Pháp (công pháp các nước)

- Và cuốn Tây Hành Nhật Ký ( nhật ký đi Tây của ông)

Ông còn định in các cuốn: Địa cầu Thuyết Lực, Danh Hoàn Chi Lược, Cách Vật Nhập Môn thì bị triệu về kinh, công việc bị bỏ dở và sau đó ông mất ngày 5-2-1882.

Theo sách ông Chương Thâu trang 14 cho biết từ lúc vua Tự Đức lên ngôi cho đến năm 1862, đã có 40 vụ dân chúng nổi loạn và các vụ nổi loạn này phần nhiều do sự xúi giục của bàn tay lông lá. Bản báo cáo ngày 3-6-1859 trong châu bản triều Tự Đức, trang 51, cho biết trên rừng thì dân thiểu số hoành hành, cướp của giết người và trong làng xã thì dân theo đạo Gia Tô nổi lên làm loạn, ngoài biển thì tàu Pháp và thuyền Tầu Ô đánh phá. Thù trong giặc ngoài, triều đình chỉ còn có con đường tái lập an ninh và lo chống đỡ, đâu có thì giờ lo đến việc canh tân xứ sở nữa. Kể từ tháng 4 năm 1863, khi các bản điều trần của ông Nguyễn Trường Tộ gửi lên, vua Tự Đức có lẽ đã đọc các tân thư của Tàu rồi nên đã phê: Nguyễn Trường Tộ quá tin những điều y đề nghị… tại sao lại thúc giục nhiều thế, khi mà các phương pháp cũ của Trẫm đã rất đủ để điều khiển quốc gia rồi” ( Lịch sử Việt Nam quyển 2, trang 62)

Muốn thực hiện các dự án lớn có tính cách lâu dài thì đất nước phải có an ninh, phải có tài chánh, phải có người có khả năng chuyên môn, mà người nắm vững vấn đề đó là vua Tự Đức. Một người ngoại quốc, tiến sĩ Yoshihary Tsuboi, sau khi đọc các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đã phê bình: Nguyễn Trường Tộ đề nghị đi vay tiền của các thương gia Hương Cảng, nhưng không bao giờ ông đề nghị một giải pháp nào tạo ra các nguồn kinh phí thật sự (Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885, trang 277- Nguyên tác: L’empire Vietnamien face à la Frace et à la Chine 1847-1885 do Nguyễn Đình Đầu dịch ra Việt ngữ). Hiện nay các nước đi vay tiền của ngoại quốc để phát triển quốc gia, các quốc gia này còn được hưởng lợi nhờ cuộc chiến Việt Nam, thế mà nay tiền lời còn không trả nổi, chưa nói đến trả vào vốn, đó là Thái Lan, Đại Hàn, Nam Dương, Mã Lai Á, các nước đó đang trên đường đi đến phá sản. Nói thì dễ, làm mới khó. Trong bài viết của tiến sĩ Vĩnh Sinh có đăng trong sách này đã trưng dẫn nhà đại tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ đã mượn ý và đạo văn của Từ Kế Dư trong “Doanh Hoàn Chi Lục” và Ngụy Nguyên trong “Hải Quốc Đồ Chi”.

Tháng tư năm 1863, Nguyễn Trường Tộ bắt đầu gửi bản điều trần đầu tiên “Thiên hạ đại thế luận” đề nghị triều đình ta hoà với Pháp: Sự thế hiện nay chỉ có hoà. Hoà thì trên không cưỡng lại ý Trời, dưới có thể làm cho dân đỡ khổ, chấm dứt được sự dòm ngó của bọn gian nghịch, ngăn chặn được sự tranh giành của nước ngoài, thật là hay không kể xiết.

Nhiều người ca tụng ông Nguyễn Trường Tộ là người thông minh lạ thường, là bậc kỳ tài trong thiên hạ mà ông làm thông ngôn cho Charner lại không biết Charner khẳng định: “Nếu chúng ta đứng vững ở đất Nam Kỳ và tạo ra đây một trung tâm buôn bán quan trọng thì chúng ta không thể chiếm lấy Saigon mà thôi. Quyền lợi của chúng ta đòi hỏi phải bành trướng giao dịch ra toàn Nam Kỳ, một xứ gồm những tỉnh phì nhiêu nhất, giầu nhất của vương quốc này” (Phạm Phú Thứ với tư tưởng canh tân, trang 75). Ông làm việc cho Pháp ở Sài Gòn từ năm 1861 há không biết ngày 5 tháng 5, 1862, phái đoàn của Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Sài Gòn ký một hiệp ước hòa bình và hữu nghị với Pháp và Tây Ban Nha? Trong hiệp ước này có một điều khoản quan trọng là: "Triều đình nước Nam không được tự ý cắt đất giảng hoà với bất cứ nước nào nếu chưa được Pháp ưng thuận.” Đây chắc là ông cố vấn cho Pháp để chặt đứt những đề nghị của ông có trong điều trần sau này: “Dùng ngoại giao với Anh để nhờ Anh đánh Pháp” “Nhờ kẻ khác để ly gián họ” “Nhờ người khác để đánh họ”. Như vậy, nếu triều đình nhượng cho Anh hay Mỹ hay Đức hải cảng Đà Nẵng để dùng họ đánh Pháp đâu còn thực hiện nữa mà ông cứ viết điều trần làm gì. Đúng như giám mục Gauthier gọi, ông là tên tráo trở. Chưa đủ quân số, chưa đủ phuơng tiện để dứt điểm thành phố Huế, ngày 10 tháng 6 năm 1859, Pháp đã nhờ một ngưới Trung Hoa tên là Lý Thuận Nhất đưa một bức thư cầu hòa cho triều đình vua Tự Đức. Triều thần họp bàn, đa số chủ trương hòa, có người còn chủ trương hòa vô điều kiện như Lê Chí Tín, Đoàn Thọ, Tôn Thất Thường, Tôn Thất Dao và Nguyễn Hào. Kết qủa là triều đình ta đã đồng ý ký Hiệp Ước Hòa Bình Và Hữu Nghị vào ngày 5 tháng 6 năm 1862 tại Sài Gòn. Như vậy đến tháng 4 năm 1863 ông mới viết điều trần đề nghị hòa với Pháp nghĩa là làm sao, trong khi triều đình Tự Đức đã chủ trương từ lâu rồi và đã ký Hiệp Ước Hòa Bình với Pháp và Tây Ban Nha ngày 5 tháng 6 năm 1862, trước đó một năm rồi.

Ông Tộ đề nghị nhà vua nên dùng giám mục, linh mục Pháp giúp canh tân đất nước. Vua Tự Đức đã phê: “Liệu có giúp được không?” Trong Di Thảo 12, ông Tộ báo tin giám mục Gauthier có thể nhận giúp đi Pháp thuê thợ thày và mua máy móc để mở trường huấn luyện về nghề nghiệp. Vua Tự Đức đã mời giám mục Gauthier cùng Nguyễn Trường Tộ về Huế, đón rước có lọng che như các quan lớn trong triều đình. Theo đề nghị của giám mục nên cho một số giáo sĩ biết ngoại ngữ sang Pháp học một năm để giúp dạy ứng dụng. Nguyễn Trường Tộ đề nghị Nguyễn Huấn, Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều , Nguyễn Lâu,… Tất cả đề xuất của Nguyễn Trường Tộ đều được triều đình nghe theo.

Đến Pháp, ông Tộ không áp dụng kế hoạch ngoại giao, vào toà đại sứ Anh hay Đức để vận động họ đánh Pháp cứu nước mà chỉ đi liên lạc với hội khai thác mỏ. Ông không chịu đi gặp lãnh tụ đảng đối lập ở Pháp để thực thi kế họach như ông đã viết, làm áp lực với Pháp. Được dịp để thi thố tài năng cứu nước, ông không làm, tri hành không hợp nhất, thành ra chỉ là thằng nói phét thôi. Ông bảo nhờ giám mục, linh mục để canh tân đất nước thì vua Tự Đức đã thực thi, nhờ giám mục Gauthier và ông mở trường dạy nghề. Kết quả ra sao? Ông đem về được hai linh mục: Lm Thông (Montrousies) và Lm Đông (Renault) để làm giáo sư và truyền đạo hợp pháp. Giáo sĩ Hernatz điếc nặng, đến Việt Nam mấy ngày rồi về Pháp. Đem về chỉ có ba giáo sư, cả thảy chỉ còn lại hai người thì mở trường cái gì? Ông cổ võ nên hoà với Pháp là thượng sách, ông đang ở bên Pháp, thống đốc La Grandière đem quân lấy luôn ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Ở Pháp, ông viết nhăng viết cuội bản “Tế cấp bát điều” gửi về, ông không một lời phản đối hay có văn thư phản đối chính phủ Pháp, bộ Ngọai giao Pháp về việc Pháp đã phản bội hòa ước ký ngày 5-6-1862, ngang nhiên chiếm ba tỉnh miền tây Nam Kỳ. Lòng yêu nước của ông để đâu và ông có là người yêu nước không?

Trong Nguyễn Trường Tộ, Tập I, trang 67, Lm Trương Bá Cần cho biết trong Di Thảo số 51, ông Tộ cho biết: “Hiện còn ba bốn tập trình bầy sự việc, xin đợi 6 tháng gửi lên”. Như thế là Nguyễn Trường Tộ còn viết thêm ba bản văn nữa, văn bản số 54 đang dở dang… và từ trần ngày 22-11-1871. Bây giờ có tới 58 bản điều trần cơ. Vậy bản dư ai là người viết?

Trong “Thiên hạ đại thế luận”, ông Tộ viết: “Hơn nữa ở Âu Châu việc võ bị chỉ có nước Pháp là đứng hạng nhất, hùng mạnh nhất không thua ai cả. Họ lại có tính khẳng khái, hiếu chiến, với uy phong của một quân đội có xe sắt.” Đây có thể là bản điều trần giả, có thể người ở thế kỷ 20 cho thêm vào hai chữ “xe sắt”. Chiếc xe sắt đầu tiên được thế giới biết đến là do Anh chế tạo vào năm 1914, thời ông Nguyễn Trường Tộ làm gì có động cơ nổ, thì Pháp làm gì mà có xe sắt? Nên biết rằng những văn bản của Nguyễn Trường Tộ mà chúng ta có hiện nay đều là những bản được sao chép lại (Nguyễn trường Tộ của Trương Bá Cần trang 105). Trong sách của Chương Thâu, trang 18, còn cho biết có rất nhiều bản điều trần quan trọng. Bản điều trần số 55 còn đưa Nguyễn Trường Tộ thành nhà tiên tri “nhưng nước ta có một nước mạnh như vậy ở bên cạnh cũng rất đáng lo” ý chỉ đại chiến thứ hai, quân đội Nhật sang chiếm nước ta. Nhưng thời đó nước Nhật đã có cái gì chứng tỏ là canh tân đâu? Ông Tộ chết năm 1871, năm 1872 nước Nhật mới bắt đầu làm đường xe lửa Tokyo-Osaka và năm 1871 phái đoàn lãnh đạo thượng tầng của Nhật gồm 50 người đi tham quan ở Tây phương 1 năm 10 tháng để học hỏi hầu về nước thực hiện kế hoạch canh tân. Lúc bấy giờ nước Nhật đã có cái gì chứng tỏ canh tân thành công đâu mà ông Tộ biết trước được nước Nhật mạnh? Bản điều trần này có thể được viết ra vào năm 1941, thời ông Từ Ngọc Nguyễn Lân, ở gần có cha Cadière, đang ra sức đánh bóng nhân vật Nguyễn Trường Tộ, và lúc này quân Nhật đã có mặt ở Việt Nam.

Ba mươi năm sau, năm 1971, ông Đào Đăng Vỹ viết trong Bách Khoa số 359 ngày 15-12-1971 một bài viết: “Xã hội Nguyễn Trường Tộ và xã hội Y Đằng Bác Văn” để đính chính về việc Y Đằng Bác Văn và Nguyễn Trường Tộ gặp nhau chỉ là truyền thuyết do các cụ kể lại không có gì chính xác và cho biết hòan cảnh nước Việt lúc bấy giờ thì dầu không bị xâm chiếm cũng khó tiến bộ mau chóng và hùng mạnh như Nhật Bản được. Ông Vĩnh Sinh cũng chứng minh Y Đằng Bác Văn và Nguyễn Trường Tộ không thể gặp nhau được, như vậy câu nói sau đây cũng chỉ là đồ ngụy tạo: “Kể tài trí thì ông hơn tôi nhiều, nhưng cứ tình thế hai nước ta, thì tôi sẽ thành công dễ dàng mà ông sẽ hòa tòan thất bại.” Ngòai ra cũng nên nhớ rằng mấy bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ gửi lên vua Tự Đức cũng chỉ có mấy người được đọc như Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tri Phương,… đâu có phổ biến ra ngoài cho dân chúng được đọc đâu; thế mà sau này nhiều bài viết đã tán hươu tán vượn là “những đề nghị canh tân của Nguyễn Trường Tộ ít gây được ảnh hưởng rộng lớn trong nhân dân vì thiếu một tầng lớp tư sản trong xã hội,” v.v…

Ngày nay bao nhiêu người Việt ở hải ngoại gửi đề nghị về cho nhà nước Việt Nam, người ở ngoài cuộc có ai được đọc, được biết đâu?



NGUYỄN TRƯỜNG TỘ HỤT LÀM VUA


Pháp đánh Đà Nẵng, ông Tộ hẳn đã được hứa hẹn của các giám mục Pellerin và Gauthier về tương lai sẽ được đóng vai trò quan trọng nào đó. Chủ trương của Pháp là đánh chiếm Huế, lật đổ triều Nguyễn để thiết lập tân trào. Sử dụng các thầy tu, kẻ giảng để thiết lập một guồng máy hành chánh với sự trợ lực của 600,000 (sáu trăm ngàn) giáo dân Gia Tô. Giám mục Pellerin còn thuyết trình cho Ủy Ban Cochinchine (Ủy Ban Nghiên cứu về Nam Bộ), giám mục nói rằng: “Chỉ cần tấn công bất kỳ một chỗ nào trên đất An Nam thì người Gia Tô ở đấy cũng sẽ ngả theo quân đội Pháp để chống lại các quan lại An Nam”. Khi Rigault de Genouilly tấn công Đà Nẵng không thấy giáo dân đâu cả như lời giám mục Pellerin đã thuyết trình. Quân Pháp lên bộ bị quân dân ta chặn đánh thiệt hại nhiều. Trong “Dương Sự Thuỷ Mạt” có ghi: “Nguyễn Tri Phương cho đắp luỹ từ bờ biển đến ngoài luỹ Phúc Ninh-Thạc Giản, đào hố hình chữ “phẩm’, cắm chông nhọn, phủ cát rơm lên trên, một mặt cho quân mai phục bên ngoài thành Điện Hải. Quân Tây Dương chia ba ngã tiến đến, phục binh ta vùng dậy đánh, quân Tây sụp hố, bị quân ta bắn phải tháo chạy. Các quân sĩ đều được thưởng tiền, mỗi người 100 quan”. Tháng 9 năm 1858, quân và dân Quảng Nam dùng sọt tre, thùng gỗ chứa đất, đá lấp sông Vĩnh Điện để ngăn chặn đường tiến của giặc vào kinh đô. Rigault de Genouilly có 800 quân gồm 300 quân Tagals (lính đánh thuê Phi Luật Tân) từ chối hành quân chờ ngày hồi hương, chỉ còn 500 quân phòng thủ. Tháng 10 năm 1858, ông Tộ cùng giám mục Gauthier đến Đà Nẵng gặp quân Pháp, ở đây có giám mục Pellerin, linh mục Croc, có tên Việt là cố Hoà biết tiếng Việt, áp lực quân Pháp tấn công Huế cho chóng dứt điểm (Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo, trang 22). Rigault de Genouilly hiểu rõ tình hình không thể tấn công được nên đã từ chối, vả lại có lẽ ông mất cảm tình với các giáo sĩ người Pháp cho tin không chính xác. Ngoài ra Rigault de Genouilly có chủ trương hợp lý : “Không thể lật đổ vua hiện tại để đưa một người Gia Tô lên cai trị dân chúng không theo đạo có tỉ lệ 200/1” (Paris Xuân 96 của Nguyên Vũ, trang 194). Nguyễn Trường Tộ đã cởi áo linh mục, có thể đóng vai hiệp sĩ Toà Thánh lên lãnh đạo Việt Nam thay vua Tự Đức nhưng đã không được như ý; cởi áo linh mục, Nguyễn Trường Tộ chỉ còn được giáo dân gọi là Thầy Lân mà thôi.

Về làm việc với Pháp, ông Nguyễn Trường Tộ cũng nghĩ sẽ được đóng một chức vụ quan trọng nào đó. Nhưng Pháp đã không tin dùng, chỉ cho chức vụ thông ngôn nên ông bất mãn. Ông hụt làm vua, hụt làm tể tướng nên quay ra viết mấy bản điều trần để chứng tỏ mình là người yêu nước, để làm thân với vua quan trong triều đình để giữ mạng sống, có thế thôi!

Như nhận xét của Trần Tiễn Thành sau đây: “Cái khoản này năm trước y cũng đã trìng bầy chưa tiện thi hành, nay lại đề cập, viện dẫn lý thế hiện tại và điển cố biện thuyết, chẳng qua chỉ là muốn tỏ ra có lòng vì mình mà thôi. Nhưng bác đi vì thời sự khó thực hành, đó là ý kiến đã được thương nghị cùng thần Nguyễn Tri Phương, thần Phạm Phú Thứ, tất cả đồng ý như vậy” (Nguyễn Trường Tộ tập I, Trang 65-66) và viết mấy bản điều trần để lấy lòng vua quan nhà Nguyễn như “Biểu tạ ơn vua” (NTT, trang 282), “Ngôi vua là quí , chức quan là trọng” (NTT, trang 174), “Tâm sự với Trần Tiễn Thành” (NTT, trang 170), “Lại tâm sự với Trần Tiễn Thành” (NTT, trang 184).



[Khi đọc xong bài “Nguyễn Trường Tộ học ở đâu” của học giả Đào Duy Anh và phần ghi chú của toà soạn Đông Dương Thời Báo (Houston, Texas), người đã từng hướng dẫn ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Lê Minh Hương đi ăn phở ở Mỹ, đã than: Tiền nhân đã lừa chúng ta và chúng ta bị tiền nhân lừa.]

Đông Dương Thời Báo






Hồ trường
Thursday, July 21, 2011 Author: Trường An

Trượng phu sanh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường
Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương
Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương
Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thời hề, toạ thị bách niên thân thế khu âm dương
Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ hề, , thí lai đối chước hữu dư thương.
Dư thương trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan
Dư thương trịch hướng tây sơn vũ, tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương
Dư thương trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương
Dư thương trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên túy
Thiên địa vũ trụ hồn tương vong, dư bất túy hĩ, dư hành dư chí
Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử




Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,
Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha phương.
Trời Nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương.
Học chẳng thành công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.
Rót về Tây phương, mưa Tây rơi từng trận chứa chạn
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nào ai tỉnh, nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thì, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

(Nguyễn Bá Trạc)




Thủy quân nhà Nguyễn
Wednesday, June 1, 2011 Author: Trường An

"Với diện-tích lãnh-thổ mà nhà Nguyễn bành-trướng gấp đôi, thực-phẩm nuôi dân Việt-Nam đã tăng lên bội-phần. Đặc-biệt về hải-phận, nước ta vượt quá 3 lần lớn hơn trước kia."

Thủy quân nhà Nguyễn ▼

---

Những trận đánh giặc biển của các chúa Nguyễn

Thời kỳ thành lập, thủy quân Nam Hà phải đối phó với không chỉ họ Trịnh phía Bắc, mà còn phải đánh với cả Oa khấu Nhật Bản, Hà Lan, Anh quốc, Bồ Đào Nha, Tề Ngôi, Đồ Bà... Đại Nam thực lục không ghi hết, như việc đánh Oa khấu kia.

(Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên)

Early Vietnamese official records documented the first contact between the Japanese and the Viets occurred in 1585. Lord Nguyen Hoang's sixth son led a squadron of more than ten ships to Cua Viet seaport where he destroyed two of the pirates' ships of Kenki, a Japanese pirate mistaken for a Westerner. Later in 1599, Kenki's ship had been wrecked in the Thuan An seaport and captured by Lord Nguyen Hoang's general. In 1601, Lord Nguyen Hoang sent the first official letter to Tokugawa Shogunate apologizing for his attacking the ship belonging to Kenki, a Japanese merchant, and to praise for the amicable friendship between the two countries.

Ất Dậu, năm thứ 28 [1585], bấy giờ có tướng giặc nước Tây Dương hiệu là Hiển Quý (Hiển Quý là tên hiệu của bọn tù trưởng phiên, không phải là tên người) đi 5 chiếc thuyền lớn, đến đậu ở Cửa Việt để cướp bóc ven biển. Chúa sai hoàng tử thứ sáu lĩnh hơn 10 chiếc thuyền, tiến thẳng đến cửa biển, đánh tan 2 chiếc thuyền giặc. Hiển Quý sợ chạy.

Chúa cả mừng nói rằng : “Con ta thực là anh kiệt”, và thưởng cho rất hậu. Từ đó giặc biển im hơi.

(Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần)

Giáp thân, năm thứ 9 [1644]

Thế tử Dũng Lễ hầu (tức là Phúc Tần, Thái tông Hiếu triết hoàng đế) đánh phá giặc Ô Lan ở cửa Eo. Bấy giờ giặc Ô Lan đậu thuyền ngoài biển, cướp bóc lái buôn. Quân tuần biển báo tin. Chúa đương bàn kế đánh dẹp. Thế tử tức thì mật báo với Chưởng cơ Tôn Thất Trung (con thứ tư của Hy Tông), ước đưa thủy quân ra đánh, Trung lấy cớ chưa bẩm mệnh, gần ngại chưa quyết. Thế tử đốc suất chiến thuyền của mình tiến thẳng ra, Trung bất đắc dĩ cũng đốc suất binh thuyền theo đi, đến cửa biển thì thuyền Thế tử đã ra ngoài khơi. Trung lấy cờ vẫy lại, nhưng Thế tử không quay lại. Trung bèn giục binh thuyền tiến theo. Chiếc thuyền trước sau lướt nhanh như bay. Giặc trông thấy cả sợ, nhằm thẳng phía đông mà chạy, bỏ rơi lại một chiếc thuyền lớn. Thế tử đốc quân vây bắn. Tướng giặc thế cùng phóng lửa tự đốt chết. Thế tử bèn thu quân về.

Chúa mới nghe tin Thế tử đi có một mình cả sợ, bèn tự đốc suất đại binh tiếp ứng, vừa tới cửa biển, xa trông khói đen bốc mù trời, kíp ra lệnh cho các quân tiến lên. Tới khi được tin thắng trận, chúa mừng lắm, kéo quân về hải đình để chờ. Thế tử đến bái yết. Chúa giận trách rằng: “Mày làm Thế tử, sao không thận trọng giữ mình?”. Lại thiết trách Trung về tội không bẩm mệnh. Trung cúi đầu tạ tội giờ lâu, rồi nhân khen ngợi oai phong anh dũng của Thế tử không ai kịp được. Chúa cười nói rằng: “Trước kia tiên quân ta đã từng đánh phá giặc biển, nay con ta cũng lại như thế. Ta không lo gì nữa”.

(Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu)

Giặc biển là người Man An Liệt có 8 chiếc thuyền đến đậu ở đảo Côn Lôn. Trưởng là bọn Tô Thích Già Thi 5 người tự xưng là nhất ban, nhị ban, tam ban, tứ ban, ngũ ban(2) (mấy ban cũng như mấy bực, nguyên người Tây phương dùng những tên ấy để gọi bọn đầu mục của họ) cùng đồ đảng hơn 200 người, kết lập trại sách, của cải chứa đầy như núi, bốn mặt đều đặt đại bác. Trấn thủ dinh Trấn Biên là Trương Phúc Phan (con Chưởng dinh Trương Phúc Cương, lấy công chúa Ngọc Nhiễm) đem việc báo lên. Chúa sai Phúc Phan tìm cách trừ bọn ấy.

Mùa đông, tháng 10, dẹp yên đảng An Liệt. Trước là Trấn thủ Trấn Biên Trương Phúc Phan mộ 15 người Chà Và sai làm kế trá hàng đảng An Liệt để thừa chúng sơ hở thì giết. Bọn An Liệt không biết. Ở Côn Lôn hơn một năm không thấy Trấn Biên xét hỏi, tự lấy làm đắc chí. Người Chà Và nhân đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết nhất ban, nhị ban, bắt được ngũ ban trói lại, còn tam ban, tứ ban thì theo đường biên trốn đi. Phúc Phan nghe tin báo, tức thì sai binh thuyền ra Côn Lôn, thu hết của cải bắt được dâng nộp. Chúa trọng thưởng người Chà Và và tướng sĩ theo thứ bực. Tên ngũ ban thì đóng gông giải đi, chết ở dọc đường.

(Võ vương Nguyễn Phúc Khoát)

Mùa thu, tháng 8, giặc biển tên là Đức (không rõ họ) cướp bóc miền ngoài biển Long Xuyên. Mạc Thiên Tứ được tin báo, tức thì sai cai đội Từ Hữu Dụng đem 10 chiếc chiến thuyền, đi bắt được bọn giặc đem giết hết.

---

Chiến tranh với Tề Ngôi Trung Hoa

(1792) Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ kết với 40 chiếc thuyền của bọn giặc biển Tề Ngôi khiến chúng men các vụng biển từ miền Khang Thuận trở vào, cướp bóc nhân dân. Vua nghe tin, sai Phó tướng Tả quân là Nguyễn Long đem binh thuyền giữ cửa biển Tắc Khái kiêm quản hai đạo Lý Lê và Xích Lam, phân phái đi tuần ngoài biển, phòng bị nghiêm nhặt.

(1794) Bảy chiếc thuyền sai tuần biển của Phú Yên bị giặc biển Tề Ngôi cướp, Lưu thủ Nguyễn Văn Nhân báo lên. Vua xuống dụ nghiêm trách, sai triệt hết thuyền về Diên Khánh.

(1797) Võ Tánh dẫn quân ra Đại Chiêm, gặp Đô đốc giặc là Nguyễn Văn Ngũ và thuyền của bọn giặc biển Tề Ngôi ở ngoài khơi, đánh vỡ, bắt được bọn giặc là Dương Khả Đại, Dương Long Phát, thu được thuyền chiến và tàu Ô hơn 30 chiếc. Khi đến thì đóng quân ở Hà Thân, thanh thế lừng lẫy.

Ngoài biển Bình Khang có một chiếc thuyền của bọn giặc biển Tề Ngôi đậu ở Hòn Tre, Lưu trấn Diên Khánh Nguyễn Văn Thành sai Cai cơ Lê Quang Tường đem binh đội thắng thủy đánh bắt được. Việc tâu lên. Vua thưởng cho 3 tấm sa đoạn và 100 quan tiền.

(1798) Giặc biển Tề Ngôi đóng ở phần biển Cù Huân. Lưu trấn Diên Khánh Nguyễn Văn Thành nghe báo, sai bọn Cai cơ Lê Quang Tường đem quân đuổi theo bắt, tới Diên áo [Vũng Diên] bắt được hai chiếc thuyền, còn thì chạy thẳng về đông. Vua thưởng cho bọn Tường các thứ nhiễu 2 tấm, sa mát 4 tấm và tiền 100 quan.

(1799) Quản vệ Phấn dực là Tống Phước Lương đánh phá được thống binh giặc biển Tề Ngôi là Phàn Văn Tài ở cửa biển Kim Bồng, đuổi đến Phú Yên lại đánh được, Trước là Tây Sơn chiêu nạp bọn đầu sỏ giặc biển, trao cho chức thống binh, muốn lợi dụng cái nghề thủy chiến của họ để chống quân ta, đến đây bị quân ta đánh thua, thế giặc thêm nhụt.

(1800) Đảng giặc là giặc biển Tề Ngôi đem 12 chiếc thuyền lấn vào vũng Hòn Khói. Phó trưởng chi chi Tiền du Thắng võ là Trần Văn Duyên đem quân đón đánh, giặc không lên bờ được, lại đem thuyền ra biển.

Thuyền đảng giặc là bọn giặc biển Tề Ngôi bị gió dạt đến ngoài biển Thị Nại. Sai hai vệ Nội trực và Túc trực đuổi theo, bắt được Đông Hải vương nguỵ là Mạc Quan Phù, thống binh là Lương Văn Canh và Phan Văn Tài cùng bè đảng rất nhiều.

(1802) Tống Phước Lương và Nguyễn Văn Vân đánh phá được giặc biển ở châu Vạn Ninh. Trước là giặc biển Tề Ngôi là Trương á Lộc ngụy xưng là thống binh, tụ đảng ở ngoài khơi, cướp bóc thuyền buôn, giặc Tây Sơn từng mượn sức để chống cự quan quân. Từ trận thua ở cửa biển Nhật Lệ, nó ngầm trốn ra ngoài biển Vạn Ninh, hoành hành cướp bóc. Trấn thần Yên Quảng đem việc báo lên. Vua sai Phước Lương và Văn Vân đem thủy quân để đánh. Quân đến cửa biển Vân Đồn, gặp 15 chiếc thuyền giặc, đánh phá được, chém được tướng giặc là Trịnh Thất và bè đảng rất nhiều, bắt được bọn Trương ái Lộc 11 người. Dư đảng nghe tin chạy trốn.

Vua thấy mùa gió mùa nước đã muộn, cho rút quân về, hạ lệnh cho các địa phương duyên hải phòng bị nghiêm thêm, rồi sai trấn Yên Quảng đưa bọn giặc bị bắt giải giao cho Khâm Châu nước Thanh.

(1803) Hơn trăm chiếc thuyền của giặc biển Tề Ngôi ra vào ở khoảng Tiên Yên và Vân Đồn, xâm bức bảo Cỗ Dũng, lại vào cả sông Bạch Đằng, cướp bóc địa phương Kinh Môn. Nguyễn Văn Thành sai Chưởng dinh Nguyễn Đình Đắc, Đô thống chế Phan Tiến Hoàng, Tán lý kiêm Binh bộ Đặng Trần Thường đem quân đánh dẹp.

Vua nghe báo, sai Nguyễn Văn Trương lãnh quân thủy bộ đến cùng Văn Thành điều độ biền binh phái thêm để phòng triệt những đường trọng yếu. Hương cống cũ triều Lê là Bùi Huy Ngọc và Nguyễn Huy Khuê người Yên Quảng họp đem thổ hào ở hai tổng Hà Nam và Hà Bắc đi theo quan binh, đánh chém được 6 đầu giặc, bắt được thiếu úy giặc là tên Vân. Thổ hào ba huyện Kim Thành, Thủy Đường và Giáp Sơn thuộc Hải Dương cũng đều họp quân đón đánh, chém được 2 đầu giặc, bắt được hơn 60 người. Thuyền giặc chạy ra biển về phía đông. Văn Thành đem tình trạng tâu lên. Vua cho Huy Ngọc làm tham hiệp Yên Quảng, Huy Khuê làm Tri huyện Hữu Lũng. Các thổ hào đều được thưởng thụ cai đội, đội trưởng, cai thuộc, ký thuộc, cai tổng, phó tổng khác nhau.

(1804) Thủy sư Bắc Thành đánh tan giặc biển Tề Ngôi ở hải phận Yên Quảng, bắt được quân giặc 13 người và thuyền ghe khí giới đem nộp.

Thuộc hiệu Yên Quảng là Đoàn Bá Giai đi tuần biển, bắt được ba tên giặc đảng Tề Ngôi và thuyền ghe khí giới. Thành thần đem việc tâu lên, Thưởng cho 50 quan tiền.

Giặc biển Tề Ngôi là tên Trạc ngụy xưng là Ninh Hải đại tướng quân, họp hơn 60 chiếc thuyền, lại quấy rối châu Vạn Ninh trấn Yên Quảng. Trấn thủ Lê Văn Vịnh suất binh dân đánh dẹp. Cai châu Phan Phương Khách, phó châu Phan Đình Trung, tiền tri châu Vi Quảng Vỹ tiến đánh, chém được Trạc và đồ đảng 4 người, giặc vỡ chạy. Thành thần đem việc tâu lên. Sai cho Phương Khách làm phòng ngự sứ, kiêm cai việc châu, cho Đình Trung làm phòng ngự đồng tri, kiêm việc phó châu và Quang Vỹ làm phòng ngự thiêm sự, thưởng cho tiền 500 quan, thưởng khắp cho binh dân 1.000 quan.

(1805) Quan Bắc Thành tâu rằng : “Giặc biển Tề Ngôi là bọn Trịnh Năng Phát, Hoàng Long, Sĩ Tiến nhiều lần bị quan quân đuổi bắt, trốn vào động La Phù ở Long Môn nước Thanh. Đã bao lần tư cho Long Môn mà quan ở đấy cứ che chở. Xin gửi công văn cho Tổng đốc Lưỡng Quảng để dẹp bắt”.

Xuống chiếu trả lời rằng : “Người Thanh dung túng giặc cướp là lỗi ở họ, không nên tư báo làm chi. Duy nếu bọn giặc tụ họp thì dân ta không khỏi sợ hãi ly tán. Vậy sai trấn thần Yên Quảng đặt đồn bảo nghiêm việc phòng bị cho dân yên ổn”.

Giặc biển cướp ở ngoài biển Nghệ An, lính tuần dương đánh đuổi chạy, bắt được 18 người. Trấn thần tâu lên. Thưởng tiền 200 quan.

(1806) Giặc biển Tề Ngôi họp 30 chiếc thuyền lẩn vào Hoa Phong đốt cướp bảo Phượng Hoàng. Thành thần sai phó tướng Tiền quân là Trương Tấn Bửu đem chu sư đi đánh đuổi. Sai Quản cơ Tiền thủy là Nguyễn Văn Hạnh, Phó vệ úy Tiền dực là Nguyễn Văn Lữ quản binh thuyền đi vận chuyển gỗ ở Bình Định. Vua dụ rằng : “Giặc biển Tề ngôi lẩn lút ở ngoài biển, bọn ngươi nên gia tâm phòng bị. Ai bắt được thuyền giặc, thuyền lớn thì thưởng tiền 1.000 quan, thuyền nhỏ thì 500 quan”.

Thổ hào châu Vân Đồn trấn Yên Quảng là bọn Nguyễn Đình Bá và Phạm Đình Quế bắt được bọn giặc Tề Ngôi và thuyền ghe khí giới, quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Cho bọn Đình Bá làm đội trưởng, thưởng tiền 300 quan. Những giặc Thanh bắt được sai đưa trả về nước Thanh. Người Hán [người Việt] bị giặc bắt phải theo đều thả hết.

(1807) Giặc biển tỉnh Mân nước Thanh là Thái Khiên và Chu Phần bị quan quân nước Thanh đuổi bắt, chạy trốn ra ngoài biển, Tổng đốc Lưỡng Quảng gửi thư cho Bắc Thành nói thuyền giặc đều mũi xanh cột buồm đỏ, nếu có chạy đến hải phận ta thì đón bắt cho. Thành thần đem việc tâu lên. Vua hạ lệnh cho các quan địa phương duyên hải từ Quảng Đức trở ra Bắc đều phát binh thuyền đi tuần xét.

(1808) Hơn 80 chiếc thuyền giặc Tề Ngôi bị người Thanh đuổi bắt, trốn chạy đến ngoài biển Yên Quảng, Thành thần sai chánh thống Hữu đồn Tiền quân là Bùi Văn Thái, Phó thống Tả đồn là Nguyễn Văn Trị đem binh thuyền tiến đánh, chánh quản thập cơ quân Thần võ là Trần Văn Thìn đem quân bộ đến Hải Dương tiếp ứng, Chưởng dinh Trương Tiến Bửu làm Điều bát nhung vụ. Bọn giặc xâm phạm sông Bạch Đằng, áp đánh trấn lỵ Yên Quảng. Trấn thủ Lê Văn Vịnh cùng với Nguyễn Văn Trị đánh lui được giặc, chém được hơn mười đầu giặc và bắt được già trẻ hơn sáu chục người. Giặc bèn đem thuyền chia đậu ở các hải phận Hải Dương, Thanh Hoa và Nghệ An. Thành thần tâu lên. Vua lo thổ phỉ liên lạc với hải phỉ, bèn sai Tống Phước Lương quản lãnh binh thuyền tiến đánh, lại sai Thiêm sự Lại bộ là Ngô Vị theo làm việc giấy tờ ở trong quân.

Giặc biển Tề Ngôi đến cướp ở vùng sông Giá huyện Tiên Minh. Chưởng dinh Trương Tấn Bửu sai Chánh thống Thập cơ Trần Văn Thìn đem quân đi đánh. Thìn khinh suất tiến quân, bị giặc đánh úp. Tấn Bửu lại sai Chánh thống Hữu đồn là Bùi Văn Thái đến cứu viện, cùng giặc giao chiến phá được. Giặc dong thuyền chạy.

Giặc biển Tề Ngôi lại đến cướp các ấp Hoàng Châu, An Phong (thuộc huyện Nghiêm Phong) trấn Yên Quảng. Trấn thần sai quản cơ Vũ Văn Kế đem binh đi đánh, chém được vài đầu giặc, bắt mười mấy người, giặc tan chạy. Tống Phước Lương chia sai binh thuyền đi tuần xét, đánh bại quân giặc ở cửa Liêu, bắt được bọn giặc là Nguyễn Văn Thung 7 người và 4 chiếc thuyền. Thế giặc cùng quẫn. Đồ đảng là bọn Lương Kim Ngọc, Trần Thế Dịch đem 2 chiếc thuyền và hơn 70 người thủy thủ vào đầu thú ở Nghệ An. Trấn thần tâu lên. Vua sai tha tội và cho an tháp ở phố Thanh Hà.

(1810) Cho Khâm sai cai cơ Phạm Văn Tường và Nguyễn Văn Hạnh làm Khâm sai chưởng cơ. Sai Nguyễn Văn Hạnh suất 500 thủy quân, 20 chiến thuyền đi đóng thú ở đồn thủy Nông Giang thuộc Bắc Thành, kiêm chưởng bốn dực cơ. Thành thần thấy chiến thuyền ở thành, lâu năm mục nát, tâu xin cấp thêm cho thuyền kinh, sai một người chưởng Thủy quân quản lãnh, để phòng khi trưng phát, cho nên có mệnh này. Gặp giặc biển Tề Ngôi là bọn Ô Thạch Nhị, Đông Hải Bát, Lý A Thất bị Tổng đốc Lưỡng Quảng nước Thanh đuổi riết, phải trốn ra mặt biển thuộc bốn phủ Cao, Liêm, Quỳnh, Lôi. Khâm Châu gởi giấy cho Bắc Thành hẹn đem quân ra ngăn chặn. Thành thần đem việc tâu lên. Vua bảo Tống Phước Lương rằng: “Bọn giặc biển lẩn lút ở bãi Bạch Long, chỉ là sống tạm bợ thôi. Nay người Thanh đuổi bắt, ta nên cùng hợp sức để dẹp cho yên
mặt biển. Nhân sai Văn Hạnh đem binh thuyền thẳng tới Vạn Ninh. Thành thần lấy thêm binh thuyền lệ theo sai khiến. Lại thấy Vạn Ninh tiếp liền Khâm Châu, nên có người văn học để làm thư từ đi lại, sai Ngô Khản làm lục sự để giúp công việc từ chương trong quân. Hơn một tháng, bọn Ô Thạch Nhị đều bị quân Thanh bắt hết. Lý á Thất và bè lũ hơn hai chục người cũng đến quân ta đầu hàng. Bèn sai thành thần đưa bọn giặc bắt được ấy sang Khâm Châu. Văn Hạnh rút quân về đóng ở đồn thủy Nông Giang. Triệu Ngô Khản về Kinh sung Hàn lâm viện.

(Lúc này, vì sự xung đột của Liên hiệp Hải tặc, nhóm Tề Ngôi tan rã, về đầu hàng nhà Thanh. 20 năm sau, 1830, một hình thức buôn bán mới xuất hiện khiến cho hoạt động hải tặc rầm rộ trở lại: Buôn lậu nha phiến - sau lệnh cấm của nhà Thanh.)




Vô tích sự
Wednesday, April 27, 2011 Author: Trường An

Người giữ cổng thành nhà Chu một hôm hỏi Lão Tử:

“Tôi nằm mơ thấy một con hổ béo tốt mỡ màng đang mải miết ăn một đống giun dế, nom rất kinh tởm. Chẳng hay đó là cái điềm gì?“.

Lão Tử bảo:

“Đó là cái điềm ông sắp được trông thấy vua…“

Người giữ cổng thành hỏi: “Có thể giải thích rõ hơn được chăng?“.

Lão Tử bảo: “Hổ tuy là chúa sơn lâm, chuyên ăn thịt các loại hươu, nai, cầy, cáo… Song cũng có những con vật nó không thể ăn được như báo, voi, sư tử… Những giống này vì thế cũng không nằm trong vòng cai quản của nó. Nay hổ mà chỉ ăn có giun, dế thì đích thị là vua chúa ở cõi nhân gian này. Giống ‘hổ’ này thà biến tất cả thành giun dế, thà chỉ xơi giun dế, còn hơn tồn tại những giống vật mà nó không thể xơi được, cũng không cai quản được“.

Câu chuyện trên (có vẻ) chẳng ăn nhập gì đến cái đoạn sau này.  Song vì đoạn sau có nhắc đến Lão Tử. Vậy nên chép ra đây cho có vẻ đầu đuôi hình thức một tý. Âu cũng là một cái “Lời tựa“ cho Luận ngữ Tân thư kì này.

Vua nước Vệ bỗng dưng tỏ ra lo lắng việc nước đến nỗi quên cả tắm gội, cũng chẳng thiết gì tới yến tiệc. Một hôm sai người mời Khổng Tử, ngỏ ý muốn Khổng Tử giới thiệu cho một học trò để bổ làm quan coi về công việc giáo dục của nước Vệ. Khổng Tử thấy thế thì cảm động lắm, bèn bảo:

“Khâu này có tới 3000 học trò. Gần trăm người trong số đó đều có thể đảm đương được việc ấy. Chẳng hay nhà vua muốn chọn người như thế nào?“.

Vua Vệ bảo:

“Trên thì sáng được cái ngôi của ta, dưới thì trăm họ thần phục, già trẻ lớn bé, không kẻ nào ra khỏi sự cai quản của ta. Bảo học là phải học, bất kể đúng sai ra sao. Đã học là phải thuộc, bất kể có hiểu hay không. Đã thuộc là phải thi đỗ, bất kể kiến thức thế nào… Liệu có ai làm được như vậy chăng?“.

Khổng Tử vẫn thăm dò: “Chẳng hay nhà vua muốn làm sáng dân hay muốn cho dân tối tăm, mờ mịt đi?“.

Vua Vệ bảo: “Ngài vẫn được thiên hạ tôn là Thánh nhân, vậy mà còn phải hỏi câu ấy sao? Giả sử nếu sáng dân mà ngôi vua của ta vẫn được vững bền, vẫn truyền được đến muôn đời con cháu sau này thì ta cũng đâu có tiếc gì…“.

Khổng Tử tỏ ra hiểu ý bèn nhận lời rồi lui trở ra. Về đến nhà, trước tiên Ngài gọi Nhan Hồi tới hỏi:

“Này anh Hồi. Nếu giao cho anh phụ trách công việc giáo dục của một nước, anh sẽ theo học thuyết của ai?“

Nhan Hồi trả lời: “Cố nhiên Hồi này sẽ theo học thuyết của Phu Tử. Chung quy có một chữ ‘minh’ mà thôi. Nghĩa là luôn luôn nghĩ đến việc làm sáng dân, mới dân…“

Khổng Tử thở dài bảo:

“Sáng dân lợi cho nước, song không lợi cho ngôi vua. Thế thì đừng hòng người ta cho anh làm quan. Không những thế, kẻ làm thầy mà luôn nghĩ đến việc sáng dân tất sẽ nghèo kiết xác. Như vậy sẽ chẳng ai thèm làm thầy. Huống chi đối với cái chính trị của nước Vệ kia, thì dẫu có mười người như anh cũng vô tích sự mà thôi“.

Nhan Hồi ra. Tăng Tử bước vào. Khổng Tử hỏi:

“Này anh Sâm. Nếu giao cho anh phụ trách công việc giáo dục của một nước, anh sẽ theo học thuyết của ai?“.

Tăng Tử trả lời: “Cố nhiên Sâm này cũng sẽ theo học thuyết của Phu Tử. Chung quy có một chữ  ‘hiếu’ mà thôi. Nghĩa là dạy mọi người phải sống sao cho tròn với đạo ‘hiếu’…“

Khổng Tử trầm ngâm bảo:

“Chữ ‘hiếu’ dẫu bao trùm tất cả. Song người nước Vệ xưa nay vốn luôn tự coi mình là ‘hiếu’ nhất thiên hạ rồi. Lúc nào cũng lôi truyền thống ông cha ra để ‘phát huy’. Đến nỗi đình chùa cũng có thể biến thành chỗ nuôi lợn, kẻ cướp cũng có thể được phong anh hùng… Thế mà anh còn đòi đem đạo ‘hiếu’ ra giảng giải thì có khác nào chửi vào mặt người ta. Như vậy sẽ chẳng ai thèm làm học trò. Huống chi đối với cái chính trị của nước Vệ kia, thì dẫu có trăm người như anh cũng vô tích sự mà thôi“.

Tăng Tử ra. Tử Hạ bước vào. Khổng Tử hỏi:

“Này anh Bốc. Nếu giao cho anh phụ trách công việc giáo dục của một nước, anh sẽ theo học thuyết của ai?“

Tử Hạ trả lời:

“Cố nhiên Bốc Thương này cũng sẽ theo học thuyết của Phu Tử. Chung quy có một chữ ‘thi’ mà thôi. Nghĩa là sao cho mọi người ai cũng biết yêu văn chương, chữ nghĩa, hiểu được những nghĩa lý sâu xa của Kinh Thi…“

Khổng Tử cười bảo:

“Người nước Vệ xưa nay đi đâu cũng tự hào mình là một nước văn hiến. Làm ra của cải thì chẳng có mấy ai, song bọn bồi bút làm những nghề văn, thơ, nhạc, họa thì đông không kể xiết. Trải đã mấy đời như thế, đầu óc mọi người đều chật ních những thứ dối trá, giả nhân giả nghĩa cả rồi. Thế mà anh còn đòi mang Kinh Thi ra giảng thì có khác gì đàn gảy tai trâu, hỏi còn nhét vào chỗ nào được nữa? Huống chi đối với cái chính trị của nước Vệ kia, thì dẫu có nghìn người như anh cũng vô tích sự mà thôi“.

Tử Hạ ra. Tử Cống bước vào, Khổng Tử hỏi:

“À anh Tứ? Anh có tiếng là một người giỏi buôn bán. Vậy nếu giao cho anh phụ trách công việc giáo dục của một nước, anh sẽ theo học thuyết của ai?“

Tử Cống trả lời:

“Tứ này chỉ nhớ được mỗi câu của Lão Tử: ‘Thiện nhân giả bất thiện nhân chi sư / Bất thiện nhân giả, thiện nhân chi tư’ (nghĩa là người lành là thầy của kẻ ngu. Kẻ ngu là của cải của người lành). Chung quy phải làm sao cho thiên hạ càng ngu càng tốt. Khi đó, chẳng những luôn vừa ý đấng Chí tôn, mà những kẻ làm thầy cũng tha hồ kiếm được nhiều của cải… Vậy Tứ tôi xin theo học thuyết của Lão Tử…“

Khổng Tử vừa nghe đến đó bỗng tỏ ra mừng rỡ. Ngài bảo với Tử Cống:

“Té ra anh ở trong cửa ta mà vẫn lén lút đọc sách của cái lão già gàn dở người nhà Chu ấy đấy. Điều lão nói là nói cho mãi những đời sau này. Song nếu đem áp dụng vào đời bây giờ tưởng cũng chẳng hại gì, miễn sao được vinh thân phì gia thì thôi. Tất nhiên giáo dục mà theo cái triết lý ấy thì những kẻ làm thầy sẽ được thể mà nghĩ ra trăm phương ngàn kế để làm giàu. Than ôi! cái ‘đạo’ làm thầy, ta chưa kịp hoàn thiện nó thì nó đã hỏng sẵn từ trước đó rồi. Giờ ta mới biết, đối với cái chính trị của nước Vệ kia, đến ta còn vô tích sự, huống chi những kẻ vừa hăng hái lại vừa nông nổi như các ngươi. Thì ra vua Vệ nói thế chẳng qua là muốn đuổi khéo ta ra khỏi địa giới nước Vệ đấy thôi“.

Nói xong, Ngài bèn bảo các học trò thu xếp để nhanh chóng rời khỏi nước Vệ.

Quả nhiên khi nghe tin thầy trò Khổng Tử đã bỏ đi, Vua Vệ hết sức mừng rỡ, lập tức trút hết mọi lo lắng, lại tiếp tục lao vào yến tiệc như cũ…

Nhân chuyện đó mà càng những đời sau, các nhà phụ trách công việc giáo dục trong thiên hạ càng thích bắt chước cái triết lý giáo dục ấy của Tử Cống.

Trích "Luận Ngữ tân thư" của Phạm Lưu Vũ




Giai thoại
Thursday, March 10, 2011 Author: Trường An

Khi chúa Nguyễn Ánh còn bôn ba gian nan ở miền Nam lẩn tránh quân Tây Sơn, có thể nói địa phương nào có dấu chân ông đi qua, kể cả đường sông, đường biển, hầu như nơi đó đều có để lại những dấu ấn tình cảm vô cùng sâu đậm. Từ phường ăn mày, người bần nông cùng khổ, đến thày tu hoặc những tay cự phú gạo tiền nứt đố đổ vách… ai ai cũng thể hiện tinh thần hào hiệp với chúa. Cũng có không ít anh hùng hào kiệt sẵn trong tay hàng trăm, hàng ngàn quân gia, đầy quyền thế khi nghe biết chúa sa cơ, khổ sở đều dẫn quân theo về, kể cả lãnh tụ “người dân tộc” cũng tự nguyện đến xin phò tá, rất mực trung thành. Chung nhất, đó chính là sự cảm thông, là tấm lòng, là thói nết “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” của người lưu dân trên vùng đất phương Nam.

Nhờ vào ý chí, sức chịu đựng, sự kiên trì cộng cùng các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” nên cuối cùng chúa Nguyễn Ánh – Gia Long đã khôi phục ngai vàng, giang san thu về một mối.

Dưới đây xin ghi lại một số dấu ấn trên vùng đất phương Nam dưới thời nhà Nguyễn, mà chủ yếu là thời Nguyễn Ánh tránh Tây Sơn.

1. Với loài vật.

Cá sấu, rắn biển cản thuyền ngự chúa.

Quốc triều chánh biên toát yếu chép, mùa đông năm Bính Thân (1764), “Ngài [Nguyễn Ánh] muốn nhơn ban đêm qua biển để tránh giặc, có cá sấu đón ngang trước thuyền ba lần, rồi Ngài không đi; sáng ngày dò biết đêm ấy có thuyền giặc đón đàng trước”.

Cũng như thế đó, “Tháng 4 năm Tân Sửu (1781), Ngài ngự vào Hà Tiên, đi thuyền nhỏ ra biển, đêm tối quá, không biết đường đi, tựa hồ có vật chi đội dưới đáy thuyền, mờ sáng mới biết là một bầy rắn. Các người tùng thần ai cũng sợ hãi. Ngài giục đi cho mau, một chặp bầy rắn đi hết, rồi thuyền ngự đi ra cù lao Phú Quốc”.

Cá ông cứu Nguyễn Ánh, Nguyễn Ánh nhớ ơn cứu tử, phong chức. Trong một cuộc giao chiến với Tây Sơn tại Bình Thuận (Phan Thiết), Nguyễn Ánh thua phải thu góp tàn quân xuống thuyền mở đường máu chạy về phía Nam. Trong lúc quân Tây Sơn truy đuổi rất rát ở phía sau thì trước mặt mây trời đen nghịt, đến sông Soi Rạp (Gò Công) thì giông bão nổi lên dữ dội. Tình thế thập phần nguy kịch, Nguyễn Ánh ngửa mặt lên trời mà khấn: “Nếu lòng trời còn tựa nhà Nguyễn, xin phò hộ Nguyễn Ánh này thoát qua cơn thập tử nhứt sinh!”. Cơn sóng lại nổi lên dữ dội thêm, các thuyền Tây Sơn rượt theo gần kịp thì bị gió thổi gãy cột buồm, văng bánh lái, thuyền xoay vòng rồi lật úp. Quân Tây Sơn đang thắng hóa bại, Nguyễn Ánh sắp lâm nguy thì được vững an, từ dưới nước nổi lên một cặp cá ong kẹp hai bên mạn thuyền đưa vào bờ, nhằm địa phận Vàm Làng, tổng Kiểng Phước, Gò Công.

Sau khi lên ngôi, Gia Long không quên công cứu giá, bèn phong cho cá ong tước Nam Hải đại tướng quân, đồng thời gửi cho mỗi làng duyên hải gần nơi chiến thuyền ông đã cập bến ngày trước một bằng sắc phong thần, với lệnh xây cất một đình thần để thờ phụng cá ong, mỗi năm đến mùa lo cúng tế.

Một loài cá nhỏ cứu chúa Nguyễn Ánh thoát nạn: Cá Linh

Ông Vương Hồng Sển tìm thấy trong một tư liệu bằng tiếng Pháp Excursious et Reconnaissances, q. X, tháng 6/1885, tr. 178: Nguyễn Ánh từ Vàm Nao [con sông nối Tiền Giang với Hậu Giang ở An Giang] định ra biển nhưng vì thấy có nhiều cá nhỏ tự nhiên nhảy vào thuyền, người sanh nghi nên không đi, sau rõ lại nếu đi thì khốn vì có binh phục của Tây Sơn tại Thủ Chiến Sai [Chợ Thủ, ngang đầu Cù lao Giêng, nay thuộc huyện Chợ Mới], vì vậy người [Nguyễn Ánh] đặt tên (cá ấy) là cá linh để tri ân.

Chim báo điềm, thầy tu đoán chuyện kiết/hung rồi cho lời khuyên, Nguyễn Ánh nghe theo nên thoát chết

Theo Huỳnh Minh Định Tường xưa, khoảng năm ất Tỵ (1775), chúa Nguyễn Ánh tránh mặt Tây Sơn chạy vào Nam, xuống tới Định Tường. Náu mình trong bộ y phục dân dã, Ngài cùng với năm sáu vị quan theo hầu đến xin tá túc nơi chùa Long Tuyền. Mặc dầu không rõ Ngài là ai, nhưng Hòa thượng trụ trì cũng sẵn lòng thương cảm bao dung, vì cửa chùa vốn chẳng hẹp ai, gặp khi chúa Nguyễn đau yếu, Hòa thượng cũng tự tay chẩn mạch hốt thuốc điều trị rất tận tình.
Một đêm có chim linh bay vần vũ quanh chùa, kêu la inh ỏi mãi dường báo điềm gì. Thấy lạ, Hòa thượng đánh tay xem điều hung kiết thế nào. Đoán biết sẽ có sự chẳng lành cho khách lạ phương xa, Hòa thượng ngậm ngùi bảo chúa Nguyễn:
- Quý khách nên xa lánh chốn này, ở lâu ắt có chuyện chẳng lành xảy ra.
Vua nghe theo. Thế là thoát được sự truy lùng của quân Tây Sơn.

Sau khi lên ngôi Hoàng đế Gia Long, nhớ công ơn Hòa thượng chùa Long Tuyền, năm Gia Long thứ 10 (Tân Tỵ, 1811), nhà vua ngự tứ tên chùa là Long Nguyên (bãi đất rồng), thay cho tên cũ chùa là Long Tuyền (suối rồng), đồng thời cấp một số ruộng đất mấy mươi mẫu để chùa làm hương hỏa, và cho quân lính gìn giữ ngôi chùa, kể như “chùa vua”, (Sau, đến đời Thiệu Trị đổi tên chùa là Linh Thứu).

Đại Nam nhất thống chí chép về ngôi chùa Linh Thứu: “ở thôn Thịnh Phú, huyện Kiến Hưng, chùa rất cổ, cũng là nơi danh thắng, năm Gia Long thứ 10 ban biển ngạch đề “Long Tuyền tự”, năm thứ 11 sư chùa mộ 10 người dân ngoại tịch đặt làm phu chùa, được miễn binh dao, năm Thiệu Trị thứ 1, đổi tên hiện nay”.

2. Với cây cỏ

Hai loài cây miền Nam được Nguyễn Ánh ban mỹ danh, trong đó có một loại cây triều đình xem như “Quốc dụng”

Cây bần

Chuyện kể rằng có lần Nguyễn Ánh chạy nạn theo đường biển (ngã Ba Tri) vào Hàm Long (sau do kỵ húy Gia Long, nên đổi gọi Hàm Luông). Nửa đêm đi lạc vào rạch Ba Lai (Cái Mít), dừng chân ở đồng Tam Quản (xã Hiệp Hưng, Giồng Trôm), chúa được một cụ già tên là Trương Tấn Khương giúp đỡ đưa ra Cù lao Đất đến nơi an toàn, kín đáo. Tại nơi ẩn trốn, vì đang đêm lại nhà nghèo nên gia đình ông Trần Văn Hạc (làm chức Cai nên cũng gọi Cai Hạc) dâng lên bữa ăn đạm bạc đỡ đói: cơm nguội ăn với mắm sống cá chốt cặp trái bần. Có lẽ do đói lại lần đầu tiên được dùng món lạ miệng nên chúa khen ngon, và hỏi tên trái. Ông Cai Hạc bẩm: “Trái ấy tên không đẹp, hạ dân không dám tâu lên”. Chúa cho phép nói. Cai Hạc chỉ vào rặng cây cặp mé nước được chiếu sáng bởi không biết cơ man nào là con đom đóm, và thưa là trái bần, nhân đó nói thêm vài đặc điểm của nó như, cho dù có bị ngập mặn cây bần vẫn không héo lá, vẫn kiên cường giữ đất (chống xói lở)… Thấy dáng cây giống như cây liễu trong thi phú đời Đường, đời Tống, sống trên đất thấp, bãi bùn nên chúa ban cho cây bần mỹ danh là thủy liễu – loại liễu mọc dưới nước.

Cây mù u

Cũng như thế đó, Nguyễn Ánh đã ban cho cây mù u là nam mai (cây mai phương nam – chép trong sự tích Gia Long tẩu quốc). Năm Kỷ Tỵ, Bộ Hộ tâu: “Kế hoạch 10 năm không gì bằng trồng cây, vì vậy xin sức đều khắp trong các hạt phải tận dụng đất mà trồng thật nhiều những loại cây có kinh tế cao. Sau 5 năm, 10 năm, đi kiểm tra, địa phương nào trồng được nhiều thì nghị thưởng xứng đáng” (Đại Nam thực lục), đồng thời cho chọn một trong những cây kinh tế cao ấy là cây mù u, để trước hết như một cách nhắc nhớ kỷ niệm tiên vương (Gia Long) thời còn bôn ba lận đận ở miền Nam, Ngài đã ban cho mù u mỹ danh là nam mai, đồng thời khuyến dụ rằng, trồng nam mai để có cây cao bóng mát cũng đem lại nhiều lợi ích nhất định, do đó nhà vua cho trồng ngay hai bên đường vào miếu thờ xã tắc để phát động, làm gương.

3. Về cơm ăn, nước uống

Nguyễn Ánh và những người hộ giá lênh đênh giữa biển, nhịn khát 7 ngày đêm, trời động lòng liền cho nước ngọt.

Tháng 7 năm Quý Mão (1783), “Ngài ra cửa biển Ma Ly thám tình thế giặc, gặp thuyền giặc hơn 20 chiếc vụt tới vây sát thuyền ngự, thuyền ngự kéo buồm chạy về phía đông, lênh đênh ngoài biển 7 ngày đêm, trong thuyền hết nước, quân lính đều khát, Ngài lấy làm lo, ngữa mặt lên trời khấn rằng: Như tôi có mạng làm vua, xin cho thuyền ghé vào trong bờ để cứu tánh mạng mấy người trong thuyền! Nếu không, thời thuyền chìm xuống biển, tôi cũng cam tâm”. Rồi thời gió lặng sóng im, đứng trước thuyền ngó thấy mặt nước tự nhiên chia ra dòng trắng dòng đen, thấy có một vùng nước trong, trong thuyền có một người múc uống, nếm thấy ngọt, liền la to lên rằng: “Nước ngọt! Nước ngọt!”. Lúc bấy giờ ai cũng giành nhau múc uống. Ngài mừng, khiến múc 4, 5 chum, rồi nước mặn lại y như trước. Khi giặc đã lui rồi, thuyền ngự lại trở về Phú Quốc. Bà Quốc mẫu nghe Ngài về, mừng quá. Ngài thuật lại những tình trạng khổ sở khi ở biển, Bà Quốc mẫu than rằng: “Con đi khắp chân trời mặt biển, nhiều lúc gian nan; nhưng ở núi thời gặp gió lớn, ở biển thời gặp nước ngọt, coi đó cũng đủ biết ý trời, con đừng lấy gian hiểm mà ngã lòng!”. Ngài lạy tạ rằng: “Xin vâng lời mẹ dạy”. Ngài tuy còn dưỡng hối (chịu ở một nơi mà đợi thời vận) mà gió núi nước ngọt, ứng nhiều điềm tốt, thức giả ai cũng biết là có mạng làm vua.

Nam kỳ dâng thổ sản lên vua Tự Đức

Quốc triều chánh biên toát yếu chép, tháng 7 năm Tân Mùi (1871) Chánh tổng Trần Văn Y ở tỉnh Hà Tiên khiến người đem đồ sản vật (chiếu bông, mật ong, sáp, nước mắm, cá khô, lông chim v.v.) nhờ đạo Phú Yên dâng lên. Ngài dạy rằng: “Lòng dân như thế, thiệt bởi đức trạch triều đình đã sâu”. Ngài nhân làm bài phú Nam kỳ thổ sản.

4. Nhân dân che chở, giúp đỡ

Nguyễn Ánh thoát nạn nhờ bọn ăn mày, bèn nhớ ơn.

Theo Vương Hồng Sển kể trong Sài Gòn năm xưa, vùng đất từ làng Nhơn Giang (trước 1855 tên Nhơn Ngãi, vùng Chợ Quán) đến giáp đường Cầu Kho, xưa kia nhà phố đông đúc lắm, mỗi nhà chung quanh đều có vườn tược, cây trái sum sê. Gần đây có một xóm nguyên là của những người ăn xin ăn mày khi trước. Thuở Nguyễn Ánh tỵ nạn trong Nam, bọn này có công cứu giá. Theo khẩu truyền, bữa đó binh Tây Sơn truy nã ngặt lắm. Tưởng vua khó thoát chết. May sao chạy đến đây, bọn ăn mày ra tay ủng hộ. Một mặt họ chỉ đường cho vua ẩn núp. Một mặt họ xúm lại kẻ đánh trống, đứa đập thùng… làm phở lở thế nào, binh tướng Tây Sơn ngộ tưởng binh mã chúa Nguyễn tụ tập nơi đây đông lắm, e quả bất địch chúng, nên họ rút lui. Nguyễn Ánh thoát nạn. Về sau nhớ ơn xưa, Gia Long cho phép lập xóm này, ban cho ba chữ: “Tân Lộc phường” (phường là xóm).

5. Với người Khơme

Người Khơme tòng quân theo về và tuyệt đối trung thành chúa Nguyễn

Đó là Tồn A La, Thống quản đồn Uy/Oai viễn (ở bờ phía đông sông Trà Ôn, thuộc huyện Tuân Nghĩa, đặt từ năm Kỷ Hợi đầu đời trung hưng, sau đổi làm lỵ sở phủ Lạc Hóa – Trà Vinh nay), “vốn người Cao Mên, đầu đời trung hưng thường theo đi đánh dẹp, có công theo đi Vọng Các, quản đồn binh Xiêm La, kiêm quản hai phủ Trà Vinh, Mân Thít”, do lập được nhiều công to, được chúa Nguyễn Ánh tin yêu nên ban cho tên Việt là Nguyễn Văn Tồn, lãnh coi khoảng 5.000 quân hầu hết là người Khơ me (đều được ban cho y phục như người Việt). Ông mất tháng giêng năm Canh Thìn (1820). Khi ấy, vua Minh Mạng truyền dụ Bộ Lễ rằng: “Nguyễn Văn Tồn tuy là người khác, nhưng hết sức làm tôi, thờ Đức tiên đế đã lâu, một lòng trung nghĩa, thiệt nên thương tiếc!”. Truyền quan tuyên lời dụ, Ngài cho ân tế một lần và cho 2 cây gấm Tàu, 20 cây vải, 200 quan tiền. (Sau đến năm Minh Mạng thứ 9 Tồn được tặng hàm Thống chế). Đức Thánh tổ bảo Bộ Lễ rằng: “Người Tồn vốn trung dõng, như ngươi Kim Mật Đê nhà Hán bên Tàu, khi trận đánh ở tỉnh Bình Định bị Tây Sơn bắt, thế mà đem quân về hết, thiệt là mạnh và khôn”.

Vẫn theo Quốc triều chánh biên toát yếu, vào tháng 4 năm Tân dậu (1801), chúa Nguyễn Ánh đòi các vệ hậu quân về Kinh, lưu Nguyễn Văn Tồn ở quân thứ đánh giặc. Lúc trước, thành Bình Định bị hãm, Tồn bị giặc bắt, Tồn giả đò hết sức giúp giặc đánh mình, quân mình kêu mà Tồn không ngó lại, giặc lấy làm tin, đến bây giờ lén trốn về. Có người hỏi Tồn rằng: “Khi đi theo giặc sao mà đánh dữ thế?”. Tồn nói: “Như không làm cho quân ta bị thương, thời giặc không tin, nó đã không tin làm sao đem hết quân lính mà về được?”. Ai cũng phục là có trí.

Nhớ ơn che chở và cảm thông cuộc sống cơ cực của đồng bào, Nguyễn Ánh truyền dụ: Cho người Khơme được tự do khai thác thuỷ lợi, không thâu thuế.

Theo Quốc triều chánh biên toát yếu, tháng giêng năm Đinh sửu (1817), vua Gia Long ban dụ: “Cấm dân ta không được lãnh mua các chỗ thủy lợi của Chân Lạp”. Do tuân thủ lời dụ đặc ân này mà Tri huyện Trà Vinh Thủ Khoa Nghĩa phải chịu oan án Láng Thé. Chúng ta còn nhớ, lúc bấy giờ ở Láng Thé (Trà Vinh) có một bọn người hối lộ với quan trên giành độc quyền khai thác tôm cá dưới rạch. Người Khơme không chài lưới được nên ức lòng đệ đơn khiếu nại lên huyện, nhờ can thiệp. Tri huyện Bùi Hữu Nghĩa điều tra, nắm chắc vấn đề, bèn nói: “Việc tha thủy lợi là ân nghĩa cuả vua Thế Tổ. Nay ai nhỏ hơn Ngài mà đứng bán Láng Thé thì có chém đầu cũng không sao”. Rồi cho phép nông dân Khơme được tiếp tục chài lưới tự do như trước, mà không phải đóng thuế thủy lợi cho bất kỳ ai. Bọn người kia ỷ quyền thế đánh đập họ. Hai bên xô xát gây đổ máu. Sẵn ghét tính kiêu hãnh cương trực của Bùi, quan tỉnh cho lính đến bắt ông về tỉnh đường xét xử. Bùi bị khép tội chủ mưu để dân làm loạn, bèn thượng sớ xin cách chức ông rồi kết án trảm giam hậu. Theo lệ định, tội này không chém liền, phải ngồi tù, đợi lịnh vua phê chuẩn vào mỗi mùa thu hàng năm (gọi thu thẩm). Do đó, để tranh thủ đòi lại mạng sống cho chồng, theo lời truyên, vợ ông là bà Nguyễn Thị Tồn đến tỉnh van xin, không được, nên tức tốc lặn lội tận kinh sư “gióng trống tam tòa” thượng sớ kêu oan. Nhờ đó ông thoát chết, nhưng phải theo quân tiền hiệu lực, đái công chuộc tội ở vùng biên giới tỉnh An Giang.

Nhà vua cho lập đàn tế chiến sĩ tử trận, đặc biệt ưu ái tử sĩ miền Nam

Quốc triều chánh biên toát yếu ghi: “Tháng 7 năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mạng cho lập hai đàn tế chiến sĩ Nam, Bắc, tử trận (nhưng tế Nam chiến sĩ thời lễ phẩm trọng hơn)”.

6. Một số sơn danh, địa danh, thuỷ danh lịch sử

Nhân dân đặt gọi một số sơn danh, địa danh, thuỷ danh… để ghi nhớ kỷ niệm nơi Nguyễn Ánh từng dặt chân đến trong thời gian còn lẩn tránh quân Tây Sơn.

Núi Cấm:

Là ngọn núi tiêu biểu vùng Thất Sơn (An Giang – cao nhất, và có nhiều huyền thoại nhất). Ngay tên gọi của nó cũng được xây dựng thành một truyền thuyết, rằng ngày trước Nguyễn Ánh có đến lẩn trốn trên núi này, do vậy có tên là núi Cấm (đoàn hộ giá cấm bất kỳ ai léo hánh khu vực này, và canh phòng rất nghiêm ngặt, sợ bị đối phương phát hiện).

Địa danh Giá Ngự:

Ấp Giá Ngự thuộc xã Tân Hưng Đông (Cà Mau). Xưa, Nguyễn Ánh từ rạch Cái Rắn ra biển phải qua rạch Rau Giừa, tới rạch Cái Nước, rồi đổ ra sông Bãi Háp mới ra Vịnh Xiêm La (đi ngả này thì không phải qua sông Ông Đốc). Trên đường, Nguyễn Ánh có dừng lại tại một nơi thuộc hữu ngạn sông Bãi Háp, ở chỗ vàm rạch Cái Nước đổ ra để cụ bị thêm lương thực, nhưng do nhằm lúc mưa bão, cuộc hành trình đành phải dừng lại khoảng nửa tháng. Khi Nguyễn Ánh đi rồi, người trong vùng gọi nơi đây là xóm Giá Ngự, sau nâng lên thành ấp, vẫn dùng tên ấy. (Theo Nguyễn Hữu Hiếu, Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ).

Địa danh Long Hưng và Cây Da Bến Ngự:

Năm Đinh Mùi đầu đời trung h ưng khi Nguyễn Ánh từ Xiêm La trở về đóng quân ở Nước Xoáy (gọi đồn Hồi Oa xây đắp năm Đinh Tỵ 1787, thuộc thôn Tân Long, huyện Vĩnh An, nay thuộc xã Long Hưng, huyện Lấp Vò, Đồng Tháp). Trong thời gian trú ngụ ở đây, ông thường ra ngồi câu cá, hoặc suy nghĩ lo toan việc xây dựng lại cơ đồ tại gốc da sát mé rạch. Sau khi lên ngôi, Gia Long cho đổi tên thôn Tân Long thành thôn Long Hưng và từ đó cây da bên nước chỗ ông ngồi trước đây được dân gian gọi là Cây Da Bến Ngự. Đại Nam nhất thống chí ghi: Năm Tự Đức thứ 2 Tổng đốc Doãn Uẩn tra hỏi sự tích cũ, chuẩn cho lập bia ở nền đồn cũ để ghi thắng tích.

Rạch Long Ẩn và Ao Ngự:

Tên trước rạch Long Ẩn là Rạch Rắn, một nhánh của sông Bảy Háp, dài chừng 7 cây số, rộng 30 thước, ngọn ăn thông tới xóm Ông Tự, thuộc xã Phong Lạc (Cà Mau) bằng một con kinh đào.

Tương truyền, lúc Nguyễn Ánh bị Tây Sơn truy đuổi, có một thời ông lẩn trốn ở đây, nên sau này dân địa phương gọi nơi đây là rạch Long Ẩn.

Khi bị bao vây, nhờ có đô đốc Nguyễn Văn Vàng “liều mình cứu chúa” nên Nguyễn Ánh mới trốn thoát được. Trong thời gian ở đây, Nguyễn Ánh đã cho binh sĩ đào đất đắp một cái nền cao để dựng trại (kế bên Xóm Rắn hiện nay), và đào một cái ao đường kính khoảng 15 thước để lấy nước sinh hoạt. Ngày nay, nền trại đã bị dân ban ra làm ruộng, song cái ao vẫn còn, nước ngọt quanh năm, được gọi là Ao Ngự.

Nhà vua/nhà nước đặt gọi sơn danh, thuỷ danh, địa danh.

Kinh Thoại Hà

Sách Đại Nam nhất thống chí ghi kinh này ở bờ phía tây sông Hậu Giang, cách huyện Tây Xuyên 63 dặm về phía đông nam, trước gọi là sông Ba Rạch, từ Hậu Giang chia ra chảy về phía tây nam 4 dặm rưỡi đến ngã ba hợp với sông Cần Đăng, lại chảy về phía tây nam 59 dặm đến cửa sông Lạc Dục, từ đây chảy về phía nam 57 dặm rưỡi đến sông Song Khê, gần đất Chân Lạp, cây cỏ um tùm, đường sông lầy lội, thuyền ghe không đi được. Năm Gia Long thứ 17 sai Trấn thủ Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thoại sửa sang đường thủy, bắt người kinh, người thổ 1.500 người, nhân đường cũ mà đào vét cho sâu rộng, hơn một tháng thì xong, từ đấy mới có đường thông với Kiên Giang, rất là tiện lợi. Cho gọi tên sông là “Thoại Hà” để biểu dương công lao của Nguyễn Văn Thoại.

Núi Thoại Sơn – huyện Thoại Sơn
Theo Đại Nam nhất thống chí, núi ở cách huyện Tây Xuyên 71 dặm về phía nam, cao 20 trượng, chu vi 11 dăm rưỡi, tục gọi núi Lấp. Năm Gia Long thứ 17, Trấn thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Thoại sửa sang sông Thoại Hà, công việc xong, vẽ đồ bản dâng lên, nhà vua thấy bờ đông bắc sông có núi Lấp (tức núi Sập), cho đổi tên gọi là Thoại Sơn để nêu công lao của Nguyễn Văn Thoại; ông dựng đền thờ thần ở chân núi và lập bia, khắc hai chữ lớn “Thoại Sơn”. Từ sơn danh ấy, nay trở thành địa danh: huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Trở lên tuy chỉ là “một vài” trong vô số sự kiện/truyền thuyết có liên quan, nhưng thiết tưởng bấy nhiêu đó cũng quá đủ để minh chứng cái tình, cái nghĩa của người miền Nam đối với chúa Nguyễn, và tất nhiên cái tinh thần đạo nghĩa ấy, Nguyễn Ánh và dòng tộc ông không thể không đời đời lưu tâm, tạc dạ.

Nguyễn Hữu Hiệp* Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam.




Phụ nữ Việt
Monday, November 22, 2010 Author: Trường An

Phụ nữ Tây Phương nhìn phụ nữ Việt Nam 100 năm trước

Bài dịch dưới đây là Chương VIII, trong quyển On & Off Duty in Annam của Gabrielle M. Vassal, được xuất bản tại Luân Đôn năm 1910. Tác giả là một phụ nữ người Anh, theo chồng là một bác sĩ quân y người Pháp sang phục vụ tại Viện Pasteur ở Nha Trang hồi đầu thế kỷ thứ 20. Bài viết vì thế có giá trị như một cái nhìn hiếm có của một phụ nữ Tây Phương đối với phụ nữ Việt Nam gần 100 năm trước đây, với nhiều nhận xét thú vị.



Theo luật pháp An Nam, có nhật kỳ sớm hơn Bộ Dân Luật nước Pháp, một người đàn bà thì bình đẳng với người chồng. Luật có nói rõ ràng như thế, “người vợ thì bình đẳng”; nhưng trong thực tế điều này không hoàn toàn đúng.

Người đàn bà An Nam khi lập gia đình không nhất thiết phải dùng tên của người chồng, mà còn có thể giữ tên riêng của mình.

Tại An Nam, giống như tại Trung Hoa, hôn thú được xem là một vấn đề rất quan trọng không thể nào được phó mặc cho các sự may rủi của sở thích hay tình yêu. Nó là công việc mà cha mẹ phải sắp xếp và giải quyết mọi việc, thường không có tham khảo với các nhân vật có liên hệ mật thiết nhất. Có lý do tốt cho tập tục này. Hôn thú xảy ra ở tuổi rất sớm. Sự cố vấn chắc chắn là cần thiết cho lứa tuổi mười bốn và mười sáu; và tuổi có thể lập gia đình của con trai là mười sáu, và cho con gái là mười bốn. Theo cách tính của người An Nam, các tuổi này trong thực tế còn thấp hơn nhiều, bởi một trẻ sơ sinh được tính là một tuổi vào lúc sinh ra, và hai tuổi ở Tết gần nhất, năm mới của người An Nam.

Tuy nhiên, thời kỳ hứa hôn kéo dài lại được chấp nhận. Sự hứa hôn cấu thành khế ước pháp lý đầu tiên. Nó được kết thúc ngay vào lúc người hôn thê chấp nhận các lễ vật. Nếu người thanh niên phá bỏ sự hứa hôn, anh ta sẽ mất lễ vật mà anh ta đã trao cho người hôn thế. Nếu người con gái là kẻ hồi hôn, cô ta có thể bị khiếu nại bởi người hôn phu đầu tiên, dù rằng sẽ lấy một người nào khác.

Các cuộc hôn nhân với thân nhân liên hệ huyết thống sẽ bị trừng phạt với sự nghiêm khắc nặng nề nhất. Thí dụ, một người đàn ông lấy bà cô của mình sẽ tức thời bị chém đầu. Anh ta có thể cưới chị em của người vợ đã từ trần, điều mang vẻ đủ tự nhiên đối với mọi quốc gia Tây Phương, trừ Anh Quốc là nước cũng chỉ tìm cách thông qua một Đạo Luật tán thành việc đó. Anh ta còn được phép lựa chọn các người vợ trong số các chị em của người vợ đầu tiên. Ngược lại, anh ta có thể phải bị bản án treo cổ nếu anh ta cưới bà vợ góa của anh em trai.

Mọi loại kết hôn hỗn tạp đều bị ngăn cấm bởi vì chúng có thể làm đảo lộn căn bản hệ cấp của gia đình. Thẩm quyền nguyên sơ của người chồng không bao giờ được đặt thành câu hỏi.

Nếu người An Nam, với bản chất nghi ngờ và dè dặt, đã không gán tầm quan trọng lớn lao cho các nghi lễ và giáo lý Phật Giáo, ít nhất họ biểu lộ một sự tôn kính sâu xa với tất cả những gì liên quan đến tục thờ cúng tổ tiên. Từ đó đưa đến sự kiện rằng thẩm quyền và truyền thống của người cha cấu thành các nguyên tắc nền tảng của gia đình. Tại mỗi nhà đều có một bàn thờ và một thày tế, nhưng chỉ có người đàn ông mới hội đủ điều kiện để cử hành lễ. Đây là nguồn gốc của một sự bất bình đẳng xã hội to lớn. Điều thường xảy ra y như tại các xứ sở khác, người đàn ông đã tìm cách vận dụng tôn giáo để gia tăng các đặc quyền của mình.

Sự ra đời của một đứa con trai không chỉ ban cấp một lộc trời trên một con người An Nam, y như trên Brahman [giới tăng lữ quý tộc, chú của người dịch] của Ấn Độ, mà nó còn áp đặt trên người đó một bổn phận nghiêm khắc và linh thiêng. Nếu Thiên Nhiên không thuận tiện để ban cho người đó một đứa con trai, luật pháp đã có vô số các phương cách để trợ giúp người đó. Trong thực tế đây là nguyên do trong mọi trường hợp cho tình trạng đa hôn và thừa nhận các con thừa tự. Người vợ không sinh con có thể bị trả về cha mẹ của mình: bà vợ là mẹ của những đứa con gái không thôi có thể bị thế chỗ bởi một bà vợ khác.

Điều thông thường xảy ra ở An Nam cho một người đàn ông chỉ có một đứa con gái là thừa nhận người con rể, như người Do Thái đã làm từ thủa xưa, nhưng với tư cách con rể, không thể bị buộc gánh trách nhiệm cho sự thờ cúng tổ tiên, nên cần phải thừa nhận một đứa con trai thứ nhì sẽ thay cho kẻ đó đứng vai trò làm trưởng gia đình. Trong khi người Trung Hoa có thể lựa chọn người nào mà mình thích trong mục đích này, người An Nam bị giới hạn trong số các cháu trai bên nội và anh em họ của chúng, y như bên Hy Lạp hay Ấn Độ.

Trong vấn đề thừa kế, “phần hương hỏa” bao giờ cũng được dự liệu; điều này tạo thành một loại phần chia theo phần trăm có lợi cho người con trai cả hay đứa con trai nuôi. Sự sắp xếp này được thực hiện, người góa phụ [vẫn] thừa kế tài sản của người chồng. Theo văn từ của luật pháp, các con gái bị loại ra khỏi sự thừa kế, giống như các chị em Trung Hoa của họ, nhưng trong thực tế, có sự phân chia tài sản đồng đều bất kể đến giới tính.

Theo “Dịch Kinh” [chữ Việt trong nguyên bản, chú của người dịch], hôn nhân thì không thể bị tan vỡ. Tuy nhiên, nhiều luật lệ tân tiến hơn có điều khoản dành cho sự ly dị. Có bảy lý do có thể được chấp nhận cho sự ly dị, chỉ khác biệt đôi chút với các điều thịnh hành tại Trung Hoa. Các lý do này gồm: không có con, dâm loạn, trộm cắp, ghen tương, lắm lời, bất kính đối với cha mẹ chồng, và mắc các chứng ác tật không thể chữa trị được như cùi hủi và động kinh phong. Tuy nhiên có những trường hợp ngoại lệ nào đó chứng tỏ sự khôn ngoan và nhân đạo nơi người làm luật. Người đàn ông không thể ly dị vợ một khi họ đã khởi sự đời sống vợ chồng trong sự nghèo khổ và sau này trở nên giàu có; ông ta cũng không thể bỏ vợ nếu người đó không còn giữ quan hệ với người mà bà ta có thể đã có tình cảm.

Không duyên cớ nào được chấp nhận cho sự ngoại tình; với tình trạng phạm pháp quả tang được chứng minh, người chồng được phép giết chết đôi kẻ phạm tội. Thời xa xưa người vợ phạm tội bị mang ra chốn công cộng để bị voi dầy cho đến chết. Bà ta bị trói trong tư thế quỳ gối vào một chiếc cột và bị che phủ bởi lớp màn đen. Con voi khi đó sẽ được thả ra, xông đến người đàn bà bất hạnh, và xé xác người đàn bà bằng cặp ngà của nó. Sự trừng phạt sau này được giảm xuống còn là bị đánh chín mươi trượng, và ở thời điểm hiện tại, người đàn ông [được phép] đem bán vợ đi hay ngay cả giữ người đó lại. Tại Đông Dương, các trường hợp trả thù man rợ ngày càng trở nên hiếm hoi hơn, nhưng cách đây không lâu một cặp gian dâm có thể còn được nhìn thấy là bị buộc vào một cái bè cho trôi sông. Họ đôi khi còn bị buộc làm khổ nhau, tay và chân bị trói chặt vào nhau, và miệng của họ được gắn liền bởi việc nhét vào đó các rác rưởi hôi hám. Phong tục ngày nay nhìn nhận sự ly dị với sự đồng ý của hai bên.

Người vợ An Nam được cưới hỏi theo luật về cộng đồng tài sản phu phụ. Chính vì thế người chồng khi mua hay bán đất đai không bao giờ thiếu sót trong việc ghi cả tên người vợ mình. Thôn Xã ghi chép các quyền cá nhân của người vợ trong sổ sách và người mua bán không quên người vợ đó trong các giao dịch quan trọng.

Các lời giáo huấn liên quan đến hôn nhân sẽ được tìm thấy trong “Ly-hi” [Lễ Ký ?, chú của người dịch] hay sách ghi nhớ về các lễ nghi, bắt nguồn từ học thuyết của Khổng Tử.. “Hôn lễ hoàn thành sự hợp nhất giữa hai người có tên khác nhau, trong một cung cách khiến cho họ có thể thờ phụng các tổ tiên đã quá vãng của mình nơi điện thờ của họ và huấn luyện các thế hệ tương lai đi theo các truyền thống của họ.” Do đó chúng ta nhận thấy văn minh An Nam, sau khi vay mượn và hòa trộn với văn minh Trung Hoa trong nhiều thế kỷ, nay có khuynh hướng đi theo một đường lối cổ truyền.

Hôn nhân An Nam, theo Luro [một tác giả người Pháp chuyên về việc huấn luyện các viên chức Pháp sang phục vụ tai Đông Dương, chú của người dịch], là một khế ước tự do giữa các kẻ mong có nó. Đúng hơn, đó là một sự thỏa thuận giữa hai gia đình. Các thẩm quyền công cộng chỉ can thiệp rất ít. Người mai mốI không phải là một quan chức, nhưng ông ta bị trách nhiệm về mặt pháp lý. Các chi tiết của tất cả các nghi thức hôn thú có thể được tìm thấy trong các Bộ Luật của Trung Hoa từ thế kỷ thứ mười hai trước Công Nguyên. Thoạt đầu, nó bao gồm sáu cuộc lễ, nhưng con số này đã được cắt giảm rất nhiều, và ít người tuân hành chúng một cách tận tình.

Người mai mối thường là một người bạn của hai gia đình, nhưng tại các thị trấn lớn, ông ta thường là một người hành nghề chuyên nghiệp, quen biết với nhiều người và rất thông thạo mọi lề nghi. Đàng trai trước hết phái người mai mối đến nhà gái, nơi mà lời cầu hôn sẽ được trình cho cha mẹ, và nếu câu trả lời có tính cách thuận lợi, gia đình thanh niên sẽ chuyển đến họ tên, tuổi, ngày sinh của thanh niên trong một tấm thiệp màu đỏ. Người đại diện cũng nhận được cùng thông tin như thế từ phía nhà cô gái. Khi đó các thày bói được tham khảo để xem hai gia đình và tuổi của hai người có hợp với nhau hay không. Nghi lễ này được bỏ qua nếu các cha mẹ của đôi bên đều rất lo lắng cho cuộc hôn nhân và e sợ một câu trả lời không thuận lợi. Người mai mối ấn định ngày cưới, và cùng lúc, cha mẹ gắng sức bổ sung lễ vật và lời cầu nguyện lên tổ triên của họ. Khi đó các bổn phận của người thanh niên bắt đầu. Theo sau bởi một đám rước của các người quen biết với các thân hào trong thôn xã, người thanh niên sẽ tự mình đến trình diện đúng theo các nghi thức trước gia đình nhà gái và dâng các lễ vật, chẳng hạn như trầu cau, và nhiều thứ khác …Nếu các lễ vật này được chấp nhận, kẻ cầu mong kể từ lúc đó được xem là người con rể. Trong trường hợp các gia đình nghèo, anh ta sau đó sinh sống trong cùng nhà với vị hôn thê. Trong các gia đình giàu có hơn, người thanh niên sẽ trở về nhà riêng của mình, và sẽ không quay lại thăm viếng người hôn thê cho đến ngày được ấn định là ngày hứa hôn.

Đây là lễ nghi lớn thứ nhì. Trong dịp này, một lần nữa anh ta lại dâng trầu cau, cùng các vòng đeo tay, lụa màu, hai cây nến đỏ, hai chén rượu nhỏ, và một con heo quay nhỏ.

Đám rước thì rất vui vẻ và ngoạn mục. Mọi người đều mặc trang phục đẹp đẽ nhất của họ, nhiều người mang theo lọng, các người thổi sáo trình diễn một cách linh hoạt. Khi đến nơi cư ngụ của vị hôn thê, các lễ vật được đặt lên trên bàn thờ, các ngọn nến đỏ được thắp lên, và rượu được đổ ra các chiếc chén. Hai người cha cùng đứng lên và bái lạy trước bàn thờ, kế tiếp là hai bà mẹ. Một bữa tiệc, trong đó mọi chi tiết về nghi thức phải được tôn trọng nghiêm ngặt, kết thúc buổi lễ.

Ngày cưới còn long trọng hơn nữa. Cha của chàng trai tụ tập toàn thể thân nhân của gia đình đứng trước bàn thờ, và ở đó trình diện trước tổ tiên đứa con sắp đi lập gia đình. Sau đó, lần thứ ba chàng trai sẽ tiến bước đến nhà vị hôn thê. Chàng ta được dẫn đường bởi các gia nhân bưng quà cưới và bao quanh bởi đám đông bè bạn và thân nhân. Sau một sự chào hỏi ngoài trời, mọi người sẽ tiến vào trong nhà và quây quần quanh bàn thờ. Hôn phu tự mình bái lạy trước bàn thờ, và rồi tiến đến bố mẹ vợ để dâng rượu và trầu cau. Trong khi đó cha của chàng trai đọc bản liệt kê các quà dẫn cưới.

Đôi trẻ sau đó được dẫn tới một buồng dành riêng cho họ, và đứng trước bàn thờ phụng thờ các vị thần của hôn nhân, trên đó nến được thắp và hương được đốt, các cha mẹ sẽ chúc đôi trẻ có đông con cháu và khuyến khích họ gìn giữ hôn phối cho đến mãn đời. Đây là lúc long trọng nhất trong toàn thể buổi lễ. Khi xưa, đó là lúc mà người vợ trẻ vén khăn che mặt lên và người chồng làm như mới thấy mặt nàng lần đầu tiên. Người vợ giờ đây sẽ bái lạy bốn lễ trước người chồng, người chồng đáp lại một lễ trước ngườI vợ. Họ đổi chén rượu cho nhau, và cuộc lễ hoàn tất. Một bữa tiệc sau đó được tổ chức trong đó đôi tân hôn sẽ tham dự.

Hôn nhân giữa những người nghèo ít phức tạp hơn nhiều, và hôn lễ các người vợ lẽ thường chỉ gồm một hợp đồng mua bán đơn giản.

Tập tục đa thê của người An Nam thì khác biệt sâu xa. Nhà Vua An Nam có số lượng các bà vợ lớn lao, nhưng ngay các quan chức cao cấp nhất hiếm khi nào có hơn bốn hay năm bà vợ. Người nghèo thì chỉ cần có một người vợ, bởi số các bà vợ chỉ bị chi phối bởi số của cải vật chất. Một thương nhân hay quan chức du hành nhiều thường có một gia đình tại mỗi trung tâm hoạt động chính của họ, [với] người vợ đóng vai đại lý thương mại hay quản lý cho mình. Một số tác giả cho rằng tình trạng đa thê xảy ra là vì có số sinh phái nữ nhiều hơn, nhưng cũng có phần do ước muốn bảo đảm được sự giàu có nhất và một giòng dõi đông đảo nhất có nhiều người tài giỏi nhất.

Người vợ pháp định được gọi là người vợ bậc nhất: “vợ chánh”. Bà ta nắm giữ một vị thế quan trọng trong gia đình. Bà là vị hoàng hậu của tổ ấm. Tất cả các bà vợ lẽ, gia nhân, v.v…. đều phải vâng lời bà; mọi đứa con đều kính trọng và tôn phục bà. Thời gian cư tang khi bà chết là ba năm, trong khi với sự từ trần của bất kỳ bà vợ nào khác, chỉ phải cư tang một năm, và sau đó bởi các đưa con riêng của người đó. Lúc có sự từ trần của người cha, mọi đứa con của các bà vợ khác nhau đều nhận được cùng ngạch số [thừa kế]. Bà vợ chính thức đầu tiên giữ một quyền lợi suốt đời trên tài sản của người chồng. Phần sở hữu của mỗi người mẹ sẽ được đem chia cho các con riêng người đó.

Điều có thể nhận thấy rằng địa vị xã hội của người đàn bà An Nam đã đạt được một mức độ cao. Nhiều nền văn minh Tây Phương đã không thừa nhận những quyền lợi của phụ nữ ở mức độ cao hơn thế.

Kiến thức được trọng vọng bởi người An Nam, các kẻ đã chỉ lựa chọn các quan chức của họ trong số các học giả. Mọi bằng cấp đạt được ở các cuộc khảo thí tương ứng với một chức vụ trong hệ cấp, đến nỗi An Nam có thể được trưng dẫn như một nền dân chủ lý tưởng, trong đó quyền hành chỉ nằm trong tay những người có học thức uyên bác nhất. Ngay cả người nông dân nghèo khổ nhất cũng có khả năng viết được vài trăm chữ và thảo một đơn thỉnh cầu. Tại mọi làng xã An Nam, đều có một ngôi trường tiểu học, nhưng chỉ dành riêng cho con trai. Em gái nhỏ không đi đến trường làng. Đây là một yếu tố quan trọng cần ghi nhớ khi khảo sát cuộc sống của người đàn bà An Nam. Xem ra không có luật lệ nào cấm đoán việc đó, và trong thực tế các nhà làm luật An Nam, thoát ra khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa, đã biểu lộ một khuynh hướng tiến bộ trong vấn đề các quyền hạn của người phụ nữ, và sẽ không bao giờ phạm phải một sự bất công như thế. Nó chỉ hoàn toàn là một vấn đề của phong tục, nhưng hơn bất kỳ điều gì khác, nó cản trở sự tiến bộ của phụ nữ.

Đứa con gái nhỏ An Nam do đó bắt buộc phải thụ lãnh điều giảng dạy mà em có thể có được tại nhà. Nếu cha mẹ em nghèo khó và không có thì giờ dạy dỗ cho em, em lớn lên trong sự ngu dốt gần như hoàn toàn. Việc học chữ nghĩa thì lâu dài và khó khăn; trí nhớ thời còn trẻ thì cần thiết, bởi chữ nghĩa không còn dễ dàng sở đắc sau thời kỳ thơ ấu. Có một số em gái nhỏ học được đủ chữ nghĩa để sau này giúp các em giữ sổ sách kế toán hay trợ giúp trong một doanh nghiệp.

Cũng có một số ít phụ nữ thuộc tầng lớp quý tộc và giàu có nhận được một nền giáo dục hoàn toàn thông suốt. Những người này có khả năng đọc, hiểu, và thảo luận về Khổng Tử.

Trước khi có sự chiếm đóng của người Pháp, đã không có ngay chỉ một trường học dành cho con gái trong khắp cõi An Nam. Các giáo sĩ truyền đạo đã phá vỡ truyền thống này bằng việc giáo dục các em gái mồ côi. Vào thời điểm hiện nay, đã có các phụ nữ nắm giữ chức vụ trưởng cơ quan tại Sàigòn và Hà Nội, và trong thành phố kể sau, vài cơ xưởng sản xuất đồ lụa và đồ chạm khắc được quản lý chuyên độc bởi phụ nữ.

Các người vợ của các nghệ nhân vốn nổi tiếng là sắc sảo và tinh khôn trong việc kinh doanh như các người chồng của họ, và vì lý do này, điều không có gì là khác thường khi thấy các thương gia Trung Hoa lại hay chọn lấy các người vợ An Nam.

Các người vợ chánh của các quan lại không làm việc tay chân, bởi vì sẽ bị xem là làm hạ bớt phẩm giá của mình. Đôi khi họ có làm bánh kẹo cho vui, nhưng các công việc hàng ngày trong gia đình, chẳng hạn như chuẩn bị cho các bữa ăn, khâu vá và quét dọn, đều được dành cho các người đàn bà khác trong gia đình. Họ không bao giờ dệt vải hay thêu thùa, trong thực tế, làm sao mà họ lại có thể làm việc đó bởi móng tay của họ được giữ cho mọc dài đến 10 hay 15 phân! Họ dùng phần lớn thời gian để ca hát và cho âm nhạc.

Điều khá ngạc nhiên để khám phá ra rằng trong số các phụ nữ An Nam, các người mẹ hoàn hảo một cách tự nhiên và khỏe mạnh, các bà thuộc từng lớp giàu có hơn không bao giờ tự nuôi nấng các con nhỏ của mình, mà lại để chúng được nuôi dưỡng bởi một vú em được trả tiền công. Một vị quan lại cho tôi hay rằng chỉ có một trong cả ngàn người tự mình nuôi nấng con nhỏ.

Hoa lá được bày biện bởi các bà vợ lẽ trong gia đình, là các kẻ cũng chịu trách nhiệm về các cây cảnh và các khu vườn nhân tạo thu nhỏ. Một trong các công việc chính yếu khác là cung cấp cho đầy đủ và sắp xếp tráp đựng trầu cau. Phần lớn thì giờ cũng được dành cho việc tắm rửa, và có lẽ không thể kể hết các chi tiết về việc này; các sự tắm rửa và mọi loại đấm bóp, môi và lông mày để tô điểm, móng tay để bôi sơn, các y phục khác nhau để mặc thử, kiểu tóc để thay đổi, các loại dầu thơm khác nhau được chọn cho bàn tay của nàng, và sau hết nhưng không phải là ít quan trọng nhất, các nụ cười để tập cười khi soi gương. Bà ta có hút một số loại thuốc lá nhỏ mỏng manh. Bà vợ của vị quan lại không hề bị cấm cung, và bà thường đi thăm viếng vợ các quan lại khác. Nhưng thú tiêu khiển chính của bà ta là đánh bài, và có lẽ không thậm xưng khi nói hơn một nửa cuộc đời của bà ta là dùng để chơi bài.

Nhiều bà vợ của Hoàng Đế An Nam cũng dùng thời giờ phần lớn cùng một cách như thế. Những quân vương toàn quyền năng này lúc nào cũng muốn bao quanh mình một triều đình trong đó thành tố nữ phái chiếm ưu thế. Các văn bản của đàn ông về An Nam đã nói đến hàng trăm bà vợ của ông vua. Trong khi một quân vương chỉ có quyền có ba bà vợ chính thất hạng nhất, các quận chúa thuộc hạng thứ nhì thì vô số, bởi tất cả các quan lại nhiều quyền thế đều mong muốn có một trong số các con gái của mình sống trong hoàng cung. Nhưng sẽ là điều sai lầm nếu kể trong số các phụ nữ được sủng ái trong triều bao gồm cả các vũ công, đào hát, ca nữ, và kịch sĩ thường hay lui tới triều đình. Nhà Vua được phục vụ bởi các bà vợ quỳ gối [tuyệt đối phục thị].

Một câu tục ngữ của An Nam có nói, “Ớt nào mà ớt chẳng cay, Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng “ [trong nguyên văn dịch khá bóng bảy như sau: Where is the pimento that is not peppered? Where is the woman who is not jealous?, chú của người dịch]. Sự cạnh tranh và ganh đua giữa các người đàn bà trong cung đôi khi đến mức không thể tin được. Nhiều mưu mô được hình thành, các sự lừa gạt và thủ đoạn được thực hiện trong Triều Đình. Trong bầy thiếu nữ nổi tiếng là những người đẹp nhất tại An Nam, tất cả các nguồn lực của sự thông minh và điệu nghệ, tất cả các nét tinh xảo của trang phục, đều được vận dụng. Một người đàn bà nào đó tự tin về sắc đẹp và sự quyến rũ của mình, bởi nàng đã được lựa chọn trong số các bạn đồng hành trong nhiều tháng. Tuy nhiên, các nỗ lực không được buông lơi, mục tiêu của mọi người đàn bà là nhằm làm vừa lòng vị quân vương, làm vừa lòng với bất cứ giá nào.

Để xuất hiện trong các buổi lễ tại Triều Đình, trang phục không thể nào được phó mặc cho sở thích may rủi. Các sắc dụ cổ xưa quy định màu sắc của lụa may và mức độ đậm đặc của hình thêu. Dù sao đi nữa, vẫn còn chỗ cho sự khéo léo cá nhân.

Khi tắm rửa xong, bài chơi được mang ra, hay những người thông minh hơn trong họ cho mời các thày dạy đọc trong cung và lắng nghe say mê các câu chuyện phiêu lưu hay các chuyện tình. Thuốc được hút liên tục, trong khi cùng lúc họ uống trà và thưởng thức bánh trái và mứt gừng. Các bà vợ của nhà vua bày biện hoa lá trong các phòng trong cung điện và chất đầy tráp đựng trầu cau. Các phụ nữ sủng ái của Hoàng Gia hiếm bao giờ được trông thấy bên ngoài các cổng cung điện, hay trong công chúng.

Trước khi mô tả cho tôi các tính chất tổng quát của vẻ đẹp đặc thù ở xứ sở này, một vị quan lại rất cẩn trọng để giải thích rằng “phẩm chất tinh thần và đức hạnh thì quan trọng hơn nhiều so với vẻ đẹp bên ngoài khi vấn đề lựa chọn một người vợ được đặt ra.” Trên đây là những lời của chính ông ta. “Ngoài ra,” ông nói thêm, “không phải là chàng thanh niên là kẻ có tiếng nói quan trọng nhất trong vấn đề này.”

Dù sao đi nữa, các nhà thơ và các tình nhân của xứ sở này đã phác họa một nhân dáng lý tưởng phần nào đó như sau:

Kích thước của eo không được quá hiển hiện, bởi nếu nó quá lớn hay qua nhỏ, sẽ tạo ra một sự thiếu hòa hơp.

Tóc dài nhất và đen nhất là đẹp nhất.

Khuôn mặt phải có hình trái xoan dài, và phải có nét cân đối toàn diện. Người Trung Hoa thích khuôn mặt tròn. Về vẻ đẹp phái nam, người An Nam đòi hỏi các nét góc cạnh và xương gò má nhô cao. Trích dẫn, hay đúng hơn ghi lại lời một nhà thơ bản xứ, “Mắt của người đáng yêu thì sáng rực như đôi mắt phụng, lông mày của nàng có những đường cong thanh tú vút ra như mày của con tằm. Gót chân nàng thì đỏ như son.” Câu này đã trở thành một câu tục ngữ phổ thông, có lẽ là một trong những câu nổi tiếng nhất đối với người An Nam.

Mắt phụng, “Eye of an eagle“

Mày tằm, “eyelash of a silkworm”

Gót son, “Heel like red ink” [các phần dịch ra Anh ngữ là trong nguyên bản, chú của người dịch]

Không cần sự tưởng tượng lớn lao để thẩm định về vẻ đẹp của một cái liếc nhìn chế ngự sâu đậm, mãnh liệt như đôi mắt của con chim phụng; nhưng chỉ riêng người Á Châu mới tán thưởng triệt để nét cong lý tưởng của lông mày! Và chúng ta sẽ nói được gì về gót hồng, gót son đỏ thắm, bàn chân nhỏ bé được tô màu đỏ bởi một nét phất bút nhẹ nhàng của một bà tiên! Sự ngưỡng mộ này, mang tính An Nam rất điển hình, phần nào làm chúng ta ngạc nhiên. Làm sao mà một nét thẩm mỹ như thế lại bị lãng quên bởi người Âu Châu, trong khi đối với toàn thể sắc dân này, nó là một đường nét có tầm quan trọng hạng nhất. Đây là lý do tại sao người phụ nữ An Nam lại có thể bỏ đôi giầy để đi chân không, hay mang một chiếc dép tí hon chỉ che phủ đầu ngón chân.

Liệu có thể có bất kỳ sự quan hệ nào giữa khiếu thẩm mỹ đặc biệt này của người An Nam với điều đã thúc đẩy người Trung Hoa làm biến dạng bàn chân người phụ nữ của họ? Nhưng điều đáng ghi nhận là tại Trung Hoa phụ nữ cực kỳ lưu tâm đến bàn chân. Điều bị xem là thiếu nhã nhặn cho người đàn bà tại Đế Quốc Thiên Triều này khi để lộ bàn chân của họ, và các họa sĩ luôn luôn trình bày chúng như được che dấu bên trong y phục. Người An nam không có loại thái độ khiêm tốn đặc biệt này, và, như tôi đã viết ở trên, thẳng thắn ngưỡng mộ gót son.

Bàn tay phải nhỏ, ngón tay phải dài và thon. Cổ tay tròn lẳng và trắng là nét quan trọng.

Người An Nam cũng phê bình về giọng nói -- họ ngưỡng mộ âm thanh nhỏ nhẹ và êm tai.

Cách đi và dáng điệu của phụ nữ An Nam thì thanh nhã nhất. Ngay từ lúc còn nhỏ tuổi, người đàn bà đã tập đi, mặt ngước cao, ngực ưỡn, không mang vẻ cứng ngắc hay khoe mình, và đôi tay đong đưa tự nhiên theo một sự chuyển động nhịp nhàng.

Nụ cười làm hiện ra đôi má lúm đồng tiền thì mang vẻ quyến rũ đối với họ cũng như đối với chúng ta.

Lịch sử và văn chương lưu truyền lại cho chúng ta danh tính của rất ít các người đàn bà nổi tiếng. Trong số những người nổi tiếng nhất phải kể đến nữ anh hùng đất Đông Kinh [Bắc Việt], Nữ Vương họ Trưng, là người, sau khi giải thoát đất nước ra khỏi sự đàn áp của Trung Hoa, đã trị vì từ năm 39 đến năm 36 trước Công Nguyên. Bà được trợ giúp bởi người em gái, Trưng Nhị. Khi Trung Hoa một lần nữa chiếm đoạt xứ sở, hai vị nữ anh hùng đất Bắc đã kết liễu đời sống bằng sự tự vẫn oanh liệt.

Trong những thời khoảng khó khăn hay đói kém, hay trong một số thiên tai toàn quốc lớn lao, phụ nữ thuộc các tầng lớp giàu có hơn thường nổi bật. Một số các Hoàng Hậu Nhiếp Chính, mà người An Nam gọi là các Mẹ Vua hay “Hoàng Thái Hậu”, đã tham gia việc chính trị. Thí dụ, mẹ của vua Tự Đức đặt ra điều lệ xem xét mọi chỉ dụ trước khi được tuyên sắc. Trên sân khấu và trong thi ca, phụ nữ thường được trình bày như tự mình đối đầu với sự hiểm nguy và thực hiện các chiến công để giải thoát hay trả thù cho người chồng.

Chỉ có rất ít tội phạm trong giới phụ nữ, thấp hơn đàn ông rất nhiều. Cũng có vẻ là có ít gái điếm ở An Nam hơn so với Trung Hoa. Phụ nữ Trung Hoa không bao giờ được nhìn thấy trên sân khấu, các vai của phụ nữ luôn luôn được đóng bởi đàn ông. Tuy nhiên, tại An Nam phụ nữ đóng vai trò tích cực trong các màn trình diễn, nhưng dù thế, cả nữ diễn viên và vũ công đều bị nhìn là rất thấp kém trong bậc thang xã hôi, và bị khinh miệt một cách công nhiên.

Người phụ nữ An Nam không bao giờ hút thuốc phiện, và điều khó hiểu là mặc dù một người đàn ông mắc vào thói hư này được đối xử với sự dung dưỡng, một người đàn bà sẽ chỉ chuốc cho mình một sự sỉ nhục lớn lao nhất nếu kẻ ấy bắt chước người đàn ông.

Việc giết con thì cực kỳ hiếm có, các người bản xứ mà tôi dò hỏi tin tức còn cho rằng một việc như thế không thể có được.

Phụ nữ đi thăm viếng lẫn nhau, nhưng không bao giờ đón tiếp một cuộc thăm viếng của một người đàn ông. Mặc dù họ không bị gạt ra ngoài các buổi lễ công cộng, họ không đóng một vai trò quá nổi bật trong các buổi lễ đó.

Người vợ không được phép ngồi ăn cùng lúc với người chồng, ngay dù trong ngày đám cưới, hay trong bất kỳ thời điểm tương lai nào. Chính vì thế, điều đương nhiên là người đàn bà sẽ không bao giờ tham dự cùng với các người đàn ông khác trong bất kỳ bữa ăn công khai nào. Trong các tầng lớp thấp kém hơn, nghi thức nghiêm khắc này dĩ nhiên phải được nới lỏng hơn, nhưng rồi cũng chỉ xảy ra trong trường hợp cần thiết và bất đắc dĩ.

Người phụ nữ được phép đi xem hát, là sinh hoạt mà họ biểu lộ một sự thích thú nồng nhiệt nhất; tuy nhiên, ghế ngồi của họ luôn luôn được tách biệt khỏi chỗ ngồi của đàn ông.

Một người Âu Châu đến thăm viếng một quan lại An Nam không thể xin được gặp các bà vợ của ông ta. Trừ khi là một người bạn hay có quan hệ thân thiết, một câu hỏi như thế bị xem là một sự sỉ nhục.

Trong thời kỳ sinh nở, phụ nữ được chăm sóc bởi các cô đỡ (cô mụ). Một bác sĩ sẽ đến thăm các khách hàng vì các sự ốm đau khác, nhưng không bao giờ vì việc này. Ông ta không làm gì nhiều hơn là xem mạch, và ngay khi đó ông cũng cẩn thận lót mảnh vải nằm giữa các ngón tay của ông với làn da của nữ bệnh nhân. Đối với một người An Nam, mời một bác sĩ người Pháp vào thăm bệnh nhân trong gia đình của mình cho thấy một sự gạt bỏ lớn lao các thành kiến, và là một bằng chứng của sự tin tưởng cực kỳ.

Chính vì thế, chúng ta nhìn thấy người đàn bà An Nam có vẻ khác biệt với phụ nữ Tây Phương trong cung cách và phong tục nhiều hơn là về vị thế xã hội. Sự kính trọng và lòng hiếu thảo được bảo đảm cho người đàn bà tại ngôi nhà của mình và luật pháp thừa nhận cho bà các quyền hạn thực sự rộng rãi; khi nhớ đến tục bó chân đôi khi bắt các phụ nữ Trung Hoa phải chịu đựng, chúng ta nhận thức được rằng người đàn bà An Nam đã được đối xử tốt đẹp biết bao so với một số các người đàn bà láng giềng ở miền Viễn Đông.

Gia đình An Nam, được quản trị bởi các nguyên tắc như thế, hẳn phải có một tương lai thịnh vượng trước mặt.

Nếu tục thờ cúng tổ tiên đã đóng góp lớn lao vào sự vững chắc của cuộc sống gia đình và cho sự vĩ đại của dân tộc, nó cũng có khuynh hướng khiến họ phóng đại truyền thống. Tôn giáo này không nhất thiết chống lại sự tiến bộ, như người Nhật đã minh chứng. Nếu chúng ta muốn biết về các khả tính của sắc dân An Nam và muốn nhận thức giá trị đạo đức của họ, chúng ta chỉ cần nhìn vào đời sống gia đình của họ và sự đối xử đầy kính trọng đối với phụ nữ của họ.

(Ngô Bắc dịch)

---

Gia Định ở về phương Nam vị trí Dương Minh người đủ tính trung dũng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, dẫu phụ nữ cũng thế. Giai nhân mỹ nữ lại nhiều mà hạng giàu sang, cao thọ, khôn khéo cũng xuất phát từ tên tuổi của giới phụ nữ. Họ sùng đạo Phật, tin việc đồng bóng, kính trọng nữ thần, như: bà Chúa Ngọc, bà Chúa Động (tục gọi phụ nữ sang trọng bằng bà), bà Hỏa Tinh, bà Thủy Long, cô Hồng, cô Hạnh v.v... tức là có ý mọi việc đều theo hào âm của quẻ Ly vậy. Lại thờ thần Táo quân (Ông Táo), ở 2 bên vẽ 2 hình người nam, ở giữa vẽ 1 hình người nữ, cũng tượng trưng của quẻ Ly Hỏa có ý là hai hào dương ở giữa một hào âm làm chủ.

(Gia Định thành thông chí - Trịnh Hoài Đức)

---

Không phải ngẫu nhiên mà những nhà giàu đã xuất hiện vào thời gian sau lúc thi hành phép Bình lệ. Lê Quý Đôn dẫn sách Trung Hoa, kể chuyện huyền thoại về cảnh tiền đồng nối đuôi nhau với cờ phướn bay suốt hai tháng từ châu Quỳnh (Hải Nam) đến “đất Giao Chỉ” rồi suy ra sự giàu có của một số người trong nước lúc đương thời “vàng bạc tiền thóc kể đến hàng vạn, vườn đẹp ruộng tốt khắp mọi phương.” Và năm xảy ra chuyện “tiền bay” thật có ý nghĩa: 1699. Không phải những người này “tay trắng bỗng nên giàu to”. Sử ghi các năm 1702, 1703 dân đói phiêu tán, dù được miễn giảm thuế má, lao dịch nhưng đến năm 1708 vẫn chưa ổn định, và trong thời gian đó thì Nguyễn Thị Thuyết, “Bà Bổi” của Lê Quý Đôn, đã nhân dịp năm 1703 đói kém, dân đói mà cho vay lấy lãi cùng bán thóc “mua” ruộng!

Trong những người giàu Lê Quý Đôn kể ra, tất cả đều thuộc tầng lớp thấp: huyện, (hương) cống, phụ nữ. Người ta còn tìm ra được tên một phụ nữ khác cũng dâng vua một số lượng lớn, phải lập kho riêng để chứa thóc thu hoạch. Ông huấn đạo phủ Thiên Quan (Thái Bình) chỉ được lưu danh nhờ tấm bia (1738) tán tụng công đức của “bà vợ chính” mà thôi. Chúng ta không rõ những “Bà” này có lợi dụng được tình hình giao thương phát triển của thời đại với người Âu đến lập nghiệp hay không bởi vì tài liệu không nói đến. Nhưng với tính cách tần tảo của phụ nữ thường được ca tụng, như Bà Bổi được ghi trong bia 1720 là “nhà nghèo, chí thú làm ăn” thì tuy không thấy tổ chức buôn bán của các bà, ta cũng có thể nghĩ rằng họ đã gián tiếp hưởng lợi từ tình hình đó.

(Đàng Ngoài và Đàng Trong - Tạ Chí Đại Trường)





Copyright © Trường An. All rights reserved.