Solitude

.Nhu nhược ư thủy, thủy chi thắng cương More...

Ngoại truyện: Việc cũ
Trường An in "Nhật mộ biên thảo III" October 16th, 2013

Trong thành Hội An có một quán rượu lâu năm, tuy không trưng bảng hiệu nhưng rất đông thực khách. Quán được lập ra từ bao giờ, không mấy ai còn nhớ trong thị thành nhiều xáo động đã mấy lần đổi chủ này. Hiện thời, quán nổi tiếng vì những loại rượu ngon do chủ nhân tự làm ra, đặt cho những cái tên kỳ lạ: Pháo Hoa, Tơ Hồng, Xương Bồ… mà ai đến cũng muốn ghé qua thử một lần. Tiếng lành đồn xa, quán rượu này hầu như không khi nào vắng khách, ngay cả trong ngày lễ tết đặc biệt.

Lúc này, trong đêm giao thừa, vẫn còn khách ở trong quán. Rèm trúc rủ xuống, che khuất mặt những người ngồi trong. Quán không dán giấy hồng, chỉ cho treo đèn, cắm nêu trước cửa, trên cành nêu treo cái khánh đất cùng một dải lụa đỏ vẽ hình hoa mai. Chưa tới lúc nửa đêm, khoảng thời gian này là thời khắc tĩnh mịch nhất của thị thành ồn ã quanh năm, nghe rõ từng tiếng khánh kêu lách cách trong gió. Quán dựng khá xa cảng, chỉ nghe văng vẳng tiếng lễ tiệc của thủy thủ trên bến. Nép sau hàng cây cổ thụ, một mặt trông ra dòng nước nhỏ, quán rượu leo lét đèn trông càng cô quạnh trong đêm.

Những thực khách ở trong quán vào thời khắc này càng cảm thấy rõ hơn sự lặng lẽ ngập tràn. Mỗi người ngồi trước chén rượu của mình mà trầm ngâm im lặng. Khi rèm trúc ngoài cửa quán được vén lên, chỉ có ông lão trông quán ngẩng đầu nhìn.

“Lại là ngươi.” Ông lão có vẻ ngoài se sắt như cành mây lên tiếng, khiến vài người trong quán ngoái đầu lại, ánh mắt dừng trên khuôn mặt kỳ dị của kẻ vừa vào. Khoác một cái áo xanh bằng đoạn thủy ba, dáng người thanh tú, nhưng y lại có khuôn mặt quá mức dọa người. Những vết chém ngang dọc đan kín từng tấc da thịt, khiến đường nét của y cũng hóa thành lệch lạc quái gở tựa như y đang mang một cái mặt nạ sần sùi.

Mặc kệ ánh mắt của người xung quanh, y cà nhắc đi vào quán, ngồi vào chỗ trước quầy rượu. Quán không kê bàn, chỉ trải chiếu và đặt từng mâm riêng cho người ngồi. Ông lão chủ quán không hỏi y, ném ra một bình rượu nhỏ. Y phất tay đỡ lấy, nhẹ nhàng như đón một bông hoa.

“Mỹ Nhân Hương.” Mở nắp bình rượu, y hít hà. Không vội uống, y lấy cuộn vải đang đeo sau lưng ném cho ông lão. Ông lão mở bọc vải, lấy ra một bức tranh cuộn, nhìn nó mà im lặng hồi lâu.

“Ngươi lấy nó từ đâu?” Khi lên tiếng, giọng ông lại nghèn nghẹn. Kẻ kia chống tay lên bàn thấp, ngửa đầu uống rượu, nói mà không nhìn ông.

“Nhà kho. Bọn họ đem nó vào đó rồi chắc chẳng để ý đến nữa đâu. Từ lúc Xuân Tử ra đi, chẳng ai giữ được đồ đạc ở đấy nữa.” Y quẹt ngang miệng, cười khẽ. “Ta cũng định đem gửi đến phía Nam, nhưng chỗ kẻ kia không yên, chẳng biết có bị đốt lúc nào không. Nghĩ ra thì giữ ở đây vẫn hơn.”

“Phải rồi, chẳng còn ai ở đó nữa, đã hai mươi năm rồi.” Ông lão gật đầu lẩm nhẩm, lụm cụm đứng lên. Cẩn thận từng ly từng tí, ông phủi bụi cho bức tranh, đem nó treo lên tường. Trước ánh mắt của kẻ áo xanh, ông lão cười. “Vật dụng thì phải có lúc hư hỏng, chẳng có gì giữ được mãi, đem cho người ngắm ít ra còn giữ được trong tâm.”

“Thôi, đến lúc ông với ta chết cả thì cũng chẳng còn ai giữ đâu.” Kẻ kia khoát tay. Xa xa, một tiếng pháo đơn lẻ trả lời y. Y bật ra tiếng cười khe khẽ trong cổ. “Nghĩ cũng quái lạ, cuối cùng ta lại còn sống đến giờ này.”

“Người như ngươi chết cũng không biết hối cải, xuống địa phủ cũng chỉ nghĩ cách đi giật râu Diêm Vương, uống một bát canh Mạnh Bà là quên hết, để lại trần gian này mới khiến ngươi khốn khổ.” Ông lão quay lưng đi về phía quầy rượu, y đưa mắt nhìn theo ông, cười nhạt mà không lên tiếng.

Câu chuyện đang nói cùng bức tranh treo trên tường khiến những thực khách trong quán đâm tò mò. Bức tranh có vẻ đã rất cũ, mặt giấy ngả vàng tuy mực vẫn chưa phai. Tranh vẽ một cô gái nhỏ đứng bên hồ, bút pháp thanh thoát tân kỳ, chỉ vài nét mà họa ra bóng dáng mềm mại linh động như thực như mơ. Phía dưới tranh có đề chữ, nhưng bị nước loang vào không thể đọc được.

Uống cạn bình rượu, kẻ áo xanh vỗ vỗ tay xuống bàn, lè nhè.

“Đem Hồng Trần Túy ra đây!” Khăn đội của y trật ra, để lộ mái tóc hoa râm. Ông lão chủ quán liếc mắt qua y, rồi đem ra cho một chén rượu nhỏ bằng hạt mít. Y trừng mắt nhìn ông, ông lão nhún vai.

“Không có hơn đâu.” Nói rồi ông quay đi, để mặc y nhìn chén rượu, uống cũng dở mà không uống cũng dở.

“Rượu gì thế, ông Thắng?” Một người trong quán chợt lên tiếng hỏi. “Hồng Trần Túy, rượu mới à?”

“Không bán cho người biết võ công.” Thắng lão ở sau quầy rượu chỉ cười. “Cũng chỉ còn lại một vò, ngoài Huyền Khê hòa thượng ở Phú Xuân, không ai biết ủ nữa. Nhưng có nhà sư nào lại đi ủ rượu? Thứ rượu này hẳn là thất truyền thôi.”

“Ai làm ra nó thế?” Người khách vẫn tò mò hỏi. Thắng lão ngưng tay lau chén, nhíu mày một lúc như nghĩ ngợi.

“Cũng đã phải bảy, tám mươi năm trước rồi.” Ông gật đầu nhè nhẹ như tự nhủ với mình. “Năm ấy, Lý Tự Thành đánh vào Bắc Kinh, rồi Mãn Thanh tràn xuống, người bỏ đi cũng nhiều. Có một người đến Hội An, lúc đó người Đông Doanh cũng đang rút khỏi đây, rồi lập ra quán rượu này. Bà ấy làm ra thứ rượu Hồng Trần Túy, nhưng chẳng may mất sớm, người chủ khác tới thay thế. Quán đã đổi nhiều đời chủ cho tới bây giờ.”

“Bà ấy?” Đến lượt kẻ áo xanh chợt ngóc đầu lên hỏi. “Sao ông bảo đó là người của Cẩm y vệ? Trong cung điện nhà Minh?”

“Ai bảo Cẩm y vệ không dùng phụ nữ? Đó là một tổ chức gián điệp của cung đình.” Thắng lão cười khẽ. Kẻ áo xanh gõ ngón tay xuống bàn, rồi nhíu mày.

“Vậy sư phụ của hai tên gàn dở kia có quan hệ gì với bà ta?” Y hỏi trỏng. Thắng lão đặt lại chén dĩa lên kệ, âm vang loảng xoảng.

“Hình như là con trai của bà ấy. Khi đó ta nghe bà ấy nói có một đứa con trai, nhưng nhà chồng giữ lại, không cho đưa theo. Bà ấy lại là người bị Mãn Thanh truy giết, ở lại không khéo liên lụy đến cả nhà, thế là phải dứt áo ra đi. Hoặc là chồng bà ấy còn muốn ở lại mưu việc phục quốc. Nếu biết bà ấy ở đây mà tìm tới, hẳn chỉ có người nhà thôi.”

“A…” Kẻ áo xanh ngẩn người, y chợt cười khẽ. “Lấy pho võ công ấy khỏi thư khố nhà Minh, rồi thế gian chỉ có hai người biết, không phải là thân nhân thì còn ai? Mà ông ta chịu trăm cay ngàn đắng phục quốc, hẳn cũng muốn đưa mẹ mình về, nào ngờ đã hóa ra người thiên cổ từ lâu rồi.”

“Chẳng trách hai kẻ gàn dở kia quyết ôm theo pho võ ấy xuống mồ chứ không nhận đồ đệ.” Y tặc lưỡi lầm bầm. “Đó là một thứ xui xẻo hết biết.”

“Ngươi vẫn đến đó?” Nghe y nói, Thắng lão chợt quay đầu lại hỏi. “Trận chiến vừa rồi ở đó thế nào?”

“Mạc Cửu ở Lũng Kỳ không phòng bị, quân Đại Thành từ biên giới tràn qua đánh úp, người ở Lũng Kỳ phải lui về sông Giang Thành, dựa vào Phương Thành để phòng thủ. Từ Hà Tiên, bọn họ đánh lui được quân Xiêm. Hiện giờ Mạc Cửu dời về đóng đô ở Phương Thành hẳn rồi.” Kẻ áo xanh nhấp môi trên chén rượu, giọng lè nhè như say. “Bọn họ bây giờ tập trung phát triển Phương Thành. Kẻ lười biếng kia thấy có người lo hộ công việc thì lại trốn đi ngủ ở xó xỉnh nào không biết.”

“Có khi đã đi tu rồi.” Thắng lão lẩm bẩm. Kẻ áo xanh bật cười.

“Người như vậy thì Phật của thế tục cũng chẳng giữ được, có mà tu hú. Đọc chưa được ba dòng kinh đã ngủ gật.” Y trề môi. “Chẳng qua hắn chẳng có tham vọng ước vọng gì, lòng dạ lại nguội lạnh như băng, tự cho rằng sống một mình thì thanh thản tự do tự tại, thích làm gì thì làm. Ta nghe chuyện có cô nàng thích hắn muốn tiếp cận - ờ thì dù gì hắn cũng là thành chủ có ít của ăn của để, hơi lớn tuổi nhưng diện mạo tính cách cũng không đến nỗi – ông biết hắn nói gì với cô ta không? Hắn bảo, vì hắn nặng vía quá nên ai yêu hắn cũng chết hết, chớ dại mà lao vào.”

“Cô ta tin sao?” Thắng lão cũng cười. Kẻ áo xanh nhún vai.

“Tin hay không thì làm gì? Kẻ ấy giỏi nhất là chước thứ ba mươi sáu, ông còn lạ gì? Đến khi cô ta ôm một bụng tức cành hông thì bỏ đi lấy chồng thôi, trong khi hắn vẫn còn chẳng thèm nhớ cô ta mồm ngang mũi dọc ra làm sao. Hắn ở nay chỗ này mai chỗ khác, buồn chán thì tếch ra đảo chơi với khỉ hay theo thuyền xuống tận Nam Dương bắt cá mập, có mọc cánh mà bám theo.” Y chép miệng. “Cuộc tấn công của Đại Thành vừa rồi, có khi cũng vì hắn bỏ đi chơi mất mà ra thế.”

“Hai vị đang nói đến Hà Tiên?” Một vị khách ngồi trong quán chợt lên tiếng góp chuyện. Anh ta là một thanh niên trẻ, có vẻ dãi dầu sương gió lẫn thành thục giang hồ sớm. “Mạc lão gia vừa từ Hà Tiên đến Phú Xuân nhậm chức với chúa, tôi cũng đi theo ông ấy một quãng đường. Người hai vị đang nói hẳn là em trai ông ấy? Khi rời khỏi Hà Tiên, tôi nghe bọn họ đang chuẩn bị xây chùa Phù Dung cho mẹ Mạc lão gia, Mạc thiếu có mặt ở đấy.”

“Ông ấy không nhận đồ đệ thật ạ?” Người thanh niên lại gần kẻ áo xanh, hạ giọng hỏi. Dù gương mặt quái dị khó nhận ra tuổi, mái tóc y cho thấy tuổi tác đã lớn, người thanh niên lễ phép cười với y. Anh ta gãi đầu. “Tôi hâm mộ Mạc thiếu đã lâu, nghe hai vị có vẻ quen với ông ấy, muốn hỏi có cách nào lấy lòng ông ấy không…?”

“Muốn học võ thì đến Phú Xuân, tìm Huyền Khê hòa thượng ở chùa Pháp Vân, can cớ gì đi tìm kẻ gàn dở đó?” Kẻ áo xanh nhếch môi. “Mà ta đã nói, đó là một môn võ xui xẻo, không nên học làm gì!”

“Có võ công xui xẻo cơ ạ?” Người thanh niên bối rối cười, vẫn có vẻ không tin. Kẻ áo xanh đưa mắt cho Thắng lão, rồi nhấc chén rượu trước mặt gã thanh niên.

“Thấy nó không – Nhìn thì đẹp, nghe thì hay, ngửi mùi cũng có vẻ tuyệt, nhưng ngoài việc phá cho nát bét phủ tạng ra thì không còn tích sự gì nữa hết. Y như hắn vậy, Mạc thiếu cái gì, chỉ có cái vỏ thôi!” Y nói qua kẽ răng. “Mà nghĩ lại, ngươi hâm mộ cái gì ở hắn? Sắp hết cả đời người, ngoài chút ít võ vẽ để múa may với khỉ, một mảnh đất mai tranh nay giành ra, hắn có cái gì? Sắp hết đời người, sư không phải sư mà tục không ra tục, người không ra người mà khỉ cũng không giống khỉ.”

“Ông…” Nghe y tự dưng nhiếc móc người anh ta mến mộ, gã thanh niên trừng mắt. Thắng lão sau quầy vội lên tiếng xen vào.

“Cuộc đời cậu ta lận đận, không thể trách được. Còn môn võ ấy…” Ngừng một thoáng, ông lão lắc đầu. “Ngày trước ta cũng đi tìm Huyền Khê hòa thượng. Ông ấy bảo, võ cũng như đạo, không phải kẻ nào muốn học cũng được.

“Môn võ ấy năm xưa được lấy từ thư khố Bắc Kinh. Triều Minh vào thời thịnh vượng chinh chiến khắp nơi, mở rộng lãnh thổ tới Nhật Nam, Cao Ly, Tây Tạng, xung đột với Nhật Bản, chưa kể đến kế thừa được lãnh thổ cùng tài vật mà nhà Nguyên đem về Bắc Kinh, rồi tới những vật kỳ lạ mà Cẩm y vệ thu gom… số kỳ thư trong thư khố nhiều không kể xiết. Người tự đặt cho môn võ ấy là Việt nữ kiếm, thực chất cũng chỉ là câu chuyện kể lại, chứ không biết xuất xứ nó từ đâu.” Thắng lão gật gật cằm, lẩm bẩm nhắc lại. “Nhà Nguyên năm xưa chinh chiến từ Tây sang Đông, thật chẳng biết đã thu gom về cái gì. Môn võ này được truyền ra ngoài phần đơn giản hơn, lại hóa thành thứ gây hại cho thiên hạ. Người thích sức mạnh, yêu quyền lực, tham sân si hận, cho rằng có thể hy sinh cả cuộc đời, cả bản thân, con người vì những thứ ấy, hóa ra lại tự đem mình làm mồi cho quỷ dữ. Đến cả phần cao thâm hơn của nó, cũng chẳng mấy người hiểu được, dù hiểu cũng không làm được. Võ công đâu phải là thứ để giết người, giết người chính là hủy hoại chính mình. Võ công càng cao thâm, giết người càng dễ dàng, rồi đến chính mình cũng không còn biết đâu là mình nữa.

“Thứ đạo giáo vô vi lọt vào tay con người rồi cũng trở thành hữu loại, phân chia chỉnh đốn, phân tích trái phải – tất cả cũng chỉ vì mình. Vì ý nghĩ của bản thân mà cho rằng cả thế gian đều là như vậy. Vì có ta nên mới có người, vì có đúng nên mới có sai. Đến lúc dùng tới đao kiếm để phân định thì chẳng còn thiện ác đúng sai nào có ý nghĩa nữa.

“Thứ võ công ấy không dùng để đánh người, chàng trai.” Thắng lão móm mém cười trước ánh mắt người thanh niên. Kẻ áo xanh hừ khẽ.

“Ta đã bảo đó là thứ vô dụng, bậc nhất vô dụng.” Đã uống cạn chén rượu, y gục xuống mâm mà làu bàu. Thắng lão vẫn chìm trong trầm ngâm.

“Cầm trong tay kiếm sắc, không đâm được người thì sẽ đâm phải chính mình.” Ông nhẹ lắc đầu. “Mỗi người có trong lòng một thanh kiếm sắc, phải làm sao mới được? Vô Âm tuyệt tình, Tuyết Hoa đoạn ý. Cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt. Người ngoài thấy diệt vong là đau buồn, có khi lại chẳng phải thế.”

“Người không ra người mà khỉ cũng không giống khỉ, hỏi đau buồn chắc cũng chẳng biết.” Kẻ áo xanh bật ra một tiếng cười khẽ. Y cười như khóc. “Yêu thương một kẻ như thế thật phí công.”

“Ngươi chỉ tìm cách gỡ tội cho bản thân.” Ánh mắt Thắng lão chợt tối đi. Ông thuận tay ném cái giẻ vào y, rồi lại thở dài. “Chẳng lẽ phải giống như ngươi tự đày đọa mình mới được? Đã hai mươi năm rồi, đến Bát tuyệt cũng mệt mà buông tha cho ngươi, ngươi lại đến lượn lờ trước mặt họ, trước mặt hắn. Không ai thèm giết ngươi nên ngươi đâm bực à?”

“Tội? Ta có tội gì?” Không buồn hất cái giẻ xuống, y chỉ hé mắt nhìn lên, ánh mắt lướt nhanh qua bức tranh treo trên tường. Thắng lão cũng không trả lời y.

Người thanh niên nhìn qua lại hai người, ngần ngừ hồi lâu rồi rụt rè lên tiếng.

“Mạc thiếu có chuyện gì thế ạ?” Những lời nói mập mờ không đầu cuối từ đầu đến giờ chẳng hé lộ cho anh ta chút manh mối nào.

Kẻ áo xanh ngẩng đầu, mắt y ngầu đỏ. Y nhìn gã thanh niên một lúc rồi chợt cười. Cái cười làm khuôn mặt ghê rợn của y càng méo mó hơn.

“Có biết tại sao khu đất ấy lại có tên Hà Tiên không? Nghe đồn ở đó mỗi đêm có một cô gái hiện về trên dòng sông. Đó là người yêu của hắn ta đấy. Năm xưa, nàng ta trúng độc tưởng bỏ mình, may mà có người thân bên cạnh cứu giúp, nhưng giữ được mạng mà không cứu được hồn. Nàng ấy ngủ suốt mười năm, sau rất nhiều, rất nhiều nỗ lực của người kia, nàng tỉnh dậy. Nhưng từ đó, nàng ấy không được bình thường nữa, đến đêm lại đi lang thang, làm đủ trò quái dị. Người xung quanh hắn mới bịa ra chuyện dọa ma dọa quỷ để người ta tránh xa nàng ấy ra. Hắn đi khắp nơi để tìm cách chữa cho nàng ấy đấy.” Múa ngón tay trước mặt, y ề à kể. Người thanh niên chớp mắt.

“Thật ạ?” Tin đồn về cái tên Hà Tiên quả thật cũng tương tự như vậy.

Kẻ áo xanh phá ra cười.

“Thật hay không thật thì sao? Mọi truyện kể đều kết thúc hạnh phúc, không phải sao? Không tin ngươi cứ ra đường ngồi kể câu chuyện không có hậu chút nào, xem có ai nghe ngươi không?” Y cười khành khạch, vỗ tay lên gối mà cười. Nghe tiếng Thắng lão thở dài đằng sau.

“Y say rồi.” Có người say rồi ngủ, có người say lại đi huyên thuyên lảm nhảm giống như y.

“Ông thì biết gì?” Y trề môi, lè nhè. “Ta biết mọi bí mật trong thiên hạ, nhé. Như năm xưa Lâm Phi không chết đâu, gã bị cuốn trôi về hạ nguồn sông, bị cá sấu đớp cho một miếng, mất một cánh tay. Ở doanh trại hải tặc của Linh lão có một ả dạ xoa không hiểu sao lại thương gã, đi tìm gã khắp nơi, may sao cứu được gã. Mất tay, mất anh em đồng bạn, cả đời bị người ta lợi dụng đá qua đá lại như quả bóng, gã ủ rũ như con mèo ướt, hết cả yêu thương say đắm với Tư Tư. Giờ gã lấy ả dạ xoa, làm một cặp vợ chồng chăn dê trong núi rồi.

“Con gái của Linh lão về Quy Ninh, đã cưới chồng khác rồi, bây giờ thành bà chủ đàng hoàng. Ông có tưởng tượng được không, chính con bé im như bị thóc đó đấy, bây giờ cô ta cũng chẳng khác gì cha mình. Đợi vài chục năm nữa, cô ta tạo phản cho mà xem.

“Chính ta đem Nhã về nhé, vì vậy Bát tuyệt mới buông tha ta.” Ợ lên một tiếng, y ngã vật ra đất, vẫn còn lào thào. “Còn Xuân Tử chẳng phải ‘về an dưỡng’ gì hết, cô ta tìm cách trở về Nhật Bản tìm người. Nghĩ cũng buồn cười, cứ phải đợi hàng chục năm, sắp xuống lỗ rồi mới nghĩ đến việc hối hận…

“A… Ta cũng biết ai là chủ quán rượu này, ai mua quán này cho lão. Con vịt ốm…” Cánh tay vừa giơ lên đã rơi xuống, y ngủ mê man.

“Mặc y.” Thắng lão phẩy tay, nói với người thanh niên vẫn còn đang ngơ ngác. Ông vẫy anh ta ngồi trước quầy, rót rượu ra mời, cười hỏi. “Cậu từ Hà Tiên tới? Người nơi đó thế nào rồi?”

“Vừa rồi Nặc Thu, Nặc Yêm và Nặc Thâm làm náo loạn Chân Lạp một trận, Trần Thượng Xuyên đem quân đến Nam Vang, chắc khiến Đại Thành nổi giận nên tấn công vào Lũng Kỳ. May mà chúng tôi thủ vững, chỉ có Lũng Kỳ bị thiệt hại thôi. Mạc lão gia chôn giấu kho tàng đi cả, quân Đại Thành không lấy được nhiều.” Người thanh niên nở rộng nụ cười hồ hởi. “Tôi là người Cà Mao, cũng ít khi gặp anh em Mạc gia, nhưng cha tôi cùng tuổi với họ, kể nhiều chuyện kỳ thú về họ lắm. Chuyện Mạc lão gia đem gia quyến rời Quảng Đông, trôi dạt từ Chân Lạp sang Vạn Tuế Sơn, rồi trở về Hà Tiên lập nghiệp từ mấy sòng bạc nhỏ, thật là ly kỳ lận đận.”

“Ừ, mấy chục năm trôi dạt, vất vả lắm.” Trong đôi mắt đã bị thời gian phủ mờ của Thắng lão như có một màn sương. Ông như có điều toan nói rồi lại thôi.

Đằng xa đã vọng tới tiếng pháo. Tiếng sáo chợt vang lên, xé toạc màn đêm yên ắng, lan rộng dần. Tiếng pháo vang động khu thị thành bên dòng sông. Xác pháo đỏ bắn tung trong lửa đỏ. Từ những chiếc thuyền bên bến, vài ngọn pháo hoa được bắn lên, bung nổ rực rỡ trên bầu trời.

Thị thành chói rực ánh lửa đỏ, như vỡ bùng trong tiếng động ầm vang.

Như bị tiếng pháo đánh động, kẻ áo xanh lăn mình trên đất. Y nhập nhòa mở mắt. Hình bóng cô gái nhỏ trên bức tranh lay động như soi qua một làn nước trước mắt y.

Y đưa tay, tưởng như có thể chạm tới được nàng.

“Sắc đêm đã ửng nắng sớm, ánh bình minh hiện giữa không. Phai phôi tóc xanh bạc trắng, chẳng trả lại khách má hồng. Nào biết niên hoa ngắn, còn tranh nghiệp quả hùng. Thân như băng thoáng hiện, mệnh tựa nến trong gió.” Nhắm mắt, y lẩm nhẩm, không hiểu tại sao. Ý nghĩ như vẳng đến từ nơi nào đó, mập mờ lung linh tựa ánh nến trong quán nhỏ.

Y chìm vào giấc mộng trầm sâu, vô thanh vô ảnh của hơi rượu Túy Hồng Trần.

Vài người khách trong quán đổ ra ngoài ngắm pháo. Vài người đến quầy tính tiền cho Thắng lão, trở về phòng trọ. Họ ở đây cốt chỉ chờ hết một đêm giao thừa hiu quạnh. Người đông, lu bu một lúc, Thắng lão trở lại quầy, đem khay tiền đặt lên bàn. Người thanh niên vẫn ngồi gần đó chợt ‘a’ lên một tiếng, nhặt một đồng tiền trong khay lên ngắm nghía.

“Đây chẳng phải là tiền từ Hà Tiên sao?” Anh ta lật qua lật lại đồng tiền Khang Hy trong tay, nhíu mày, chỉ tay vào vệt đen trên đồng tiền. “Sau lần bị quân Xiêm tấn công, Mạc gia phân phối lại tiền, có một số bị lửa ám hơi vẹt mất một góc, còn dấu đây này.”

“Mạc lão gia đến Phú Xuân, Hà Tiên thành phiên thuộc của Nam Hà, có lẽ nhiều người cũng đến đây xem xét việc làm ăn rồi.” Gã thanh niên gật gật đầu. Thắng lão ngẩn người nhìn đồng tiền, rồi chợt đứng dậy, đi vội ra cửa.

Bóng người vừa rời khỏi đã mất dấu giữa phố thị ồn ào. Pháo cháy sáng những con đường lát đá, người ùa ra chật lối đi. Trước cửa nhà Hoắc gia, một đoàn lân đang nhảy múa. Tiếng chiêng trống khua rộn ràng góc phố.

Ngẩn người hồi lâu, ông lão chậm chạp trở vào quán. Người thanh niên nhìn ông là lạ, Thắng lão lắc đầu ra hiệu không có chuyện gì. Ánh mắt ông dừng ở bức tranh trên tường.

Trước khi đi khỏi, người đó đã chạm tay vào bức tranh. Cái chạm rất nhanh, rất khẽ, nhưng chỉ trong khoảnh khắc đã phảng phất như trăm năm trôi qua.

Có lẽ, kẻ ấy sẽ còn quay lại. Vì bức tranh này.

Hà Tiên đã liên kết với Phú Xuân. Những chuyện năm xưa đã được cởi bỏ. Những người năm ấy đã lần lượt mất đi, thay đổi. Chuyện năm xưa đã trở thành mây khói, không ai còn nhắc tới, ngoài vài lời tỉ tê bên trà dư tửu hậu.

Thương hải tang điền, năm tháng đã dần xóa dấu xưa. Thương ghét hận cừu, tất thảy đều đã là chuyện cũ. Bọn họ đã có thể trở lại.

Đi trên con đường này, nhìn ngắm phù hoa trôi trong bóng lửa, như một giấc mơ xa lắc.

 



Word count: 4182

Leave a Reply

(required)

(required)

:) :blush: :D :( :(( ;)) :banh: ;) ::) =)) :)) b-) :meo1: :meo2: :meo3: :meo4: :meo5: :meo6: :meo7: :meo8: :meo9: :meo10: :meo11: more »

Bộ gõ tiếng Việt đã được bật. Bạn có thể gõ tiếng Việt không cần phần mềm trong máy.
RSS feed for comments on this post.


Copyright © Trường An. All rights reserved.