Solitude

Cảnh như thị, nhân như thị

“Hán Việt” và “thuần Việt”
Sunday, May 27, 2012 Author: Trường An

(DVT.vn) – Nhiều từ tưởng là “thuần Việt” thật ra ta đã “vay mượn” từ tiếng Việt-Mường hay tiếng Môn-Khmer. Vậy tại sao lại “ghẻ lạnh” những từ Hán-Việt ông cha ta quen dùng?

Đã có một thời người ta bài trừ hai chữ trực thăng và thay nó bằng mấy chữ máy bay lên thẳng, vì trực thăng là “từ Hán-Việt”, một thứ từ ngữ “ngoại lai”, “đi mượn của người Hán”, tức là từ của tiếng nước ngoài, còn lên thẳng là từ “thuần Việt”, là sản phẩm “cây nhà lá vườn” đáng tự hào của người Việt Nam “chính cống”, tức người “Kinh”, người “Giao Chỉ”, người “Keo” hay người “Yuôn”.

Việc sử dụng nhiều các từ Hán-Việt được nhiều người coi là một hành vi lạm dụng, thậm chí vô đạo đức, cần tránh đến mức tối đa, nhất là khi đã có sẵn những từ “thuần Việt” có thể dùng để thay thế, và việc thay thế này được coi là một nghĩa cử có tác dụng “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của mọi công dân nước Việt. Việc thay thế trực thăng bằng lên thẳng đã từng được đánh giá là “một thành tựu lớn lao trong việc bảo vệ nền văn hóa dân tộc”.

Đến khi trong công nghệ hàng không lần lượt xuất hiện những kiểu máy bay cất cánh theo chiều thẳng đứng, không cần chạy trên mặt đất để lấy đà, tức là “lên thẳng” thực sự, nhưng lại tuyệt nhiên không phải là “trực thăng”, người ta mới thấy “hố”, bèn vội vàng dùng lại hai chữ trực thăng.

Những trường hợp tương tự và những tình trạng lúng túng mà phong trào bài xích “từ Hán-Việt” gây ra cũng còn thấy có với những từ ngữ như phi công, bị thay bằng giặc lái (từ này được thay bằng người lái khi dùng cho phi công của ta: ai nấy đều đã được nghe Anh hùng không quân Nguyễn Văn Cốc nói trên Đài phát thanh “Tôi là người lái nhân dân Việt Nam”; giáo cụ trực quan bị thay bằng đồ dùng để dạy; không phận bị thay bằng vùng trời; hải phận bị thay bằng vùng biển (trong khi lãnh thổ không hề bị thay bằng vùng đất); công tố viên bị thay bằng ủy viên buộc tội; tuần dương hạm bị thay bằng tàu tuần biển, v.v và v.v.

Vậy thiết tưởng cũng nên xét lại xem nội dung của hai khái niệm Hán-Việt và thuần Việt là gì, để thấy rõ hơn việc bài trừ các từ ngữ Hán-Việt và tìm cách thay thế nó bằng những từ ngữ “thuần Việt” có phải là một biện pháp “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” hay không.

Trước hết, phải nói ngay rằng không làm gì có những từ có thể gọi một cách chính xác là “thuần Việt”, nếu định nghĩa đó là những từ do chính người Việt (dân tộc Việt) sáng tạo ra từ đầu, chứ không bắt nguồn từ tiếng nói của một dân tộc hay một tộc người nào khác. Trước khi có tiếng Việt hiện đại đã từng có một thời đại mà tiền thân của nó là tiếng Việt-Mường, bắt nguồn từ một chi của tiếng Môn-Khmer.

Liệu có thể nói rằng những từ ngữ Việt-Mường là “thuần Việt” không, hay nói rằng những từ ngữ Môn-Khmer là “thuần Việt-Mường” không? Khó lòng có thể nói như vậy, vì có thể khẳng định rằng tiếng Việt-Mường là một ngôn ngữ khác chứ không phải là tiếng Việt, cũng như tiếng Môn-Khmer là một ngôn ngữ khác chứ không phải là tiếng Việt-Mường. Vậy có thể coi những từ như Môn-Khmer hay những từ Việt-Mường là “thuần Việt” không? Hay đó là những từ mà tiếng Việt đã vay mượn của tiếng Môn-Khmer hay tiếng Việt-Mường? Khó lòng có thể chọn một trong hai cách trả lời, vì cả hai đều không đúng.

Thật ra, phải nói rằng đó là những từ Việt có nguồn gốc trong một ngôn ngữ “mẹ” (hay “ngôn ngữ bà ngoại”) của chính nó, có khác với những từ Thái, những từ Mã Lai, những từ Hán hay những từ Ấn Âu, vốn bắt nguồn từ những ngôn ngữ không có quan hệ thân tộc với nó.

Vậy tại sao không nói đó là những từ vay mượn? “Từ vay mượn” (emprunts, loan words) là một khái niệm cần được định nghĩa trên quan điểm lịch sử, và trên cơ sở một cái mốc đánh dấu sự thành hình của ngôn ngữ đang xét. Kể từ cái thời đại mà tiếng Việt-Mường chẳng hạn, có thể coi là đã thành hình như một ngôn ngữ, hay nói cho đúng hơn, một ngữ trạng (état de langue) có những đặc trưng khiến nó có thể coi như không còn là thứ tiếng trước kia (hay ngữ trạng trước kia) nữa, thì những từ ngữ mà nó du nhập từ những ngôn ngữ khác có tiếp xúc với nó có thể coi là những yếu tố vay mượn, trong khi những từ ngữ mà “mẹ nó” vay mượn lại không thể coi là như thế, vì những từ ngữ này đã là những di sản của thời trước do “mẹ nó” để lại và được nó xử lý như những yếu tố thuộc vốn từ vựng của tiếng “mẹ đẻ”. Khi những người nói tiếng Việt-Mường không còn vay mượn những từ ngữ Thái như gạo, gà, vịt như hồi chưa tách hẳn ra khỏi tiếng Môn-Khmer, thì những từ này đã được nhập vào vốn từ vựng của tiếng mẹ đẻ của họ, nghĩa là đã trở thành những từ “thuần Việt-Mường”.

====

(DVT.vn) – Các từ Hán-Việt đều có một cấu trúc âm tiết chuẩn mực của những từ thuần Việt, chứ không mang lại một âm hưởng lạ như những từ vay mượn khác.

Qua hơn 1.000 năm Bắc thuộc, tiếng Việt đã mượn của tiếng Hán một số từ ngữ nhiều gấp bốn lần vốn từ ngữ đã có trước đó. Trong số từ vay mượn này, có những từ “bình dân” dần dần được người bản ngữ đồng hóa và dần dần có được một dáng dấp ngữ âm riêng, được dùng y hệt như những từ gốc của bản ngữ, và đến vài ba thế hệ sau khi vay mượn, không còn bị người bản ngữ tri giác như những từ ngoại lai nữa.

Bên cạnh đó, có những từ ngữ Hán đi vào tiếng Việt theo con đường “bác học”, chủ yếu là qua các văn bản hành chính sự vụ mà ngay trong các triều đại đã giành được độc lập cũng được viết bằng chữ Hán cổ điển. Đó chính là tiền thân của các từ “Hán-Việt” sau này. Những từ này có một diện mạo ngữ âm được quy định chính xác theo các tự điển Trung Quốc – theo cách chú âm bằng thủ pháp “phiên thiết”. Do đó các nhà nghiên cứu thường thấy cần phân biệt những từ ngữ gốc Hán “bình dân” và những từ “Hán-Việt”.

Dĩ nhiên sự phân biệt này hoàn toàn có cơ sở. Nhưng nó không đủ để phân biệt đối xử với những từ như đầu, tính, dân, học, hiểu được coi như những từ “thuần Việt” và với những từ ngữ như đại bác, tín nhiệm được coi là cần được loại bỏ trong chừng mực có thể.

Khi dựng lên sự phân biệt nhân tạo giữa “Hán-Việt” và “thuần Việt”, người ta thường quên mất rằng hầu hết những từ được gọi là “thuần Việt” cũng đều có nguồn gốc ngoại quốc (Thái, Mã Lai, Chăm, Cam-pu-chia, Quảng Đông, Ấn Độ, v.v.), không kém gì các từ “Hán-Việt” và các từ mới vay mượn của tiếng Pháp, tiếng Anh.

Thật ra, cái sắc thái đặc biệt mà người ta tri giác được ở các từ Hán-Việt không phải là do một đặc trưng “ngoại quốc” gì của các từ này. Chẳng hạn, xét về ngữ âm, các từ Hán-Việt đều có một cấu trúc âm tiết chuẩn mực của những từ thuần Việt, như các công trình nghiên cứu cấu trúc ngữ âm của các từ Hán-Việt đã cho thấy, chứ không có một âm hưởng là lạ như các từ vay mượn như pa-tê, goòng, soóc, xéc, boong, tỉm xắm, vằn thắn (kể cả những tên riêng Quảng Đông như Coóng, Dzếnh).

Sở dĩ các từ Hán-Việt được một số người Việt “có học” phân biệt với các từ “thuần Việt” trong đó có cả các từ gốc Hán được phát âm đúng như trong tự điển phiên thiết như đầu, dân, hiểu, học, là vì những lý do khác, không mấy khi được ý thức rõ ràng. Đó là:

1. Những yếu tố “Hán-Việt” không được dùng “độc lập” như các yếu tố “thuần Việt”, mà chỉ xuất hiện trong những tổ hợp hai tiếng trở lên. Sự phân biệt này trở nên quan trọng và có dáng “khoa học” kể từ khi giới học giả Việt Nam phát hiện ra cái chuẩn tắc hình thức của phái ngữ học miêu tả dùng sự khu biệt giữa “bound forms” và “free forms” làm nguyên tắc toàn năng và tuyệt đối quyết định mọi thao tác phân tích và thuyết minh ngôn ngữ học.

Thật ra nguyên tắc này, tuy có một tác dụng thực tiễn nhất định, nhưng xét về lý thuyết hoàn toàn không liên quan gì đến ngôn ngữ học, cho nên nếu được ứng dụng một cách máy móc, sẽ dẫn đến những sự lầm lẫn hết sức thô lậu, như chúng tôi đã chứng minh trong khá nhiều bài vở, và như giới ngữ học thế giới sau những năm 30 đã thấy rõ. Riêng trong lĩnh vực đang xét, nó dẫn tới những kết quả phi lý sau đây:

quốc ca là một từ, nhưng dân ca là hai từ
súng trường là một từ, nhưng súng ngắn là hai từ
hải quân là một từ, nhưng không quân là hai từ

Cái chuẩn tắc thô thiển này phủ nhận tư cách từ của tất cả những từ bao giờ cũng đi với một phụ ngữ (bổ ngữ hay định ngữ); đó là các vị từ ngoại động (transitive verbs) như nai (lưng) hay các danh từ đơn vị (unit nouns) như chiếc (đũa) chẳng hạn, và làm nảy sinh ra những sự ngộ nhận đáng xấu hổ trong lý thuyết ngữ học phổ thông, như khái niệm “loại từ” (“classifier”) chẳng hạn, mà mãi gần đây (đến tận 1994) vẫn có người còn chưa thấy rõ tính phi lý.

====

(DVT.vn) – Nói “thủ tướng và phu nhân” tốt hơn “thủ tướng và vợ”; nhưng nói “anh bảo vệ và phu nhân” thì không ổn; do đặc trưng tu từ khác nhau.

Trong tiếng Việt, các từ “Hán-Việt” làm thành một lớp riêng, có những đặc trưng ngữ pháp và tu từ (phong cách học) riêng.

Về ngữ pháp, các từ tổ Hán-Việt tuy cũng chứa đựng những mối quan hệ cú pháp (đẳng lập hay chính phụ) rõ rệt không kém các từ tổ “thuần Việt”, nhưng mối quan hệ cú pháp này chặt hơn nhiều, một phần là nhờ cái “trật tự ngược” (phụ trước chính sau) so với các từ tổ thuần Việt. Chẳng hạn, quan hệ cú pháp chính phụ trong xạ thủ hay phi công chặt hơn nhiều so với mối quan hệ tương đương trong người bắn hay người lái: trong khi xạ thủ Nam chỉ có thể hiểu một cách, thì người bắn Nam không cho biết đó là kẻ đã bắn anh Nam hay là người lính tên là Nam (chắc hẳn cách hiểu thứ nhất tự nhiên hơn cách hiểu thứ hai).

Tính chất “chặt” của mối quan hệ cú pháp này giữa hai từ “Hán-Việt” làm cho các từ tổ tương tự dễ được hiểu đúng hơn nhiều khi được dùng làm thuật ngữ chuyên môn (khoa học hay kỹ thuật), nhờ đó mà khi cần cấu tạo một thuật ngữ, từ “Hán-Việt” bao giờ cũng có ưu thế hơn hẳn từ “thuần Việt”, tuy có một thời, nhân danh tính “đại chúng”, người ta đã thay những thuật ngữ như khủng long những thuật ngữ như thằn lằn kinh khủng (vốn có nghĩa khác hẳn).

Hồi ấy, người ta còn yêu cầu đặt thuật ngữ khoa học làm sao mỗi người chỉ cần biết đọc chữ quốc ngữ là hiểu ngay được nội dung. Phải chi có thể làm được như vậy, thì có lẽ toàn dân ngay từ sáu bảy tuổi đã không còn phải đi học nữa, vì đã hiểu được đủ thứ khái niệm như nguyên tử, điện tử, lượng tử, tích phân, vi phân, v.v., sau khi những từ Hán-Việt được chuyển thành từ “thuần Việt”.

Từ “thuần Việt” dễ hiểu thật, nhưng đó chính là nhược điểm lớn nhất của nó, vì khi một thuật ngữ quá dễ hiểu, thì cách hiểu “quá dễ” ấy có rất nhiều xác suất là lối “vọng văn sinh nghĩa” – tức là cứ nhìn chữ mà đoán mò ra nghĩa, cho nên có thể sai hoàn toàn. Trong nhiều ngành, trên thực tế đã có hàng ngàn thuật ngữ được hiểu như thế, chẳng hạn như tình thái, hàm nghĩa, ngữ dụng, sở chi,v.v., là những thuật ngữ có vẻ dễ hiểu đến nỗi ai cũng cho là mình hiểu rồi, cho nên không thấy cần đọc sách nữa.

Chính tính chất trừu tượng, khó hiểu (?) của thuật ngữ Hán-Việt tránh được cho ta cái hiểm họa ấy.

a. Về phương diện ngữ nghĩa, hầu như ai cũng đã thấy từ lâu rằng phần lớn các từ Hán-Việt đều có một sắc thái ngữ nghĩa (hay tu từ) khiến cho nó khác một cách khá rõ với các từ thuần Việt dường như đồng nghĩa với nó. Đó là sắc thái “trang trọng”, hay “thi vị”, hay “cổ kính”, hay “bác học”, hay “mờ ảo” của các từ Hán-Việt.

Điều đáng ngạc nhiên là lẽ ra cái sắc thái đặc thù ấy phải cho thấy ngay rằng những từ ấy đã trở thành những từ “thuần Việt” từ lâu, chính vì trong tiếng Hán nó không hề có, thì ngược lại, nó lại được dùng như một cái cớ để bài bác và để tìm đủ cách loại trừ.

Trong tiếng Hán, nữ chỉ có nghĩa là “gái”, phụ nữ chỉ là “đàn bà”, trượng phu là “đàn ông” (hay “chồng”), hoa đăng chỉ là “đèn hoa/bông”, sơn động chỉ là “hang núi”, lam sơn chỉ là “núi xanh”, tử sĩ chỉ là “quân lính chết”, mãnh hổ chỉ là “con cọp mạnh”, tràng kỷ chỉ là “cái ghế dài”, lôi vũ chỉ là “mưa giông”, phong ba chỉ là “sóng gió”, hài chỉ là “giày”.

Sở dĩ khi chuyển sang tiếng Việt, những từ ngữ này có được cái sắc thái “thi vị”, “cổ kính” hay “bác học” và cái sức mạnh tu từ của nó chính vì nó đối lập với những từ ngữ “thuần Việt” (hay “nôm na”), và đó chính là nguyên nhân làm cho nó có được cái sắc thái ngữ nghĩa hay tu từ mà nó vốn không có trong tiếng Hán, và cái sắc thái mới ấy cũng chính là bằng chứng hoàn toàn chắc chắn cho thấy rằng nó đã là một bộ phận hữu cơ của hệ thống từ vựng của tiếng Việt, hay nói gọn lại, nó đã hoàn toàn trở thành những từ ngữ tiếng Việt, tức những từ ngữ “thuần Việt”.

Chính cái phong vị riêng (trang trọng, bác học, v.v.) của các từ ngữ Hán- Việt đã cám dỗ một số người làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng sính dùng loại từ ngữ này. Đáng lẽ nói “bàn nhanh” thì người ta thích nói “hội ý” hơn; đáng lẽ nói “nói chuyện phiếm” thì người ta thích nói “mạn đàm” hơn, đáng lẽ nói “đi thăm” hay “đi xem” thì người ta thích nói “tham quan” hơn,v.v.

Trước tình hình đó, hồi kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy cần nhắc nhở cán bộ trong cuốn Sửa đổi trong lối làm việc (dưới bút danh XYZ) là nên nói năng với quần chúng một cách giản dị hơn, dễ hiểu hơn, bình dân hơn, đừng dùng những từ ngữ quá trang trọng, quá bác học mà thành ra khó hiểu. Nói tóm lại, phải dùng từ ngữ sao cho thích hợp với quần chúng.

Về sau, những lời dặn dò chí lý ấy dần dần bị hiểu sai thành một chủ trương thanh lọc từ ngữ ngoại lai, và người ta hè nhau tìm cách thay thế những từ Hán-Việt bằng những từ “thuần Việt”, nghĩa là những từ ngoại lai khác, gốc Thái, Mã Lai, Môn-Khmer, Ấn Độ, v.v., trong khi xây dựng thuật ngữ khoa học và kỹ thuật.

Người ta tưởng làm như vậy là bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, trong khi đó chính là làm cho tiếng Việt nghèo đi, và thay những cách nói đúng đắn và thích hợp với tình huống, với ngôn cảnh hay văn cảnh bằng những cách nói ngô ngọng, lạc lõng, thậm chí vô lễ và man rợ.

Nếu gọi con gái bạn mình bằng quý nữ chẳng hạn là lố lăng, thì gọi một người đàn bà bằng đồng chí gái hay y tá gái cũng lố lăng không kém. Thủ tướng gái không bằng nữ thủ tướng. Nhưng đầy tớ gái lại hơn nữ đầy tớ. Ngài Tổng thống và vợ không bằng Ngài Tổng thống và phu nhân, nhưng thằng Út nhà tôi và phu nhân lại không bằng thằng Út nhà tôi và vợ nó. Nói chung, những sự kết hợp không tương thích đều cho những kết quả xấu.

Tác-giả: Cao-Xuân-Hạo




Dân tộc tính
Friday, May 4, 2012 Author: Trường An

Dân tộc tính là gì?

Danh từ "dân tộc tính" dường như chỉ xuất hiện từ năm 1945 và được bàn cãi từ đó về sau, kèm theo danh từ "cá tính dân tộc", "văn hóa dân tộc"?

Nếu chúng tôi không lầm thì trước kia các nhà văn hóa vẫn thắc mắc, tìm hiểu dân tộc tính Việt Nam nhưng họ dùng danh từ hơi khắc, thí dụ như:

- Quốc học, quốc hồn, quốc túy.

- Bốn ngàn năm văn hiến.

Danh từ "tinh thần dân tộc" được nhắc nhở đến, khi bàn về dân tộc tính. "Tinh thần" là ngụ ý tinh thần tranh đấu chống ngoại xâm: chiêu hồn nước, khóc quốc hồn.

Chính trị và văn hóa lại dính liền với nhau như trường hợp phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, do các nho sĩ đề xướng hồi đầu thế kỷ.

Nhiều người tạm định nghĩa dân tộc tính là tính chất đặc biệt của dân tộc. Dân tộc ta có gì khác, trong thói ăn nết ở, trong cách thức xây dựng nhà cửa, trong nếp suy tư? Để giải đáp, họ cho rằng dân Việt bắt chước giỏi, có óc châm biếm hài hước, cần cù siêng năng, mang cái tâm trạng hơi buồn buồn. Nhiều nhà khảo cổ Tây phương nghiên cứu kỹ lưỡng để xem người Việt có gì đặc sắc so với người Ai Cập, người Tàu, người Ấn Độ căn cứ vào di tích, vào những gì mà ngày nay còn chụp ảnh được, đào xới được, đọc được. Triêt lý Việt Nam gần như không có gì rõ rệt (tổng hợp Tam giáo), muốn nghiên cứu thì nên qua Trung Hoa, Ấn Độ, nhìn Hy Mã Lạp Sơn, Tây Tạng hoặc rừng núi tỉnh Sơn Đông, dòng sông Hoàng Hà. Những bản kinh kệ xưa nhứt là ở miền Ấn Độ, cái sọ ông Bàn Cổ ở mãi tận miền Bắc Trung Hoa. Người Việt mô phỏng vụng về mọi triết học, mọi hình thức văn hóa, mọi kỹ thuật. Người Tây Phương với tình cảm lãng mạn, với lòng yêu mến thiên nhiên đã hăm hở xuống thuyền để vượt đại dương, tìm chân trời mới, tìm thảo mộc, tìm văn hóa xa lạ, xa lạ đối với họ. Nhà thám hiểm và thương gia đi trước, vào thế kỷ thứ 18, những đội binh viễn chinh theo sau. Đến vùng đất mới miền gió mùa, họ tập tành làm văn sĩ, làm nhà khảo cổ, nghiên cứu về văn học, nhân chủng. Bao nhiêu đề tài hiện ra, cứ viết, cứ sưu tầm, vẽ tranh sơ sài là gây được dư luận, trở thành ngón bút "ăn khách", giúp cho đồng bào chánh quốc mua vui một vài trống canh. Người Tây phương bắt đầu làm quen với nhiều địa danh, nhiều thiên đường mới: những điệu vũ Bali (Nam Dương), cách uống trà Nhựt, những đền đài Đế Thiên Đế Thích, tiếng nói của đá Kim Tự Tháp, những đồ gốm Càn Long, hoặc đồ đồng thời "Trụ mê Đắt Kỷ", kho tàng vua chúa Mễ Tây Cơ, Nam Mỹ Châu. Những người giàu thiện chí, giào lòng nhơn đạo nằm nhà ở Tây Phương dạo ấy như dửng dưng, sống êm ấm, có vài phản ứng xót thương không đáng kể đối với thế giới nhược tiểu. Chuyện xa ở Đông Á thì đã đành. Đến như chuyên buôn người ở Phi Châu, dường như họ không thấy lương tâm cắn rứt cho lắm.

Và trong cái thế giới thiên nhiên với muôn hồng nghìn tía ấy, dưới mắt người Tây Phương, rõ ràng người Việt Nam chẳng có gì đáng kể, về hình thức. Người Nhựt, người Tàu, người Ấn Độ, người thiểu số Cao Nguyên, bộ lạc ăn lông ở lỗ ngoài hải đảo Thái Bình Dương đáng chú ý hơn. Ở dải đất Đông Dương này thì quyền ưu tiên dành cho Đế Thiên Đế Thích, nghệ thuật Chiêm Thành, hoặc cánh đồng rải rác những cái chum bằng đá ở Lào. Việt Nam thuộc vào hàng thứ yếu, tuy trụ sở hành chánh toàn xứ Đông Pháp được đặt tại Hà Nội và trụ sở thứ nhì ở Sài Gòn.

Thực dân theo dõi sanh hoạt người Thượng ở Cao Nguyên Trung phần, có lẽ vì chính trị, chiến lược hơn, dưới mặt họ số người Thượng này chỉ là người thổ dân ở hải đảo Nam Dương, không gì là độc nhứt vô nhị. Đến như người thiểu số Mán, Mèo, Thái ở vùng Cao Bằng cũng thế, chỉ là những nhánh nhóc của nhóm người từ rừng núi Vân Nam. Trong việc sưu tầm văn hóa, người Pháp đã tặng cho người Việt vài lời khen an ủi: sọ người ở Hòa Bình, trống đồng Thanh Hóa, lăng tẩm Huế, tượng nhà sư Minh Hạnh. Trước khi rút lui, người Pháp phát giác thêm những di tích ở đồng bằng Hậu Giang về nước Phù Nam, tại thương cảng Ốc Eo (núi Ba Thê - An Giang).

Thật là nghèo nàn, dưới mắt họ: vài tập tục lai căn, hoàn toàn vay mượn từ Trung Hoa, Ấn Độ với ngày Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu, tục lệ quan hôn tang lễ, bùa phép.

Khi tổng kết văn hóa Đông Á, người Tây phương nói rất ít về Việt Nam hoặc không nói tới. Cuộc Nam tiến của dân Việt chỉ là hiện tượng chung. Thái Lan, Tàu, Miến Điện đều có cuộc Nam tiến để tìm đất sống. Đôi khi, người ta tóm tắt trong vài hàng khoảng thời gian từ đời Hùng Vương đến đầu nhà Nguyễn, để nói vài dòng về giai đoạn tiếp xúc với Tây Phương.

...

Một luận điệu mới: nói đến lịch sử, nói đến văn hóa cổ truyền là lỗi thời, là chưa thấy hoàn cảnh hậu bán thế kỷ Hai Mươi của nền văn minh phồn thịnh, tràn ngập sản phẩm để tiêu thụ, hưởng thụ. Khảo cứu truyền thống văn hóa là chuyện lẩm cẩm. Lẩm cẩm vì nó không đem lại tiền bạc. Học sinh giỏi Việt văn, giỏi về sử địa chưa chắc thi đậu. Muốn thi đậu, người ta chỉ cần lo luyện thi Toán-Lý-Hóa. Khảo cứu văn hóa chỉ cần thiết và không lẩm cẩm khi bài vở được dịch ra ngoại ngữ, xem là tài liệu cần thiết cho người ngoại quốc "tìm hiểu" nước Việt Nam.

Nói đến văn hóa, lịch sử Việt Nam lúc nầy là "đâm hơi" làm rầy giấc chiêm bao của nhiều người. Chạy gạo không đủ thời giờ, hơi đâu làm chuyện văn hóa, trừ phi nghe chuyện văn hóa, nghe một cách êm ái, muồi mẫn, qua tân nhạc vọng cổ - lúc nằm trong tiện nghi vật chất để tìm tiện nghi tinh thần! Thời chiến, nên nói một cái gì mới ngoài cái văn hiến bốn ngàn năm với cây nêu ngày Tết, cái khăn đóng áo dài và những bộ sử bị mọt mối gặm nhấm. Ngoài Truyện Kiều và Lục Vân Tiên. Ngoài thuyết Tam giáo đồng nguyên. Các cụ ngày xưa đã làm cho nước nầy mất cũng vì quá tin vào bốn ngàn năm văn hiến. Thời ấy, người Việt Nam có đầy đủ dân tộc tính, không bị lai căn, đầy đủ văn hóa cổ truyền với ông đạo sĩ luyện phép trường sinh, với người nông phu đi cày mồ hôi thánh thót như mưa, với ông vua bài ngoại, xem người Tây phương như "quỷ trắng", với nông thôn tự trị.

Cách mạng năm 1945. Hay lắm, toàn dân biết rồi. Bây giờ là khác, từ năm 1954 đến nay, giai đoạn sau đã kéo dài hơn 10 năm và để cho có vẻ trầm hùng, nên cộng với giai đoạn trước để gọi là trên 20 năm tang tóc. Nhưng giai đoạn 1954 đến nay khác hơn giai đoạn trước. Người ta bước vào thời kỳ liên lục địa để cùng hưởng thụ một thứ văn minh sung túc, với vô tuyến truyền hình, bếp điện, xe gắn máy, thuốc xịt muỗi, với thân thể đàn bà, với thần tượng mới. Coi chừng bị thời cuộc đào thảo đó! Chúng ta nên đi tiên phong, nói đúng hơn là theo đường lối tiền phong của văn nghệ... Pháp. Sưu tầm sử liệu, tìm hiểu dân tộc tính là thiện chí nhưng nên dành công việc đó cho chuyên viên UNESCO, cho Asia Foundation, họ có tiền, có chuyên viên, có phương pháp khoa học. Cả nhân loại đang chạy theo nền văn minh mới, hòa đồng. Phải xóa bỏ ranh giới thì mới hiểu nhau vì dân tộc này dính vào dân tộc khác, từ hồi tiền sử. Không nước nhỏ nào không thiếu nợ, không lãnh viện trợ mà tiến được. Đèn néon chiếu sáng khắp nơi. Đang trù liệu kế hoạch đề phòng nhân loại đang lâm vào nạn nhân mãn. Viễn ảnh của bịnh ung thư. Nên chú tâm vào vấn đề phân tâm học vì từ hồi nằm trong bào thai, ai cũng mang mặc cảm, ai cũng yếu thần kinh. Nếu muốn nghiên cứu trở về quá khứ thì nên xoay qua ngành xem tử vi, bói bài cào, cứ phối hợp tử vi các nước trên thế giới với ngành "tử vi dân tộc". Ngôn ngữ con người đã thay đổi, mẹo luật văn phạm xưa hết thích hợp rồi. Bây giờ là tín hiệu, là biểu tượng mới. Thời gian đã ngưng đọng. Quá khứ bị cắt đứt, tương lai thì lờ mờ. Âm thịnh dương suy, gần ngày tận thế vì thế chiến thứ ba có thể bùng nổ trong ngày mai, hoặc lát nữa. Cái lương tâm lẩm cẩm không ích gì hết. Cù lần. Gàn. Không thực tế. Không chịu chơi. Con người là con cua, con sên. Quan niệm về giai cấp đã lỗi thời. Xã hội bây giờ đi đến điều hòa giai cấp, thí dụ như ở các nước có nền kỹ nghệ mạnh. Chánh trị là ngành chuyên môn dành cho người đã tốt nghiệp về chánh trị học. Thỉnh thoảng, nếu thấy hơn buồn, hơi bất mãn thì nên kêu lên "Ôi quê hương đau thương thành chai đá!". Và nguyện cầu Thượng đế. Và kêu réo Mẹ Việt Nam. Chữ nghĩa muốn khỏi bị đào thải thì nên chứa đựng nội dung mới. Muốn diễn tả tâm tư thế hệ thì nên theo thứ văn phạm mới. Cô độc quá. Cô độc là sang trọng. Nếu cảm thấy cô độc thì bạn đã chạy theo kịp trào lưu thế giới trong cuộc chuyển mình vĩ đại của thế kỷ này qua thế kỷ sắp tới.

Cô độc là bịnh của tương lai nhân loại. Nhưng ngày qua ngày, cô độc trở thành bịnh của quá khứ, như kiểu áo, như kiểu xe hơi bị phế thải sau khi ra lò. Giữa năm 1967 nên mua tấm lịch 1968 cho sớm, mặc đầu đến đầu năm 1968 thì tấm lịch đã đóng bụi. Giờ đây các dân tộc trên thế giới đều mang một bịnh như nhau. Đừng tranh tị với các cường quốc rồi chửi rủa họ. Vì họ cũng đang bi đát, con người họ đang phá sản về tinh thần, chới cới trong "cái hố thẳm của tư tưởng". Nếu mình thành thật với mình, mình cũng đi tới một kết luận như họ. Con người gặp nhau, với nụ cười xã giao. Như hai con cá lội trong bồn, với miếng kiếng ngăn đôi. Bây giờ, buồn nôn là vừa. Trước sau gì người Việt cũng buồn nôn, luật trời tránh sao cho khỏi. Và tại sao ta không kêu lên tên các triết gia Âu Châu, gọi lên hình ảnh xác thịt của các hoa hậu Âu châu, từ bây giờ, kẻo trễ. Vì so với các nước trên thế giới, chúng ta đã trễ nải, dùng vô tuyến truyền hình, dùng nồi điện, máy giặt quần áo, dùng bồn tắm cũng trễ nải.

Một số triết gia Tây phương thú nhận từ lâu rằng trên thế gian nầy không phải chỉ có một nền văn minh duy nhứt của Tây phương. Nền văn minh nầy đang "xế tà" sau khi mọc lên rồi đứng bóng ngay giữa bầu trời. Nghĩa là cái khuôn vàng thước ngọc Tây phương đã lỗi thời, không phát huy những giá trị của con người, luôn cả con người Tây phương. Sự may mắn của Tây phương, hiện nay là sống trong cảnh thanh bình, không bị ngoại xâm, không có nội loạn (nội loạn võ trang). Họ có đủ thời giờ phân tích, tìm tòi, cãi vả, đem sợi tóc chẻ làm tư để hiểu tại sao họ suy đồi, hoặc họ suy đồi tức là đang tiến lên theo một kiểu khác. Cuộc cãi vả ấy không làm cho họ mất nước vì các dân tộc nhược tiểu làm sao đủ sức đem binh đến đánh họ, tại nhà họ?

Ở Việt Nam thì khác, Việt Nam đang chịu đựng chiến tranh và đang nhập cảng triết học, nhập cảng nếp sống Tây phương ngay lúc chiến tranh. Người trí thức Việt Nam đôi khi thấy mình cần vạch một lối đi dân tộc, khác với Tây phương nhưng vạch với kỹ thuật Tây phương.

Làm sao cho ra?

Nếu vạch không ra thì dễ quá, cứ mời chuyên viên văn hóa Tây phương đến giúp, ta học hỏi thêm với họ, làm chuyên viên cho họ! Mãi đến nay, nhiều học giả Việt Nam vẫn nghiên cứu với tinh thần khoa học Tây phương, biên soạn, sưu tầm tài liệu dường như với mục đích trả bài, làm một thí sinh của đại học đường Tây phương, soạn luận văn để mà giựt lấy bằng cấp đem về giúp Tổ quốc. Người Việt Nam nói chung, những người đang chịu khổ, đang suy nghĩ về đất nước nhìn số học giả nói trên với thái độ kính nhi viễn chi. Số học giả này đã hiểu thân phận của họ, đã thấy phản ứng của số học sinh mà họ đang dạy tại nhà trường; phản ứng về lối dạy, về phương pháp nghiên cứu sai lệch, xa thực tế.

Họ không làm được chuyện gì mới. Vì làm sao làm được trong khi các nhà khảo cứu tiền bối - người Pháp đa số - đã được ưu thế khi quan sát, ghi chép về hình thức văn hóa, văn minh Việt Nam trước họ, hồi đầu thế kỷ 20 khi mà những nét, những hình thức của văn minh Việt Nam chưa bị tàn phá, đập nát thành mảnh vụn. Bây giờ chỉ là chép sách cũ, của Tây. Cô độc, thất nghiệp về tinh thần, những học giả "kinh nhi viễn chi" này ắt đã nhiều phen cau mày, buồn buồn, ngáp dài bên chồng sách khi nghe văng vẳng tiếng súng, đêm thâu. Cái cau mày của một hành khách ngồi trên xe đò. Người hành khách không lái xe nhưng đem lại lợi tức cho ông chủ xe. Chủ xe không đích thân lái xe nhưng ông ta mướn tài xế. Và người tài xế đã vô tình, hoặc cố ý vì lý do kỹ thuật là lái vào sát lề để cán dẹp một người đi bộ. Người đi bộ nằm dưới bánh xe, trên bánh xe là cái thùng xe và trên thùng xe là lớp nệm, trên đó có sức nặng của người hành khách gọi là vô tội trong vụ cán xe này. Và người hành khách sạch sẽ ấy sẽ cố gắng giữa thái độ bình thản, tự phong là nhân chứng, vì bình thản là thái độ chân chính của nhà khoa học. Để cho tình cảm riêng tư chen vào hư cuộc khảo cứu, cuộc quan sát. Nên nói thêm rằng nhà nghiên cứu khoa học nhân căn của chúng ta cố ý quên rằng mình đang ngồi trên xe. Ông ta phóng mắt tìm những nét độc đáo... trong dân tộc, theo phương pháp mà các vị hiền tiền ở Tây phương đã dạy, với tinh thần nhân bản - làm như ở Á Đông, ở Việt Nam chúng ta không biết tình đồng bào, tình nhân loại và chúng ta cần nhập cảng thứ đạo đức ấy từ Tây phương mà dùng. Người lữ hành trên chiếc xe thấy mình là kẻ sống không gặp thời. Phải chi họ được sống trong cái thuở thanh bình hồi đầu thế kỷ, khi các tháp Chàm, các lăng tẩm Huế, các bộ sử in trên giấy bản còn trinh nguyên chưa được cặp mắt xanh của người hùng Tây phương ghé đến. Thuở ấy, một viên chánh tham biện chủ tỉnh đến đình chùa gặp ông đại hương cả, viếng một bô lão (đang lãnh chức cai tổng, một chức vụ tượng trưng) là tha hồ sưu tầm sốt dẻo bao nhiêu sử liệu gần như nguyên chất, đáng tin cậy vào bậc nhứt, nói chi đến các người Pháp được tu nghiệp để qua thuộc địa nghiên cứu về văn hóa, nhân chủng. Họ trở thành thánh sống đáng cho tổ quốc ghi ơn (tổ quốc Việt Nam)!

Người học giả Việt Nam ngày nay tìm mãi, với phương pháp Tây phương, mà không thấy cái gì mới mẻ hơn về mặt văn hoá. Họ tự an ủi rằng người Pháp đi trước đã đớp những món ngon rồi, giờ đây là cạn tàu ráo máng, hoặc là hoàn cảnh chiến tranh không cho phép họ đi thung thăng tận miền quê, hoặc là thiếu phương tiện, thiếu tiền trợ cấp. Sử liệu Việt Nam có lẽ phong phú nhứt hồi đời nhà Nguyễn, từ khi Nguyễn Ánh gặp Bá Đa Lộc. Giai đoạn ấy được người Pháp chiếm quyền ưu tiên ăn nói, sưu tầm tài liệu ở Việt Nam, đối chiếu với tàu liệu ở bộ Thuộc địa chánh quốc. Nhưng người Pháp đã nói hết chưa? Ở miền Nam, chúng ta đã nói lên, đã tổng kết "theo phương pháp khoa học", những cuộc tranh đấu chống thực dân Pháp suốt trăm năm đô hộ hay chưa? Hay là đợi người Pháp tổng kết giùm qua các tài liệu ở "chánh quốc". Người Pháp giúp ta những gì về văn hóa? Cái nhân văn, nhân chủng... của họ đã đem lợi ích gì? Muốn sử dụng đúng bất cứ một phương pháp nào để nghiên cứu văn hóa, sử học thì điều kiện căn bản vẫn là lòng tự tin, lòng tự trong. Nói mạnh hơn, là tự hào. Người Việt Nam có quyền tự hào. Tại sao chúng ta không đả phá cái thứ khoa học lấy Tây phương làm chuẩn để phê phán các dân tộc hải ngoại, ngoài phạm vi Âu châu như Phi, Úc, Mỹ châu (trước khi có di dân)? Chúng ta nên đứng vào vị trí một người VIệt Nam để viết những quyển lịch sử về nước Anh, nước Pháp, nước Mỹ cho đồng bào ta đọc. Chúng ta sẽ giải thích cho đồng bào ta biết tại sao thực dân Pháp tìm thuộc địa vào cái lúc mà thi sĩ, văn sĩ của họ theo xu hướng lãng mạn, yêu cây cỏ, yêu nhân loại, yêu tự do bình đẳng.

Văn hóa Việt Nam không bị người Tàu trước kia và người Pháp sau này tiêu diệt vì nó có thật, có sức mạnh. Nhưng nó bị mất mát, nói cụ thể là bị đập ra từng mảnh rời rạc, nếu quan sát từng mảnh thì mất ý nghĩa hoặc ý nghĩa bị xuyên tạc như người xem con voi mà chỉ thấy cái đuôi giống như cái chổi, lỗ tai giống như cây quạt. Tại sao ta không sưu tầm, ráp nối, tìm hiểu thực chất mảnh vụn đó? Thời quân Tàu cai trị còn lưu lại những chuyện cổ tích, những giai thoại - những mảnh vụn quý báu, đáng tin cậy. Người Pháp đập văn hóa nước ta ra từng mảnh vụn, những gì của ta còn lại đều là giai thoại sai niên biểu, là cổ tích, mê tín không xài được. Không là tài liệu đáng tin cậy - chỉ là nhảm nhí, trà dư tửu hậu, chuyện khôi hài. Dường như người Pháp - theo phương pháp của họ - đã gọi đó là anecdote. Anecdote của đám dân quê, của Cống Quỳnh, đượm thần quyền, ma quái.

Phải chăng chuyện cũ thì đã bị khai thác triệt để rồi, còn gì mà nói?

Thật ra, người Pháp che giấu tất cả. Một số "học giả" học trường Tây lại muốn đi xa hơn, ngược về quá khứ xa xưa, càng xa càng tốt để dễ bề làm việc, được yên ổn tâm thần, đồng thời lại được hy vọng nổi danh khắp thế giới hơn là nói chuyện thời dân tộc ta bị trị. Đào xới gặp một cái hũ, một cục đá vẫn là dễ chịu cho lương tâm hơn là đào xới một bộ xương người, nhưng nếu là xương người thì nên tìm bộ xương nào đã nằm trong lòng đất trước thời nhà Nguyễn. Vài "học giả" Tây phương đi phiêu lưu qua thuộc địa tìm danh lợi - tìm dễ dàng hơn ở chánh quốc - đã dùng phương pháp khách quan, nhân bản của họ để ca ngợi vài tên phản quốc bổn xứ, có công đánh Nam dẹp Bắc hoặc ru ngủ dân tộc. Chúng ta chưa đính chánh hẳn hoi. Đào xới một bộ xương cọp chết vẫn là dễ dàng và sang trọng hơn là đối diện với một con cọp sống. Nào ai cấm cản các nhà khảo cứu đi sâu vào phong trào Cần Vương, Duy Tân, cách mạng kháng Pháp nữa đâu? Viết lại đời hoạt động của ông Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh hoặc ông Đồ Chiểu là việc khá thực tế, cấp bách, viết với quan niệm mới, với lòng tự tin lòng yêu nước. Chúng ta còn nhiều sử liệu vì nhiều vị nầy ở miền Nam. Người Pháp đã nói về ông Đồ Chiểu, qua Lục Vân Tien, xem đó là tác phẩm lớn. Họ cố ý bỏ quên những bài bát cú, những bài văn tế của ông Đồ Chiểu. Người Việt Nam nên đặt lại vấn đề: Lục Vân Tiên được sáng tác khi người Pháp chưa đến, miền Nam chưa mất. Những bài văn tế của ông Đồ Chiểu mới thật sự là tác phẩm lớn, là nỗi lòng của ông và của dân tộc.

Giờ đây, người ngoại quốc đang hướng về dân tộc ta. Nhưng nhà khảo cứu ở nước ta thì hướng về ngoại quốc, muốn xuất ngoại để trình luận án hoặc tìm thêm tài liệu về Việt Nam. Trường hợp Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu được các nhà khảo cứu nhân văn ở Việt Nam nhận xét như thế nào, qua cái lăng kính "nhân bản Tây phương"? Họ quan tâm đến không? Họ có ý thức sưu tầm tài liệu để khảo sát đúng phương pháp của "Tây phương" hay không? Hay đó chỉ là huyền thoại, là chuyện tình cảm lẩm cẩm, là "anecdote"? Hỡi ơi! Những người nhân bản không dám đối diện với tấm gương nhân bản nóng rực như lửa mà mát rượi như gió trên đồng lúa. Họ không dám thú nhận sự bất lực của một phương pháp không thích nghi, hẹp hòi, phiến diện, chỉ tạm có giá trị đối với Tây phương khi các dân tộc chậm tiến chưa được lên tiếng. Khi mới xâm chiếm nước ta, vài sĩ quan Pháp trong quân đội viễn chinh đã nói thẳng mà không sợ phản tuyên truyền, không sợ mất chức vì giới quân đội họ lúc ấy khá mạnh nhờ khí giới. Họ nắm chắc sức thắng thế (Ch. Gossenlin, Réveillère). Họ nhìn nhận rằng Phan Đình Phùng giàu khí khái, rằng dân chúng vùng Gò Công có người hùng đúng nghĩa như người Hy Lạp thời cổ. Những sử liệu như trên đáng được gìn giữ, gạn lọc và chúng ta háo hức chờ đợi một công trình "giải độc" về sử học. Công trình nầy phải do người Việt Nam làm lấy vì "ai yêu nước Việt hơn người Việt"... Nếu cần viện trợ kỹ thuật thì chúng ta thiết tha yêu cầu người Pháp, người Nhựt, người Anh, người Mỹ... giúp chúng ta những tài liệu liên quan đến lịch sử Việt Nam mà họ đang giữ. Hoặc nhờ họ giảo nghiệm những bộ xương, những đồ gốm, đồ đồng. Với các nước nhược tiểu ở Đông Nam Á, ta cần liên lạc để trao đổi tài liệu và phương pháp. Một quyển sử được biên khảo với tinh thần nói trên ắt sẽ làm hài lòng toàn dân, được chào đón niềm nở.

Người nghiên cứu không còn cô độc nữa. Họ sẽ tranh luận thẳng thắn với nhau, với tinh thần xây dựng, hứng thú. Và người dân dốt nát sẽ muốn gần nguời khảo cứu hơn.

...

Đám sương mù dường như đang che sự vật. Nhiều người đang ở Sài Gòn mà không hiểu Sài Gòn. Sài Gòn muôn mặt, người ta nói như thế. Muôn mặt là thế nào? Chỉ là muôn ngàn giai thoại dễ tin và khó tin chung quanh một sự việc hay nhiều sự việc. Người ngoại quốc nào xem qua quyển "Sài Gòn năm xưa" của ông Vương Hồng Sển ắt phải bực dọc vì quyển ấy không xây dựng theo phương pháp Tây phương. Ngoài phần khảo cứu, tác giả cho xen vào bao nhiêu là giai thoại, chính tác giả gọi đó là tập "biên khảo thường đàm". Đã là giai thoại thì phải truyền khẩu, đã truyền khẩu thì dễ thêm thắt, trong vòng hai tháng một đôi năm thì câu chuyện lý thú bi ai đã thay đổi từ chi tiết đến nội dung, sai lạc niên biểu (trong văn học ta, có nhiều tác phẩm như Công dư tiệp ký, Tang thương ngẫu lục, Kiến văn tiểu lục thuộc vào loại này, thấy thích là ghi chép).

Nhưng trong nhiều trường hợp, các giai thoại thường đàm lại chứa đựng sự thật, là sử liệu biến chất nhưng còn cái lỏi tốt. Nó che giấu, bảo tồn những điều mà nhà cầm quyền phong kiến hay thực dân giấu giếm, không dám cho phổ biến trên sách vở, báo chí. Một thứ bia miệng lắm khi bền chắc hơn bia đá. Dân ở nước nghèo nàn như nước ta thời vua quan, thời bị thực dân đô hộ thích dùng giai thoại để giải khuây, an ủi, un đúc tinh thần lẫn nhau, nếu không là tranh đấu. Ra báo, in sách thì tốn tiền mua sắm phương tiện, lại cần tự do, người viết cũng như người đọc đều phải biết chữ. Đêm khuya rảnh việc, lúc ăn tiệc, lúc thăm viếng nhau thì còn gì hơn là, tặng cho nhau vài giai thoại ít ai biết. Người dốt dùng giai thoại để trao đổi với người dốt. Công chức, địa chủ thời Pháp thuộc, hoặc quan cai trị Pháp đều có những giai thoại riêng của từng lớp họ. Giới bình dân ở thành thị, ở thôn quê, từng xóm, từng tỉnh lại có giai thoại riêng. Và nhiều giai thoại được phổ biến qua mọi từng lớp. Lời nói là phương tiện ít tốn kém, ít nguy hiểm hơn văn tự. Đã nói lén, đã phổ biến một mẩu chuyện "bất hợp pháp" thì người ta sẽ tùy đối tượng mà trình bày, thêm hoặc bớt chi tiết, giữ gương mặt nghiêm trang hay cười xòa như kẻ vì kém học thức nên nói bậy "xin bà con miễn chấp, tha thứ cho". Đã đến lúc chúng ta sưu tầm những giai thoại để làm giàu cho kho tàng văn hóa nước nhà. Nước ta chịu nhiều năm dưới ách Trung Hoa và thực dân Pháp nên giàu về giai thoại. Tha hồ mà tìm kim cương trong tảng đá cứng, nếu dám đập bể tảng đá. Tha hồ mà luyện vàng nếu ngọn lửa cháy nóng đúng độ. Cứ đọc "Sài Gòn năm xưa" để hiểu về nết ăn thói ở dưới thời đàng cựu:

Đông đảo thay phường Mỹ hội
Sum nghiêm bấy làng Tân khai
Ngói liễn đuôi lân, phố thương khách tòa ngang dãy dọc
Hiên sè cánh én, nhà quan dân hàng vắn hàng dài
Gái nha nhuốc tay vòng tay niểng
Trai xênh xang chơn hớn chơn hài...

Khung cảnh ấy thay đổi. Tây qua chiếm Sài Gòn, lại nảy sanh nhiều bọn hầu cận, dọn bàn, mấy thầy thông ngôn ký lục, bọn ba-nhe, ban-bù, xách giỏ cho bà đầm đi chợ. Một số nhân vật bổn xứ ra mắt và họ vào lịch sử với những "giai thoại" về nghệ thuật lập công với Tây của tổng đốc Lộc, phương pháp mị dân "hiền lành" của tổng đốc Phương và sự giữ gìn tiết tháo của Trương Vĩnh Ký, Paulus Của. Lại còn giai thoại về nhứt Sĩ, nhì Phương, của tam Xường, tứ Định, những nhân vật Hoa kiều làm giàu hồi Tây mới qua. Ngoài ra còn giai thoại về đại ca Tư Mắt, về hoàng đế Phan Xích Long, về vua cờ bạc Sáu Ngọ. Những nhà khảo cứu Pháp đã nghĩ gì về những giai thoại đó? Họ sẽ chê bai rằng người Việt Nam không biết tranh thương với Hoa kiều, nặng óc mê tín, đàng điềm cờ bạc và nếu không trừng trị gắt gao thì trở thành du côn Bồn Kèn? Đành rằng người Pháp đã đồng lõa với những "tệ đoan" ấy - tất cả đều là tệ đoan, từ sòng bạc đến cuộc phiến loạn - nhưng cuộc khai hóa nào mà không gây nên xáo trộn, xương máu? Đó là rác rến của dòng sông cuồn cuộn chảy, kẻ nào vạch lá tìm sâu thì không thấy sự thật khách quan hùng biện là công trình bảo vệ văn hóa mà người Pháp ra tay gánh vác giùm cho người bổn xứ, gánh vác với tinh thần bất lợi; nhiều khảo cứu Pháp đã làm việc như một tu sĩ, như nhà "hiền triết". Giai thoại là tài liệu lăng nhăng "bên lề đường" người đứng đắn không quan tâm đến thứ tài liệu cỏ rác đó. Mặc cho người Pháp đánh trống lảng đưa giới trí thực Việt Nam vào thời tiền sử với trống đồng, lưỡi tầm sét và tượng Phật gãy tay, người địa phương làm sao quên được những chuyện có thật mà nhân chứng hoặc nạn nhân còn sống đó, mà con cháu đang ôm hận thù. Cuộc nổi loạn của ông Quản Hớn ở Mười Tám Thôn Vườn Trầu há chẳng biểu dương hào khí của người Miền Đông! Nhưng ai chép lại, ai bổ cứu những giai thoại đó? Người địa phương cứ bàn tán, nhắc nhở cho nhau từ hàng năm mươi năm. Đó chưa phải là bằng cớ chứng minh họ nói láo, nói xấu nhà nước thuộc địa hoặc họ mang nặng đầu óc vị chủng, bài ngoại mù quáng.

...

Thưc tế đã chứng minh: người Việt biết phản ứng khéo léo, từ ngày xưa cũng như các dân tộc ở Á Châu, Phi Châu biết phản ứng khi gặp gỡ những văn hóa lạ, khác với văn hóa sở tại. Sự phản ứng này đã bộc lộ những điều hay, điều dở của người Việt. Về sự gặp gỡ của nền văn hóa bổn xứ với nền văn hóa từ bên ngoài, các nhà xã hội học Âu-Mỹ đã cố gắng nghiên cứu đặt ra một ngành đặc biệt là họ coi là Acculturation. Ngành nầy đặt ra quá trễ từ sau đệ nhị thế chiến. Khi gặp luồng văn hóa ngoại quốc xâm nhập thì nền văn hóa dân tộc phải phản ứng, sự phản ứng có thể là sáng tạo, nếu nền văn hóa địa phương đủ sức mạnh mẽ để tiêu hóa, tiếp nhận. Ngược lại thì xảy ra nhiều thảm kịch. Văn hóa dân tộc bị đập ra từng mảnh vụn vô nghĩa, từng miếng thịt rời rạc mất sức sống, đồng thời sanh ra một số người vong bản, sống vất vưởng không còn năng lực để bám vào "lòng đất mẹ" hầu tái tạo, khôi phục lại giá trị cũ làm căn bản cho nếp sống mới. Thế là văn hóa dân tộc bị tiêu diệt.

...

Thời kỳ hoàng kim của những nhà khảo cứu Pháp là khoảng sau năm 1900.

Họ khảo cứu và bảo tồn văn hóa Việt Nam một cách lạnh lùng, "khoa học", cố tình làm tai ngơ mắt điếc trước phong trào tranh đấu mở mang văn hóa, đòi tân học do các sĩ phu đề xướng.

Họ làm chuyện nầy trong khi sĩ phu và dân Việt đòi chuyện kia - hai chuyện đều là "văn hóa". Họ nghiên cứu văn hóa Việt để kềm hãm người Việt, để cho người Việt mang mặc cảm tự ti, ngỡ mình là dân tộc oai hùng, có nhiều nét đẹp thời xưa nhưng đã lỗi thời, nên an phận ôm giấc mộng vàng son thời xưa mà chờ vận hội mới do người Pháp chỉ dạy. Các sĩ phu Việt Nam thì muốn tự cường, hiểu văn hóa với nghĩa linh động, xem văn hóa là một tiềm lực.

...

"Văn chương bát cổ" bị công kích chỉ vì thiếu nội dung, vì nội dung xa thực tế đau thương của dân tộc. Các ông Phan Sào Nam, Trần Quý Cáp vẫn dùng hình thức liễn đối, thơ bát cú, văn tế, phú. Ông Trần Quí Cáp người hăng hái cổ xúy tân học, khi ra tới trường chém, "đao đã ghé cổ, còn thung dung xin với quan giám trảm cho đặt án đốt hương, áo mão nghiêm trang bái tạ quốc dân ngũ bái rồi khẳng khái tựu hình, sắc mặt in như khi nhóm trò giảng sách". Sĩ phu miền Trung đã kháng Pháp, tiên đoán thực tế, từ hồi đầu thế kỷ 20. Văn hóa, đối với các vị nầy là vận mạng dân tộc. Người thích văn chương thuần túy sẽ bực mình vì các vị nầy làm thơ nực mùi chánh trị. Các vị chống thực dân Pháp với một tư thế, một sự kiên nhẫn, gan lì khá độc đáo. Sưu tầm những tài liệu cuộc tranh đấu nầy, tổng kết lại là việc cần thiết. Chúng ta có phương tiện gần đầy đủ ở miền Nam, việc làm nầy rất hữu ích tuy không làm chấn động giới "khảo cổ quốc tế" như trường hợp tìm ra một ngôi mả xưa, một pho tượng hồi thế kỷ thứ III, một cái sọ người!

Gẫm lại sọ người, cái lưỡi tầm sét, ngôi mả xưa chỉ gây xúc động cho người Việt và nhân loại khi nào nó là một bộ phận tiêu biểu cho sự tiến bộ, cho niềm hy vọng, nỗi đau thương, khi từ cánh tay gãy bằng đá, từ cái sọ mục nát phát ra nhiều hào quang, tưởng chừng như trong cái sọ ấy có óc và cánh tay nọ có máu nóng đang chảy. Nó dính dáng đến đại thể, dính dáng mật thiết - nói nôm na là nó có duyên. Mỗi pho tượng chỉ gợi cảm khi nó có duyên, giải đáp một vấn đề. Người có duyên phải biết đòi hỏi, đặt vấn đề đúng lúc, vấn đề ấy không phải của riêng mình là của chung dân tộc. Ở lăng ông Thoại Ngọc Hầu bên chân núi Sam gần kinh Vĩnh Tế (Châu Đốc), còn có câu đối hai bên mộ bia: "Văn chương hoán tinh đẩu... " Thoại Ngọc Hầu chỉ ưa xem hát bội, không để lại cho hậu thế bài thơ nào. Ông lo trấn giữ bờ cõi, di dân lập ấp, tổ chức đào nhưng con kinh chiến lược đúng nơi đúng lúc. Ông làm chánh trị, làm quân sự, làm kinh tế. Vùng biên thùy Hậu Giang trở thành một nơi "sơn thủy hữu tình thiên lý ngoại", với bao nhiêu sinh lực. Ông Thoại Ngọc Hầu là tiêu biểu của văn chương.

...

Ngay lúc đọc sách báo, người thành thị chợt nhớ chút gì, đó là lương tâm, đó là cái dại của cái khôn, đó là sự thất bại, sự rạn nứt của tiện nghi. Người ta có thể tỉnh rượu trong lúc say. Và nào đợi gì lúc canh tàn mới thức giấc? Tình đồng loại đòi những giải đáp làm ray rứt lương tâm. Ray rứt năm phút rồi dứt hay là khi hết ray rứt cơn đau ấy vẫn tiếp tục hoành hành, người ta chỉ tạm quên ray rứt vì ngửi mùi hoa hồng, hoa sói? Cơn ray rứt ấy là một phản ứng tâm lý cấp thời, có thể trị được hoặc chuyển nó qua hướng khác như trường hợp những hài nhi không bú vú mẹ, lớn lên thì cứ cho uống sữa tươi, ăn kẹo và cho nhìn những bộ ngực hỏa diệm sơn để giải phóng mặc cảm. Hoặc cơn ray rứt đó là đáy biển, bị sóng cồn che lấp. Hoặc là mạch nước suối dạt dào của bốn ngàn năm văn hiến, bị che lấp, trên mặt đất chỉ còn lơ thơ vài cụm cỏ vàng úa. Người ta bèn trị cái bịnh ray rứt đó bằng cách nghe đọc truyện Kiều, ăn cá lóc nướng truôi, ngâm thơ tiền chiến, xem hát bội, ăn sầu riêng Lái Thiêu, bưởi Biên Hòa, chơi đồ sành sứ, đi câu cá, ráp những chiếc máy bay nhỏ, trồng kiểng, thổi sáo, hoặc mặc áo dài, đội khăn đóng, ăn thịt chó, uống rượu, hát tâm ca, du ca. Những món ăn "dân tộc", các sản phẩm địa phương ấy trở thành những mảnh vụn vá víu, thiếu sinh lực, bị chặt đứt khỏi gốc, trở thành những "vật". Đem cây cột nhà, cây chổi, con đỉa ráp lại, người ta khó tạo thành con voi, dẫu là bóng hình mờ nhạt.

Cái tiện nghi vật chất và tinh thần của Tây phương mời mỗi người vào một phòng kín đáo, trong đó không khí được điều hòa, ấm lạnh tùy thích. Khổ thay cái gian phòng "điều hòa" của người Việt không được kín cho lắm. Nó vừa kín vừa hở, cửa đóng, tâm tư khép kín nhưng nó giống như căn nhà của người Mán và thi sĩ Tản Đà đã mô tả với tiếng "lợn kêu eng éc bên ngoài cửa phên", "song thưa gió lọt bốn bên lạnh lùng".

Tấn bi kịch nói trên đang diễn ra ở con người thành thị. Nói rằng toàn thể người thành thị đều mắc bịnh "bi đát" đó thì không đúng. Ngược lại, nói rằng tòan thể người ở thôn quê đều không ham tiện nghi cá nhân thì lại càng không đúng.

Một ký giả phân tích rằng con người Việt Nam gồm ba con người khác nhau cộng lại: một thằng bồi, một người nghèo đói, một người kiêu hùng, khinh tất cả Tây Tàu. Tùy từng người mà tỷ lệ bồi, kiêu hùng, nghèo... được thêm bớt. Xem qua thì đúng nhưng nếu đã quá bồi thì trở thành nô lệ, kiêu hùng chỉ còn là cái vỏ trống rỗng. Nếu kiêu hùng đến mức nào đó thì người ta không bao giờ chịu làm bồi. Và hèn hạ đâu phải là một hình thức thấp của kiêu hùng. Hai tiếng nghèo đói được nhắc nhở luôn luôn, đã nhàm rồi. Nhiều người xuất thân nghèo đói đã trở thành tàn nhẫn để trả thù xã hội, họ nói chuyện nghèo đói rất giỏi, rất hùng biện nhưng họ đứng về phe gian thương, họ dám nhơn danh những con Rồng cháu Tiên nghèo đói để nói huyên hoang, khi cần.

...

Văn hóa là mãnh lực tinh thần, đã là mãnh lực thì tuôn chảy thao thao, biến hóa huyền ảo. Ôm ấp khư khư một giai đoạn, một hình thức tức là mang tội u mê mà liệt sĩ Trần Quí Cáp đã nguyền rủa khi đề cập đến bọn quan lại Nam Triều ích kỷ, "độc lạc mỗi ngày ca võ mãi".

U mê có lẽ là đồng nghĩa với vong thân. Cái u mê của người giả vờ quên thế sự, của bọn Tống Nho khư khư ôm chồng sách vở cũ, ôm những biểu tượng mơ hồ để mà tạ mãn.

Cái u mê của người thêu dệt những thành tích của mình hồi mấy năm về trước, hồi kháng Pháp rồi cho rằng ta đây là vô địch về yêu nước. Cũng như cái u mê (đã qua rồi) của người chạy theo thời trang, chạy nợ để mua cho bằng được chiếc xe gắn máy Nhựt, ban đêm cứ lau chùi chiếc xe rồi vặn đèn lên cho sáng nhà, đem chiếc xe để trên cái đi-văng mà ngắm nghía.

Người Việt Có Dân Tộc Tính Không
Tháng 11 năm 1967
Sơn Nam

 




Chuyện người vàng
Tuesday, March 13, 2012 Author: Trường An

Trích Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ - Nguyễn Án.

Quan thượng thư Nguyễn Công Hãng là một văn tướng nổi danh đời Chúa An Vương ( tức Trịnh Cương), đỗ Tiến Sĩ năm 21 tuổi, làm đến Đốc Trấn An Bang ( nay là tỉnh Quảng Yên).

Năm thứ 57 đời Nhà Thanh, niên hiệu Khang Hy, ông làm Binh Bộ Tả thị Lang gặp ký tuế cống, được sang làm chức Chánh Sứ. Khi xưa Đức Thái Tổ Hoàng Đế giao chiến với quân nhà Minh ở núi Mã Yên(1) có chém chết viên tướng nhà Minh là An Viên Hầu Liễu Thăng, người nhà Minh buộc phải bồi thường nộp cống bằng vàng để đền mạng.

Khi nhà Mạc cướp ngôi, nhà Minh sai Cửu Loan và Mao Bá Ôn sang đánh. Mạc sợ lại xin dâng cống người bằng vàng để cầu hòa. Đầu năm Trung Hưng, nhà Minh lại viện cớ đã giết công thần của họ là Mạc Mậu Hiệp, bắt ta phải đúc người bằng vàng dâng cống để tạ lỗi rồi dần dần thành lệ. Nay ông xin bãi bỏ lệ cống hiến đó.

Sau các Bộ, Viện bên Trung Quốc lại đem các việc cống đó ra hỏi, ông nói:
-“ Quốc Vương tôi ngày nay theo giữ nghiệp cũ, vẫn không trễ nãi việc chức cống, còn các việc thâu thành nạp khoản thì kẻ sứ thần này không dám biết đến”.

Sau họ lại hạch đến chuyện Liễu Thăng bị giết, ông nói:
-“ Liễu Thăng là một viên tướng nhà Minh, nay Hoàng Triều nhà Thanh bao gồm có hàng muôn nước, can chi phải nhắc đến chuyện cũ, yêu sách mọi điều, để trả thù một người. Sao đủ để khuyên răn người theo qui thuận.”

Lại còn bắt cống hũ nước rửa ngọc trai lấy ở giếng Loa Thành ( theo sự tích Trọng Thủy-Mỵ Châu) ông cũng bỏ đi, mà lấy nước giếng ở Ba Sơn đem cống, họ thử không thấy hiệu nghiệm liền trách, ông nói:
-“Đó là vì khí mạch của Trời-Đất, lâu ngày ắt phải đổi”.

Từ đó, hai thứ cống hiến ở trên được miễn là bắt đầu từ ông vậy.




Thơ Gia Long
Sunday, February 5, 2012 Author: Trường An

Những bài thơ này được ghi trên đồ sứ men lam do Gia Long ký kiểu ở Trung Quốc vào năm Canh Ngọ (1810).

Bài 1: Tô kiểu "nhất thi nhất họa". Một mặt vẽ cảnh rừng núi trùng điệp, hùng vĩ. Quanh lối mòn có vài tiều phu gánh củi trở về, kèm bài thơ đề vịnh:

"Nguồn tham, đò dục suốt chăng mang,
Bao nã đem mình ẩn núi Thương
Lưng vận búa trăng, chơi đủng đỉnh,
Chân chầy ngàn tuyết, bước xênh xang.
Tấc tài dài vắn, tay thu thập,
Một gánh giang sơn, sức đảm đang.
Dù nhẫn mai ngơi vào thạch thất,
Đành đành bắt chước thói chàng Vương."

Quý hạ vọng hậu, đề ở Thúy Liên đường
(Viết ở Thúy Liên đường, sau ngày rằm tháng 6)

Chú thích:

- Núi Thương: Nơi ẩn của bốn cao sĩ (Tứ hạo) dưới thời Tần. Sau Hán Cao tổ có cho sứ đến mời về triều nhưng từ chối.
- Thạch thất: Sau khi diệt Tần, Hán Cao tổ Lưu Bang cho xây một tòa nhà bằng đá, trong đó có ghi lời thề: Con cháu các công thần đời đời được nối nghiệp làm chư hầu của nhà hán.
- Chàng Vương: Tức Vương Duy, tự Ma Cật. Một thi bá đời Đường, làm quan tới chức Thượng thư. Ông vẽ rất đẹp, được đời tôn làm tổ sư của Nam Tông họa phái. Hâm mộ đạo Phật, về già ăn chay tu thiền.



Bài 2: Cùng kiểu thức với tô trên. Vẽ cảnh sông hồ bát ngát, trời nước mênh mông. Ngoài xa có vài ba chiếc thuyền chài lênh đênh. Trên bờ là một xóm chài, ven núi non chất ngất. Thơ đề vịnh:

"Xanh xanh chiếc lá nổi dòng La,
Khơi lộng năm hồ mặc thích ta.
Ngợi khúc Thương Lang, vang nhịp bảy,
Ra tay thủ đoạn tóm giềng ba.
Sông đào mảng tưởng nguồn cơn thẳm,
Ngày bạc nào hay tuổi tác già.
Chớ sợ trầm lôi, vui chí Thuấn,
Ngao du bốn biển lấy làm nhà."

Quý hạ vọng hậu, đề ở Thúy Liên đường
(Viết ở Thúy Liên đường, sau ngày rằm tháng 6)

Chú thích:

- Thương Lang: Được ghi vào điển tích với câu nổi tiếng trong sách Mạnh Tử, bài Nhụ tử ca: "Nước Thương Lang trong chừ, khá đem giặt mũ ta. Nước Thương Lang đục chừ, khá đem rửa chân ta."
- Ngày bạc: Tức bạch nhật, từ dùng để chỉ thời gian. Ví dụ: "Lân la ngày bạc qua hồi xuân xanh" - Phan Trần.
- Bài thơ bị mất 2 chữ đầu câu 8, do người dịch thêm vào chữ "ngao du".

Bài 3:

"Lân la chiếu đất liền màn trời
Thong thả rừng đào mặc thích chơi
Ghẹo nguyệt nghêu ngao ba chặp địch
Nhúng sương chỉ vẫy một tay roi
Xang ca Ninh Thích khoan khoan dắng
Tưởng trận Điền Đan khích khích cười
Dò hỏi chúng chàng nào bói thử
Thưa rằng chúa Hán có tin bài."

Quý hạ vọng hậu, đề ở Thúy Liên đường
(Viết ở Thúy Liên đường, sau ngày rằm tháng 6)

Chú thích:

Ninh Thích ▼

Điền Đan ▼



Thơ được ghi trên đồ sứ ký kiểu ngự dụng, hẳn đây là bộ "ngư, tiều, canh, mục". Tài liệu được Trần Đình Sơn (đồng thời là nhà sưu tập cổ vật) viết trên tạp chí Kiến thức ngày nay số 139 vào năm 1994 và cung cấp cho Doanh nhân Sài Gòn vào Tết 2009 bài về trâu.

(Nhiều người nghi những bài thơ này của Đặng Đức Siêu, Nguyễn Văn Thành hay Nguyễn Phúc Thăng. Nhưng nếu những bài này làm vào sau tháng 6 năm 1810, thì tháng 1 năm đó, mẹ Nguyễn Văn Thành vừa mất, ông đã về quê chịu tang đến năm sau mới lên Kinh; Đặng Đức Siêu qua đời vào tháng 2 cùng năm. Không hiểu vì lý do gì (ngoại trừ cố sống cố chết không muốn Gia Long biết làm thơ ( =)) )) mà những bài này được gán cho Nguyễn Phúc Thăng - người còn nhỏ hơn Gia Long mấy tháng tuổi và theo cuộc sống của ông ấy thì khó mà có cái khẩu khí này? Nhìn ngược nhìn xuôi không còn ai, vậy thì cứ coi đây là thơ của Gia Long đi. Dù sao, việc đem thơ của mình đi ký kiểu đồ sứ vốn là truyền thống đã có từ thời chúa Minh Nguyễn Phúc Chu.)




Phủ biên tạp lục (tt)
Tuesday, January 31, 2012 Author: Trường An

Đất Phú Xuân huyện Hương Trà xưa là xã Thụy Lôi, Nguyễn Phúc Trăn xưng là Hoằng quốc công bắt đầu đặt dinh trấn ở đấy. Đất rộng bằng như bàn tay, độ hơn 10 dặm, ở trong là Chính dinh, đất cao, bốn bề đều thấp, tức là chỗ nổi bật ở giữa đất bằng ngồi vị càn (Tây Bắc) đối hướng tốn (Đông Nam), dựa ngang sống đất, trông xuống bến sông; đằng trước là quần sơn, chầu về la liệt, toàn thu nước ở bên hữu, vật lực thịnh giàu. Từ năm Đinh Mão Chính Hòa thứ 8 đến nay chỉ 90 năm, mà ở trên thì các phủ thờ ở Kim Long, giữa thì cung phủ hành lang, dưới thì nhà cửa ở Phủ Ao. Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu, đổi tên đề biển, có hai điện Kim Hoa, Quang Hoa; có các nhà Tựu Lạc, Chính Quan, Trung Hòa, Di Nhiêu; đài Sướng Xuân, các Dao Trì, các Triêu Dương, các Quang Thiên, đình Thụy Vân, hiên Đồng Lạ, am Nội Viên, đình Giáng Hương, công đường, trường học và trường súng. Ở thượng lưu về phía Nam có phủ Dương Xuân và Phủ Cam. Ở trên nữa có phủ Tập Tượng; lại dựng điện Trường Lạc, hiên Duyệt Võ, mái lớn nguy nga, đài cao rực rỡ, mà giải vồ, tường, bao quanh, cửa bốn bề, chạm khắc vẽ vời, khéo đẹp cùng cực. Các nhà đều lát nền bằng đá, trên lát ván kiền kiện, những màng xối đều làm bằng kẽm để hứng nước; trồng xen cây cối, cây vả cây mít đều to mấy ôm. Vườn sau thì núi giả đá quý, ao vuông hồ quanh, cầu vông thủy tạ, tường trong tường ngoài đều xây đầy mấy thước, lấy vôi và mảnh sứ đắp thành hình rồng phượng, lân hổ, cỏ hoa. Ở thượng lưu và hạ lưu Chính dinh đều là nhà quân bày hàng như bàn cờ. Những nhà của thủy quân lại ở đối ngạn. Xưởng thuyền và kho thóc thì ở các xã Hà Khê, Thọ Khang trên thượng lưu. Còn nhà vườn của các công hầu quyền quý thì chia bày ở hai bờ thượng lưu sông Phú Xuân, cùng hai bờ sông con bên hữu Phủ Cam. Ở thượng lưu hạ lưu phía trước Chính dinh thì chợ phố liền nhau, đường cái đi ở giữa, nhà cửa chia khoảng tiếp nhau, đều là mái ngói. Cây to bóng mát, tả hữu thành hàng. Thuyền buôn bán, đò dọc ngang, đi lại như mắc cửi. Bài Sơn minh của Chu Dũ tin có câu rằng "Thanh ý xuân môn, câu cừ giao ánh; Lục hòe thu thị, châu tiếp tương thông" (Cửa xuân như dải vóc xanh, khe ngòi ánh lộng; Chợ thu dưới bóng hòe lục, thuyền chèo lại qua), tưởng cảnh sắc cũng như thế này thôi. Đại sĩ Ngô Hoàn Phúc năm Ất Mùi qua chùa Tây Thiên có đề câu thơ rằng:

"Bảo các quỳnh lâu bán dĩ hoang,
Phạm cung y cựu đối tà dương.
Khả liên nhị bách niên cơ nghiệp,
Bất cập sơn tăng nhất mộng trường."

(Lầu quỳnh gác ngọc nửa đà hoang,
Chùa vẫn như xưa đối ác vàng.
Cơ nghiệp hai trăm năm đáng tiếc,
Chẳng bằng giấc mộng của sơn tăng.)

---

Trước kia sự buôn bán với Đồng Nai được lưu thông, gạo ở Phú Xuân 10 thưng là 1 hộc (ngang 20 bát quan đồng) chỉ giá 3 tiền, có thể đủ cho 1 người ăn 1 tháng, nên dân chưa sốt sắng với việc làm ruộng. Nay ở Quy Nhơn có loạn, Gia Định cách trở, người ta mới lo thiếu lương thực.

---

Năm Cảnh Hưng thứ 5, Giáp Tí, Nguyễn Phúc Chu nhân nghe người Nghệ An truyền câu sấm "tám đời trở về Trung Nguyên", thấy từ Đoan quốc công đến nay vừa đúng 8 đời, bèn xưng vương hiệu, lấy thể chế mũ áo trong Tam Tài đồ hội làm kiểu, hạ lệnh cho hàng võ từ Chưởng dinh đến Cai đội, hàng văn từ quản bộ đến chiêm hậu huấn đạo, đều y theo kiểu mới, áo thì dùng vóc đoạn, người sang thì dùng mãng bào thủy ba, mũ thì trang sức bằng vàng bạc. Lại hạ lệnh cho trai gái hai xứ đổi dùng áo quần Bắc quốc để tỏ sự biến đổi; đến như khiến phụ nữ đều mặc áo ngắn hẹp tay như áo đàn ông thì Bắc quốc không có thế. Trải hơn 30 năm, người ta đều tập quen, quên cả tục cũ. Khi quân nhà vua vào cõi, người huyện Đăng xương là Trần Duy Trung dâng thơ có câu "Tám chúa chán xem Tân pháp độ; Trăm năm lại thấy Hán uy nghi".

---

Thuận Hóa được yên bình đã lâu, công tư đều dồi dào, mặc dùng tươi đẹp, lại trải qua thời Nguyễn Phúc Khoát hào phóng bắt chước nhau, làm thành thói quen, quan viên lớn nhỏ không ai là không nhà cửa chạm gọt, tường vách gạch đá, the màn trướng đoạn, đồ đạc đồng thau, bàn ghế gỗ đàn gỗ trắc, chén mâm đồ sứ đồ hoa, yên cương vàng bạc, y phục gấm vóc, chiếu đệm mây hoa, phú quý phong lưu, đua nhau khoe đẹp. Những sắc mục ở dân gian cũng mặc áo đoạn hoa bát ti và áo sa, lương, địa làm đồ mặc ra vào thường; lấy áo vải áo mộc làm hổ thẹn. Binh sĩ đều ngồi chiếu mây, dựa quả tựa hoa, ôm lò hương cổ, hãm chè hảo hạng, uống chén sứ bịt bạc và nhổ ống nhổ thau, đĩa bát ăn uống thì không cái gì không phải hàng Bắc, một bữa cơm ba bát lớn. Đàn bà con gái đều mặc áo the là và hàng hoa, thêu hoa ở cổ tròn. Coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ rất mực.

Thuận Hóa không có nhiều của cải, đều lấy ở Quảng Nam, vì xứ Quảng Nam là đất phì nhiêu nhất thiên hạ. Người Thăng Hoa Điện Bàn biết dệt vải lụa vóc đoạn lĩnh là, hoa màu khéo đẹp chẳng kém Quảng Đông, ruộng đồng rộng rãi, gạo lúa tốt đẹp, trầm hương, tốc hương, sừng tê, ngà voi, vàng bạc, đồi mồi, trai ốc, bông, sáp, đường, mật, dầu, sơn, cau, hồ tiêu, cá muối, gỗ lạt, đều sản xuất ở đây. Ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Gia Định thì thóc gạo khôn xiết kể, khách Bắc buôn bán quen khen bao không ngớt.




Phủ biên tạp lục
Tuesday, January 31, 2012 Author: Trường An

Lê Quý Đôn viết khi đến Phú Xuân làm Hiệp trấn vào năm 1776.



Sang năm Bính Thân (tức năm 1776 sau Công nguyên), chúng tôi vâng mệnh lệnh nhà vua nhậm chức Tham thị Quân vụ, đồng thời được lãnh chức Hiệp trấn ở cõi đất mới này (tức trấn Thuận Hóa).

Lúc bấy giờ, quân binh và nhân dân đang ở lẫn lộn với nhau. Cá tỳ tướng và quân hiệu thì ỷ lại thế lực, họ lấy trộm các tài liệu và triệt hạ những chốn quân phòng cũ để làm những đồn mới. Họ lại còn chuyên quyền bắt bớ, giam cầm và khám xét những người khác nữa.

Đồng tiền kẽm không được lưu hành, giá lúa gạo ngày càng nhảy vọt. Những nhà làm muối đều phải bỏ nghề nghiệp của mình. Các quan chức cũ cùng với nhân dân ở các địa phương trong hạt tranh giành nhau ruộng nương, đất đai, rồi do đó mà xảy ra không biết bao nhiêu vụ kiện thưa và bới móc chuyện riêng của nhau nữa.

Cách ăn mặc của quan lại và nhân dân thì khác biệt nhau hẳn. Vì vậy mà những kẻ hung hãn, bạo tàn ngày càng điêu ngoa đắc chí; còn những kẻ yếu hèn cô thế càng ngày càng sinh lòng phẫn uất oán hờn.

Đứng trước tình cảnh ấy, chúng tôi cùng các quan đồng liêu trù liệu bàn bạc, và khu xử mọi việc đều được thích nghi.

... Còn cách thức may y phục như áo mặc và mũ đội từ lâu nay người ta theo dị dạng, thì bắt buộc phải sửa đổi lại cho hợp thức, khiến ai nấy đều phải tuân theo chế độ Quốc triều.

Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ số tiền sắm sanh y phục tuy không đáng bao nhiêu, nhưng vật dụng lại đáng quý, cho nên chúng tôi cũng khoan cho người ta một thời hạn, trước khi bắt buộc ai nấy đều phải đổi hẳn kiểu ăn mặc cũ.

---

Phúc Thuần 12 tuổi nối ngôi, tự hiệu là Khánh Phủ đạo nhân, lại có tên là Phúc Hân. Tuổi trẻ, thích chơi bời múa hát, lại có bệnh không gần đàn bà được, sai người con hát yêu dâm loạn với cung nữ để làm vui; chuyên dùng Trương Phúc Loan, tôn làm Quốc phó. Phúc Loan tha hồ bán quan, buôn ngục tù, xử lý việc hình luật rườm rà, bắt dân chúng đóng góp sưu thuế rất nặng. Chú Phúc Thuần là Thường Quận công bị Phúc Loan ghét, vu cho tội tự tạo binh khí mà giam lại. Người họ Nguyễn đều oán mà không dám nói.

Năm 34, Quý Tị, người thôn Tây Sơn huyện Phù Ly là Nguyễn Văn Nhạc nhà Tây Sơn xướng loạn, phá ngục cho tù, lùa dân chúng làm lính rồi chiếm cứ hai xứ Quy Nhơn và Quảng Nghĩa. Nguyễn Phúc Thuần cho quân đi đánh thì thua ngay. Tại hai xứ này, nhân dân thừa hưởng bình yên đã lâu nàgy. Chiến sĩ chỉ ngồi ăn không, chưa trải qua chiến trận bao giờ. Nay nghe nói nhà nước sai đi đánh trận, phần nhiều đều run rẩy sợ hãi, chỉ cần sao cho khỏi phải đi lính đánh trận là được. Trương Phúc Loan mỗi lần nhận của hối lộ, lại cho người cải sai (đổi công tác sai dịch). Đến sau, có những người bị bắt làm công tác sai dịch, họ yêu cầu người khác thay thế họ không được, lai sinh lòng oán hờn, giận dữ Trương Phúc Loan. Rồi mỗi khi lâm chiến trận, họ đều bỏ chạy. Trương Phúc Loan không thể nào lấy pháp luật mà ràng buộc người ta mãi mãi, nên cứ bị thua trận nhiều lần. Nguyễn Văn Nhạc bèn đánh phá, chiếm cứ dinh Quảng Nam. Bọn khách buôn vô lại là ngụy Tập và ngụy Lý cũng đều nổi lên theo, Nguyễn Văn Nhạc kết nạp làm vây cánh. Tập xưng là Trung Nghĩa quân, lại cho lấy những người cao lớn hung ác ở Quảng Nam cho cạo đầu kết tóc gọi là người Khách, khi ra trận khiến uống rượu say và cởi trần ra, đeo giấy vàng bạc vào cổ mà xông vào trận, tỏ ra là liều chết. Quân của Phúc Thuần cứ nghe tin là vỡ chạy, không dám đối địch. Từ Ải Vân trở vào Nam bị giặc chiếm cả, đâu đâu cũng bị tao loạn và náo động. Trương Phúc Loan lại vu cáo cho người anh của chúa Phúc Thuần là Văn Đức hầu tội làm phản chống lại triều đình. Sau đó vài tháng, Văn Đức hầu bỏ trốn đến châu Nam Bố Chánh. Trương Phúc Loan bắt Văn Đức hầu điệu về, rồi dìm Văn Đức hầu xuống sông Tam Giang. Người đời bấy giờ, ai ai cũng cho là Văn Đức hầu chết một cách oan uổng.

Lúc bấy giờ, ở Thuận Hóa, luôn mấy năm mất mùa đói kém, nhà nước phải xuất lúa kho chẩn cấp cho dân đói không ngừng, còn quân sĩ và nhân dân thì sinh lòng hoang mang, lưng chừng.

Niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 35, năm Giáp Ngọ (tức năm 1774 sau Công nguyên), Trấn thủ Nghệ An là Đoan Quận công Bùi Thế Đạt chuyển đệ tờ trình của tướng giữ đồn Bố Chánh là Trà Võ bá, đại lược nói: "Hiện thời tình hình Quảng Nam rối loạn. Triều đình đã bình định xong Hưng Hóa, khắc phục được Trấn Ninh, quốc đô chúng ta rất phồn thịnh. Nay Vương thượng đã soi tỏ, biết họ Nguyễn đã đến hồi suy vi hèn yếu. Cơ hội hiếm hoi này không nên bỏ qua. Vậy xin triều đình quyết định sách lược để chinh thảo quân địch..." Triều đình lập tức phái Đại tư đồ Quốc lão là Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc làm chức quan "Kiêm Thống suất binh Nam thượng tướng quân"; còn Đoan Quốc công làm chức quan "Kiêm Thống suất binh Nam đại tướng quân" thì đi kinh lược trước. Việp quận công đem 3 vạn quân trú đóng ở xứ Cầu Dinh.

Việp Quận công đưa thư chiêu dụ địch quân, đại để nói: "Triều đình vốn có thạnh ý cấp cứu và viện trợ nhân dân ở miền này..."

Phúc Thuần chưa chịu quy thuận triều đình, nhưng cũng không lo phòng bị lâm chiến.

Tháng 11 năm này, Vương thượng (tức chúa Trịnh Sâm)tấu tri Đức Hoàng thượng làm lễ kính cáo tại Giao đàn và nhà thờ Tôn miếu để thân ngự dẫn sáu sư đi đánh phương Nam.

Vương thượng lưu trú ở Cầu Dinh để chỉ dẫn và giao phó các phương cách sách lược.

Vương thượng ra lệnh cho Việp Quận công phải tiến quân qua đò sông Gianh đến đất Cao Lao.

Đồn tướng là Xu Chính hầu đón rước mệnh lệnh triều đình. Còn Trấn thủ Bố Chánh là Tiệp Tài hầu thì bỏ trốn mất dạng.

Tướng giữ lũy Trấn Ninh đều ra đầu hàng. Còn các tướng sĩ, lại thuộc, quân nhân và nhân dân ở đấy đều đem nhau quy thuận triều đình cả.

Trấn thủ đạo Lưu Đồn Trường Lộc hầu cũng như Trấn thủ Quảng Bình Kiêm Minh hầu đều những người tuổi cao sức yếu. Bao nhiêu binh lính dưới quyền hai người ấy trước kia đã được chuyển đến Quảng Nam. Số còn lại không thể thành quân ngũ cũng đều đến đầu hàng và quy phụ triều đình trung ương cả.

Việp Quận công noi theo lũy Trường Dục đi về phía Tây Nam đến Trạm Cung bắt được một kho chứa đựng một trăm bốn mươi vạn bát lúa.

Còn các tướng sĩ ở Cát dinh cũng đều ra quy thuận quan quân cả.

Từ Khang Lộc đến Hải Lăng có 5, 6 huyện, từ quan đến dân, từ lớn đến nhỏ đều tới bái yết trước cửa quân đông người như họp chợ, không một ai dám chống lại mệnh lệnh Việp Quận công cả.

Đại quân của Việp Quận công trú đóng tại bến sông xã Hồ Xã thuộc huyện Minh Linh.

Tại đây Việp Quận công sai người vào dụ dỗ Nguyễn Phúc Thuần. Thành quận công họ Nguyễn là Nguyễn Huống cùng tay chân bè lũ đều lập mưu bắt Trương Phúc Loan hiến cho Việp Quận công, đồng thời dâng bản tấu văn khẩn khoản xin hiến 800 lượng vàng lên triều đình, và đưa tặng Việp Quận công 200 lượng.

Phúc Thuần lại xin kính nạp bản đồ cùng sổ sách và xin dâng lễ cống hiến lên Lê hoàng.

Các điều mà Phúc Thuần khẩn thiết yêu cầu chưa được Việp Quận công phúc đáp thì viên cai đội của Phúc Thuần là Tô Nhuận đã nói: "Lần này quan quân triều đình đến đây không đông đúc cho lắm. Thống tướng thì bận áo bào vải xanh, còn quân sĩ thì áo quần tệ lậu. Như thế, tất nhiên không phải là đại quân."

Bởi vì tục quen ưa chuộng phù mĩ, xa xỉ, do đó mà sinh lòng khinh địch, Phúc Thuần bèn cho xuất binh cự chiến với quan quân.

Ngày mùng 7 tháng 12 năm ấy, sau khi đã qua khỏi sông Độc Giang, đến các xã Lương Phúc và Diên Sinh, Việp Quận công sai Trân Lĩnh hầu Nguyễn Đình Khoan đốc suất đạo Hậu quân, Thạc Võ hầu Hoàng phùng Cơ làm tiên phong đón đánh địch quân. Quan quân triều đình đón đánh và bắt sống quân địch không biết bao nhiêu mà kể.

Ngoài ra, quan quân còn bắt được của địch hơn 30 con voi và 100 con ngựa.

Thủy quân địch ra cự chiến ở sông Độc Giang cũng bị đại bại.

Việp quận công tiến quân noi theo đường núi cốt tiến đánh lấy Thác Ma và Thác Trầm, để làm cầu nổi qua thượng lưu sông Bái Đáp.

Phúc Thuần không còn xuất phát quân sĩ nữa.

Sau 28 ngày cầm cự, Phúc Thuần vội vàng bỏ cung phủ, chở vàng bạc, của cải, châu báu xuống thuyền.

Phúc Thuần cùng với hơn 100 thân binh chạy vào cửa biển Tư Dung.

Niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 36, năm Ất Vị (tức 1775), ngày mùng 3 tháng giêng, đại quân Việp quận công ồ ạt tiến vào thành Phú Xuân.

Việp Quận công khiến Hoàng Đình Thể đuổi theo gấp Nguyễn Phúc Thuần. Phúc Thuần liền bỏ thuyền chạy, trèo gấp qua núi Hải Vân, rồi ẩn vào một ngôi chùa đến 3 ngày. Các người tùy tùng Phúc Thuần đều phân tán mất dạng. Quan quân tranh nhau lấy vàng ngọc của Phúc Thuần, nên không đuổi theo Phúc Thuần cho đến cùng đường.

Phúc Thuần chạy vào cửa biển Câu Đê Quảng Nam, rồi vào ở nhà Tả tướng quân là Nguyễn Hữu Du, rồi vào dinh Quảng Nam, sửa soạn xếp đặt.

Thấy ngụy Tập giữ gìn chưa chu đáo, bèn cho chiến thuyền qua cửa biển vào Đại Chiêm, ngụy Nhạc theo chân núi đem bộ binh ra nguồn Thu Bồn để đánh. Du chạy vào trong núi ở Hàn Hải. Phúc Thuần cùng cháu là Phúc Dương bỏ Quảng Nam lui về Cu Đê.

Vương thượng sai Việp Quận công kiêm lĩnh chức Trấn thủ xứ Thuận Hóa.

Tháng 3 năm này, ngự giá đem quân trở về Kinh đô. Chúa Trịnh còn ra lệnh cho Việp quận công tiến quân lấy Quảng Nam cho kỳ được.

Tháng 3 năm này, Việp Quận công xin lưu Đoan Quận công để án giữ kinh thành Phú Xuân. Rồi Việp Quận công chia quân làm 2 đạo trèo qua Hải Vân đánh phá đồn Câu Đê, Phúc Dương chạy. Ngày 5 tháng 4, bắt được mẹ và vợ Nguyễn Phúc Thuần cùng đồ đảng và binh khí rất nhiều. Còn Nguyễn Phúc Thuần thì đã đáp thuyền vượt biển đi vào vùng Gia Định từ ngày tháng 2 trước. Thuyền mới ra, bị gió dữ, dạt vào Vũng Lấm dinh Bình Khang, ngày 25 mới đến Long Hồ. Còn bọn bầy tôi đi theo Nguyễn Phúc Thuần là Nguyễn Hữu Du cùng với 16 chiếc thuyền và đoàn thủy thủ đều bị chết đuối cả, Nguyễn Huống và Nguyễn Kính cũng bị đắm chết.

Ngày 9, quan quân đánh phá đồn Trung Sơn, đánh tan ngụy Lý ngụy Nhạc cùng Nguyễn Phúc Dương là cháu Nguyễn Phúc Thuần. Ngày 22, đóng quân ở Cẩm Lệ, ngụy Nhạc cùng ngụy Tập Đình hầu đem hết quân lội qua Trà Khê, xông vào hỗn chiến. Binh súng của quan quân không kịp bắn, phải lấy gươm giáo mà đánh. Việp công sai Hoàng Đình Thể, Hoàng Phùng Cơ cùng các tướng hơn 10 người thúc voi đánh hăng. Ngụy Nhạc cùng ngụy Tập thua to, theo khe mà chạy. Quan quân đuổi theo, nước khe chỉ đến bành voi, các tướng ngồi trên bành voi đâm giặc, chết rất nhiều. Ngày 24, Hoàng Đình Thể đến Cẩm sa. Ngụy Nhạc cùng ngụy Tập đem hơn 6000 quân, hơn 30 thớt voi, chia làm 5 chi đón đánh. Quân giặc đều đầu đội khăn đỏ, ở trần, xông vào chém bừa, không đợi thành trận. Lúc trước quân Nhạc thắng luôn quân họ Nguyễn chính vì cách đánh như thế. Không ngờ quan quân sẵn có tiết chế, giặc dù hỗn đấu, quan quân vẫn nghiêm trận không động. Hoàng Đình Thể nhằm trước mặt thúc tượng binh tiến đánh. Quân giặc hoặc bị quan quân giết, hoặc bị voi dày, chết không kể giết, liền vỡ chạy. Việp công sai các quân đuổi theo bốn phía. Ngụy Tập còn đem theo một chi quân ở đằng sau, giương cờ đánh trống ở trong rừng làm nghi binh, ngầm phục ở trong ấp Biểu Mang để chụp hậu quân, cuối cùng lại bị Dĩnh võ hầu Nguyễn Đình Đống đánh bại. Quan quân bắt được đồ đảng giặc cùng quân nhu khí giới nhiều không xiết kể, đuổi theo đến Thanh Hà, thu phục dinh trấn Quảng Nam. Ngụy Nhạc trước giờ nhờ sức bọn Bắc Khách giúp, đến trận thua ở Cẩm sa, ngụy Tập thì trốn đi, ngụy Lý thì trở mặt lìa nhau, đồ đảng của Tây Sơn quá nửa không phục tùng. Ngụy Nhạc bèn sai người dâng xin voi ngựa vàng ngọc, và dâng đất 3 phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên để hàng và xin làm tiền khu cho đại quân để đánh dẹp Gia Định. Việp công nhận cho tiện nghi, trao cho chức hàm Tây Sơn trại tưởng hiệu Tràng Tiết tướng quân.

Tháng 7 Việp công tiến quân chiếm đóng Châu Ổ huyện Bình Sơn. Ngụy Nhạc sai người đến tạ ơn, dâng tờ tâu và tờ khải, lại xin ban khôi giáp và tiến cử em là Nguyễn Văn Bình. Việp công lại sai ban mũ và áo cho Nguyễn Văn Bình làm Tiên phong tướng quân. Gặp Quảng Nam có bệnh dịch, chiến sĩ nhiều người ốm, Việp công lui quân về Thuận Hóa. Tháng 7 thì rút quân về. Tùy sai là Nguyễn Lệnh Tân xin cùng Dĩnh Võ hầu Nguyễn Đình Đống đóng đồn ở Châu Ổ, Hiệp tán Đại tư đồ Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm thì muốn đóng quân ở dinh Quảng Nam và đặt quan Trấn thủ. Việp công không nghe, bèn bỏ hai phủ Thăng Hoa và Điện Bàn, tháng 10 về đóng ở Phú Xuân. Vì ốm xin về kinh, chết trong khi đi đường.

Phúc Thuần giữ dinh Phiên Trấn, còn có 3 phủ là Gia Định, Bình Khang và Bình Thuận. Tháng 2, ngụy Nhạc giữ thành Xà bàn, biên hết dân phủ Quy Nhơn làm binh, sai em là ngụy Bình lấy thuyền vượt biển đánh Bình Thuận, không được. Tháng 3, đánh phá Cửa lấp Vũng Tàu, vào cửa biển Cần Giờ, đốt phá Sài gòn, lấy 3 dinh Phiên Trấn, Trấn Biên và Long Hồ. Phúc Thuần chạy trốn. Tướng tá nhiều người hàng ngụy Nhạc.

Tháng 4, Hoàng Võ hầu Trương Công Phụng phụ trách cơ Quảng Nhất do Đoan quận công sai đồn ở đèo Hải Vân vượt Hải Vân vào Quảng Nam, bắt lính lấy thóc, đến Bến Ván. Ngụy Nhạc mượn cớ ấy đón đánh Hoàng Võ, lại chia một cánh kỳ binh tự phía Tây ra đón đường về. Hoàng Võ thua chạy về Vụng Sảng, ngụy Nhạc bèn sai ngụy Trấn thủ là Toàn giữ dinh Quảng Nam, đóng đồn ở các cửa biển Đại Chiêm, Đà Nẵng, Câu Đê.

Phúc Thuần đã thua chạy vào xứ Bà Rịa, triệu tướng là Kính Thận hầu Tống Phúc Hợp từ Bình Khang về đánh phá binh ngụy Nhạc, lấy lại dinh Trấn Biên, đem binh Đông Sơn về đánh lấy lại dinh Phiên Trấn. Quân ngụy Nhạc đánh 3 trận đều thua, đuổi cướp nhân dân, chở thóc 200 thuyền chạy về Quy Nhơn. Dân Quảng Nam đói khát khốn cùng, đều mong quân nhà vua đến. Triều đình nghĩ rằng xứ Thuận Hóa mới phụ đương cần vỗ yên, chưa rỗi tính đến công việc cõi xa.





Copyright © Trường An. All rights reserved.