Solitude

Cảnh như thị, nhân như thị

Hồi 90: Dự tính
Trường An in "Nhật mộ biên thảo III" August 17th, 2013

Đêm khuya lao xao tiếng lá rừng.

Trăng đã không còn bóng trên bầu trời cuối tháng mịt mù mây phủ, để bóng tối âm u bao trùm khu rừng rậm. Những cây cổ thụ cao vút đan cành xen lá che phủ khoảng không, để lớp sương luẩn quẩn lơ lửng trên đất, hơi đắng ngấm vào phế phổi. Trong bóng tối đen đặc quạnh quẽ, tiếng lạch xạch nho nhỏ cùng âm vọng rì rầm của một bài chú càng trở nên ma quái đến gai người.

Pháp sư người Cao Miên tay rung tệp bùa vàng, chân nhảy vòng quanh mandala vẽ trên đất, miệng không ngừng ngâm nga. Mấy cái đèn bằng đom đóm bỏ trong lá lập lòe xanh rợn. Người lên đồng ngồi xếp bằng trước mandala vẫn nhắm mắt im tĩnh. Quảng Phú đôi lúc không khỏi sốt ruột quay đầu nhìn quanh, bồn chồn đổi chân liên tục, có lúc lại đưa tay che miệng ngáp dài. Đã quá nửa đêm, ‘giờ thiêng’ mà pháp sư kia nói đang dần qua, vẫn chưa có sự biến chuyển nào với bà đồng thỉnh thoảng he hé mắt nhìn lên, có lẽ cũng sốt ruột không kém.

Cuối cùng, pháp sư kia cũng đứng yên, vừa thở vừa quay sang hắn mà lắc đầu.

“Không tìm được.” Một câu có lẽ là không cần thiết phải nói, nên ông ta nói liền ngay sau đó. “Có vẻ là cô ấy vẫn còn sống.”

“Thôi, các vị về nghỉ đi.” Hắn chỉ gật đầu, đổi chân, đứng thẳng người lên. Để hai người lên đồng thu dọn bàn lễ, hắn quành về lán trại. Quảng Phú nhanh nhảu đi theo hắn, thoải mái ngáp một cái gần sái quai hàm.

“Ngươi tin trò ma quỷ của đám người này?” Gã gãi vết kiến cắn sau lưng sồn sột, đột nhiên cau có nói. “Lão Nặc Thu khi không gửi đám người này tới, chứng minh cô gái kia chết hay chưa để làm khỉ gió gì?”

Không trả lời, hắn vẫn im lặng bước. Đi qua cánh rừng, họ đã nhìn thấy một trảng cỏ rộng, nơi lán trại tạm đã được dựng. Gió lồng lộng thổi xuống từ bầu trời. Quảng Phú coi như không để ý sự im lặng của hắn, tiếp tục làu bàu.

“Lão Nặc Thu kia muốn gì thì nói mẹ nó ra đi chứ, còn ra vẻ muốn đứng ngoài. Ngươi liên lạc với lão chẳng lẽ chỉ để hỏi về cô gái kia?”

“Ừ.” Không nhìn Quảng Phú, hắn gật đầu. “Cũng đừng mong chờ gì ở ông ta.”

Mắt Quảng Phú hơi long lên, nhưng chớp mắt gã đã đổi ngay nét mặt, cười khì.

“Lão hẳn cũng không rảnh đến mức đi bận tâm đến đàn bà, hả?” Gã choàng tay qua vai hắn, cười khùng khục. “Người của lão đến đây hẳn mượn cớ để hỉnh mũi lên đánh hơi xung quanh. Nếu lần này Phố Châm, Phan Rang đi đứt thì Đông Phố cũng toi đời.”

“Phan Rang thì hẳn chưa có biến đâu.” Hắn chỉ nhún vai. “Toán quân Chiêm vẫn không đủ lực đối đầu với quân triều Nam Hà, ra khỏi rừng thì làm mồi cho đại pháo ngay. Ngô Lãng hẳn chỉ muốn phô trương thanh thế, trước mắt là đuổi Nam Hà lui khỏi Phố Châm, sau là đánh vào tâm lý quân đội này. Nhưng vướng mắc ở Phố Châm, quân Nam Hà sẽ chẳng còn tâm trí để nhìn ngó đến Trấn Biên.”

“Lão Nặc Thu đang tìm cách kết liên đồng minh, hở?” Quảng Phú chớp mắt, gật gù, rồi lại quay sang hắn. “Sao ngươi không hòa thuận với lão có phải tiện không? Lão muốn Đông Phố thì ngươi cứ đoạt lấy Đông Phố, hất cẳng họ Trần ở đấy mà làm chủ, rồi chiêu tập người về, lúc ấy Nặc Thu sức mấy mà giành được? Rồi từ Đông Phố, ngươi liên kết với đồng bạn ngươi ở đây, đánh bạt Nam Hà về phía Bắc, có ta ở Quảng Ngãi tiếp sức, chúng ta đoạt được hết đất đến Ải Vân dễ như chơi. Lúc ấy, Nam Hà một là bị quân phía Bắc tràn xuống tiêu diệt, hai là bị chúng ta nuốt chửng.

“Nam Hà kia chỉ nhờ vào bọn thương nhân đem súng đạn vũ khí tới, chúng ta há lại không làm được sao? Huống hồ quan hệ của ngươi với Thái tử Đại Thành đang tốt đẹp, nhả một nửa Chân Lạp cho Đại Thành – đáng đời lão cáo già Nặc Thu – lúc ấy thì còn sợ kẻ nào ở đất này? Chân Lạp, Nam Hà bị tiêu diệt, Chiêm Thành yếu ớt chỉ nhờ sức Ngô Lãng thì y sẽ thành vua của họ cũng chẳng ai tranh, lúc ấy ngươi đường đường là bá chủ một cõi, xây dựng cả một cơ đồ giang sơn cho mình.”

“Nghe hay thật!” Hắn cười. Chẳng rõ là từ lúc đi theo Linh lão nên học được toan tính của lão, hoặc gã vốn đã có tham vọng từ sớm, chiến lược Quảng Phú vạch ra cũng có đôi phần êm tai. Nhưng cũng y như Sorasak, Đại vương Nặc Thu hay ngay cả chúa công Nam Hà, những gì họ nói đều vì mục đích của mình là trên hết. Nhắm mắt thì hắn cũng đoán ra đoạn cuối ‘huy hoàng’ của chiến lược ấy là ba kẻ ‘đồng minh’ sẽ choảng nhau đến chết mà giành lấy ‘giang sơn’ cho mình.

“Chẳng có cách nào khác đâu.” Quảng Phú dường cũng đoán ra ý sau nụ cười của hắn, lắc đầu, trở giọng cha chú mà vỗ vai hắn. “Người bất nhân thì ta bất nghĩa. Dù Nặc Thu hay Nam Hà thắng thế thì cũng chẳng nhả ra chút gì cho ngươi đâu.”

“Quân ở Đông Phố đã được đánh động rồi. Trần Thượng Xuyên đã cho người của mình phòng thủ chặt. Vừa rồi ta đã hỏi chuyện người Đông Phố.” Hắn bình đạm đáp lời Quảng Phú. “Mấy năm trước, quân Long Môn phá xích đánh đến tận Nam Vang. Dù Nặc Thu có muốn xù vây bây giờ, cũng không có khả năng đối địch.

“Toán người ô hợp của ta cũng không có khả năng. Thái tử Đại Thành giờ chắc còn đang bận điều quân đi Nam Chưởng, quân Xiêm ô hợp gửi tới chỉ làm rối việc thêm chẳng được tích sự gì. Dù có thua trận ở Phan Rang, Nam Hà vẫn có thể gửi quân tới trợ lực Đông Phố. Lúc ấy, ta đã thua cả thanh lẫn danh, lực cũng không trội hẳn, thắng thế nào? Ta đã nói, Ngô Lãng cũng không vội đâu.” Hắn nheo mắt nhìn bầu trời đen thẫm, cuồn cuộn mây khói, nhẹ gật đầu. “Nhìn toàn cuộc bây giờ, Nam Hà vẫn đang có vị thế tốt hơn. Muốn vươn xa cần có thực lực, dùng mưu mẹo đánh thắng vài trận thì có khả năng, chứ thắng toàn trận chiến rất khó. Nam Hà từ khi đến Thuận Hóa cũng phải mất gần trăm năm xây dựng mới dám chiếm đất xưng hầu.

“Muốn làm vương thì đừng nóng vội.” Hắn quay sang Quảng Phú, vỗ vai gã mà cười nói. Trên gương mặt Quảng Phú thoáng vẻ bất đồng, nhưng gã không tranh cãi. Hắn nhìn lại hướng khu rừng vừa đi khỏi, hai thầy đồng Chân Lạp cũng đã ôm đồ cúng đi ra, bước về phía bọn hắn. Hắn liền nói nhanh với Quảng Phú. “Việc của Nặc Thu cứ để ta lo.”

Thấy hai thầy cúng, Quảng Phú cũng nhún vai, ngáp dài mà đi về phía lán trại. Phía xa, hắn mơ hồ thấy bóng lửa, hẳn toán người trực đêm này đã đến lúc trở về. Toán người đi theo Quảng Phú không nhiều, nhưng gã nhờ vào quan hệ với người Thượng mà đã mau mắn tập hợp được không ít kẻ ủng hộ. Ngoài lán trại này, người của gã còn đóng rải rác quanh đây, hắn cũng không nắm được là bao nhiêu.

Từ khi vừa đến, hắn đã ôm chăn ngủ cả buổi chiều, lúc này lại hoàn toàn tỉnh táo. Đứng nhìn theo bóng Quảng Phú và hai người thầy cúng cho tới khi họ đã vào lán, hắn quành trở lại nơi vừa rời khỏi. Những cái đèn đom đóm vẫn còn lập lòe trong cỏ, đã có mấy con đom đóm thoát ra, bay quẩn quanh, ánh sáng không đủ soi rọi cảnh sắc nhập nhòe. Hắn quỳ xuống nơi những thầy cúng vừa làm phép, đưa tay chạm vào vết tích mang hình mandala còn in trên đất. Đầu óc mông lung, hắn chỉ ngồi ngẩn ra, không hiểu đang nghĩ gì.

Bọn họ có thể ‘biết’ chăng? Một câu hỏi chợt vẩn vơ đến trong hắn. Có thực là dùng những hình vẽ và pháp thuật này, bọn họ sẽ nhận biết được quá khứ lẫn tương lai? Thế thì tại sao tất cả vẫn cứ sai lầm? Hoặc đây chỉ là mánh lới của con người để luồn qua khoảng cách giữa các thế giới – Một trò đùa, phải, chắc chắn là một trò đùa, của vị thần nào đó quá buồn chán nên dạy cho con người, khoái chí nhìn con người loay hoay trong những câu thần chú, những khao khát và tham vọng vô biên. Cũng như cách bọn họ đã cho con người trí khôn để hủy hoại thế giới.

Chẳng có cách nào khác đâu, điều đó ai cũng hiểu rõ, như một lời nguyền. Và rồi mỗi người lại lao vào vẫy vùng, chống đối cùng tranh đấu, chẳng có con đường nào khác biệt. Tất cả các con đường đều trở lại với càn khôn. Những tranh đấu – kể cả bằng dạng thức kỳ quặc, tiêu cực và vô lý nhất – đều sẽ bị ném trả về với guồng quay bất tận.

Bánh xe mandala quay tròn quanh trục vô minh.

Đêm vừa yên ắng, con dế rúc trong cỏ chợt kêu lên đặc biệt to, suýt khiến hắn giật mình. Hắn thò tay vào bụi cỏ, nhấc lên cái đèn đom đóm. Vừa mở nấc cột hai đầu lá, đàn đom đóm trong đó đã túa ra, bay tứ tán. Những đốm xanh tản mát vào khoảng trời đã bị tầng lá đen dày phủ che, bóng đêm hun hút vô tận râm ran tiếng dế. Ngẩng đầu nhìn theo chúng, cùng với bóng tối đang đổ trở lại nơi này, lồng ngực hắn nao nao. Một cảm giác dường quen thuộc khi cảm xúc của hắn nhộn nhạo, khiến khí huyết cũng xáo trộn theo.

Thốt nhiên, hắn nhớ tới buổi sáng của hôm nay, khi cùng Như Yên đi dưới vòm lá đan kín khoảng trời. Rừng thoảng hương dìu dịu đăng đắng. Những cây dương xỉ xanh mướt rung rinh, và đàn bướm đủ màu rập rờn bay lượn. Rừng yên tĩnh, chỉ có tiếng ve dậy đàn rền rĩ bốn phương. Nàng im lặng, và hắn đã lắng tai nghe từng bước chân đạp lên lớp lá khô dày.

Bầu trời thanh khiết của sớm mùa hạ che phủ họ, trên những tầng lá và tiếng ve, trên những đám mây và cơn gió. Một sợi tóc bay qua má nàng, ánh lên màu nắng bàng bạc. Đã có một thoáng nôn nao xâm chiếm hắn khoảnh khắc ấy, mỏng manh tựa hồ không thực. Hình như hắn đã nghĩ tới màu bạc trên những chiếc vẩy của con cá vẫn còn vùng vẫy trong lưới, trên biển xanh.

Họ đã bước qua khỏi lán cửa bằng tre vẫn còn chưa khô hết và thoang thoảng mùi cỏ tươi, đi qua khoảng đất trống nhỏ mọc đầy cỏ dại, khoảng đất tràn loài cỏ có bông nhỏ trắng ngà nhỏ bé như ngọn bút, và đi vào dưới vòm cây xanh ngát, đến cổng đá ra khỏi thung. Những âm vang lặng thầm đã tan vào bài ca nhức nhối của loài ve mùa hạ. Bầu trời tràn ngập tiếng ve kêu.

Hắn tựa lưng vào một tảng đá, đăm đắm nhìn bầu trời đã bị che khuất bởi bóng tối đen huyền. Đom đóm rải rác bay, và thi thoảng một đốm sáng mờ nháng qua chớp tắt. Hắn nhìn mãi, như thể, chỉ cần nhắm mắt, bóng tối sẽ tràn ngập đến, nuốt chửng cả thân thể và linh hồn. Bóng tối sẽ từ từ xâm lấn, như triều dâng và quên lãng, như cô độc và cái chết.

Và rồi, hắn chợt nhớ đến bóng trăng gay gắt trên khoảng nghĩa trang đêm nọ. Đom đóm bay vần trong ánh sáng nhạt lạnh của trăng, gió thổi quạnh quẽ bốn phương trời. Y đã nghĩ gì, trong những đêm dài dằng dặc? Âm khí trên thanh đao, y nói, hay chính là tử khí ngày càng dâng tràn, siết nghẹt linh hồn lẫn sinh mạng?

Có những loại cảm xúc không thể hiện diện trong ánh sáng ngày và sợ hãi đêm đen. Có những nỗi hãi hùng như đứng trước vực sâu thăm thẳm. Một sự cuốn hút khó cưỡng lại của hủy hoại và cái chết, của sợ hãi và hoang mang, của liều lĩnh và hoảng hốt. Y đã nghĩ gì, khi ở giữa vùng đất của cái chết, ngắm nhìn bóng ảnh các linh hồn, trong thứ ánh sáng của ngày triều dâng hỗn loạn tột cùng[1]? Khí trời oi ả của cuối mùa khô khiến thân thể tựa hồ bị những cơn gió thổi đến cạn kiệt. Y đã nghĩ gì, có thấy mình trống toác ra, bị ánh trăng xuyên thấu, nhấn chìm, nuốt chửng như hắn đối với bóng tối lúc này? Khi không có ngay cả một hồi ức để tưởng nhớ? Khi tất cả đã đi qua, đã móp méo, trở thành vết thương nhức nhối không thể chạm vào?

Ngươi chỉ biết có bản thân mình, y nói. Giờ đây hắn nghĩ nó là một lời kêu cứu hơn thách thức. Hắn có thể cản y lại hoặc hỗ trợ y, hay chỉ đơn giản im lặng đứng bên y, nhưng hắn chẳng thể cứu được y. Như hắn đã đi theo, luôn luôn đuổi theo y, và nhìn y bước dần vào vực thẳm khôn vãn hồi.

Đã có một lối đường nào đó đã mở ra từ những năm tháng xa xưa nhất với y, hắn cũng không thể rõ. Như hiển nhiên bất biến, mặc định hay số kiếp, không thể thay đổi hay chống lại. Đến cuối con đường nhìn lại mới thấy thảng thốt thương cảm việc đã qua.

Đến cuối con đường? Là nơi đâu?

Hắn chỉ biết có bản thân mình. Hay là, bọn hắn, cả ba người bọn hắn, cũng chỉ nằm trong quỹ đạo rơi của bản thân, chẳng thể đỡ lấy nhau, huống hồ là cứu chuộc?

Bóng tối quẩn quanh, đậm đặc trong từng hơi thở. Dõi mắt theo bóng đom đóm xanh, hắn lại mơ màng nhớ về buổi sáng ngày hôm ấy. Làn da nàng dưới nắng mong manh, sắc hồng nhàn nhạt, hiện rõ những mạch gân xanh mờ. Mi mắt nàng chớp nhẹ, và hắn chợt muốn đưa ngón tay chạm vào. Không hiểu sao hắn lại không làm.

Có thể vì ánh sáng nhàn nhạt đã phủ vây nàng lúc ấy thật quá hư ảo, hiện về trong ký ức hắn bây giờ như một giấc mộng.

Có thể, hắn cũng chỉ đang ôm mộng trong bóng tối hun hút tiếng dế râm ran.

Đêm không trăng u huyền, ngay cả bóng lửa chập chờn lay động trên mặt nước cũng chẳng khiến cảnh vật tươi sáng hơn. Dòng sông rộng, sóng nước cuồn cuộn xóa nhòa bóng lửa thành những vệt cam đỏ lờ nhờ. Đêm đã khuya, người trong doanh trại đã ngủ say, lính canh bên ngoài im phăng phắc. Bóng lửa càng trở nên lẻ loi cô quạnh. Từ bên kia sông nhìn lại, mấy ngọn lửa như lơ lửng trên khoảng không lù mù.

Một tiếng cú rúc lảnh lót vang, rơi vào tĩnh lặng. Trong bóng đêm dày đặc, khó có thể nhận thấy bóng áo thâm lướt qua. Người đàn ông áo đen dừng chân bên bờ sông, đưa mắt nhìn lại khu doanh trại lần nữa rồi mới quay đầu kiếm tìm phương hướng tiếng kêu. Đi theo ánh đom đóm chớp tắt, anh ta nhận ra hơi thở của một người. Kẻ đó im lặng dẫn anh ta đi sâu vào rừng. Bọn họ không thắp lửa, chỉ dùng tay chân qườ quạng lấy đường. Đi một lúc lâu, mới thấy ánh sáng xuất hiện bên kia một rặng đá. Trên phiến đá rộng, một đống lửa đã được đốt, sáng rực giữa rừng. Mấy tấm da lớn được chăng bên trên như một cái lán tạm thời. Chỉ có đôi ba người ngồi trong lán, cùng đồng loạt ngước mắt nhìn kẻ vừa tới.

“Kỳ.” Cô gái trẻ khoác áo da dày cười lớn, lên tiếng gọi. Kỳ im lặng đi theo ông sư tóc dài thuộc hạ của nàng, đến bên lán. Như Yên nhổm dậy, vỗ vỗ phiến đá đã được trải một lớp da, nhẹ giọng ân cần. “Ngồi đây kẻo muỗi.”

Kỳ cúi mình, khoanh chân ngồi xuống nơi Như Yên vừa chỉ. Mắt nàng lướt nhanh qua bờ vai quấn kín vải của người hộ vệ. Bên mặt anh ta còn một vết thương lớn, da thịt lẫn lộn, tuy đã xức thuốc nhưng trông vẫn thấy ghê người. Nhận biết ánh mắt của Như Yên, Kỳ chỉ nhếch môi, không ra cười cũng chẳng ra miễn cưỡng.

“Tay anh ổn chứ?” Nàng cũng không định quanh co, lo lắng hỏi. Kỳ nhìn lên, trong ánh mắt không để lộ điều gì.

“May mà không đứt, nhưng nếu muốn gảy đàn thì cũng không được nữa.” Cái cười mỏng tang thoáng qua gương mặt Kỳ, lạnh như sương. “Chúa công dựa vào tiếng đàn mà đặt ra Bát tuyệt, chỉ e đàn ấy giờ đây không thể gảy được nữa rồi.”

“Mỗi loại nhạc cụ có âm điệu khác nhau, đàn bảy dây cũng từ năm dây mà thành, không cần câu nệ quá.” Như Yên cũng phảng phất cười, nhưng buồn thương nhiều hơn là hài hước. Nàng ngẩn người nhìn Kỳ, mấp máy môi nhưng không thốt được ra lời.

“Trường mất không tìm được xác, U mất hai ngón tay, Nhã ban đêm chạy đi thế nào mà đã mất tích vẫn chưa về.” Đoán được ý nàng, Kỳ mỉm cười đau đớn. Phần mặt còn lành lặn của anh ta giật khẽ. “Nhóm người đi cùng Diêu may mắn chạy thoát sớm, không thiệt hại.”

“Các anh…” Mắt Như Yên đỏ lên, ầng ậng nước. Nàng quẹt mắt, thì thào. “Công tử ra đi, bỏ chúng ta trở thành thế này…”

Kỳ im lặng, không định nhắc nàng về chuyện ngày trước. Lão Tứ đưa tin tới, bảo nàng còn sống nhưng đã quên một khoảng đời dài. Không phải anh ta chưa từng có ý trách nàng, nhưng qua những tang thương, trong xót xa đã có thêm một phần rộng lượng. Nàng chỉ là một cô gái quá nhỏ bé để hết lần này đến lần khác đưa tay ra gánh đỡ người.

“U bảo, sau lần này sẽ trở về Thương Trúc trang, làm việc giấy tờ giúp cho Trấn thủ. Chúa công trước khi qua đời đã bảo cho chúng tôi nơi ấy, khi nào muốn thì về.” Kỳ nhìn ngọn lửa, lặng lẽ nói. Như Yên nhìn anh ta, trong mắt chợt hiện cảm xúc không rõ là gì.

Hóa ra, trước khi qua đời, anh trai nàng đã truyền khẩu dụ cho Bát tuyệt lĩnh Thương Trúc trang – Không phải là nàng. Nhưng không một ai trong bọn họ cản nàng về nơi ấy, hành xử y như chủ nhân. Có thể họ vẫn nể nang nàng. Hoặc là, tất cả bọn họ đều biết, nàng sẽ không thể ở nơi ấy lâu dài.

Đến tận lúc cuối cùng, anh trai nàng vẫn muốn ngăn cản nàng, tước bỏ mọi quyền uy khỏi nàng, như cách ngài ta đã làm khi còn sống. Bảo vệ nàng một cách bất chấp, không khoan nhượng, không cả cảm thông.

“Khi chúng ta ở đó, quả thật rất vui.” Nhưng nàng chỉ nhẹ mỉm cười, tóc nghiêng nghiêng xõa xuống vai. “Lễ tết đến, chúng ta sẽ treo dán giấy đỏ, đốt pháo, làm bánh, mở tiệc. Thi thoảng vịt ốm sẽ đến giở trò khôn vặt, chành chẹ mấy câu. Đám thương nhân đi ngang qua có món gì lạ lạ hay hay sẽ tìm tới, tâng bốc nâng giá bán cho được. Trong thành có lễ hội, đoàn múa lân sẽ đi qua. Một vài quan viên cũng thích tới Ngưng Yên đình nghỉ ngơi, tán chuyện. Xuân đến ngắm mai, hạ ngắm hồng, thu ngắm cúc, đông ngắm trúc. Nơi đó quả thật rất vui.”

“Ta vẫn muốn thấy vịt ốm làm đám cưới, thấy các anh sinh con chạy khắp các viện cho lão Tứ chạy theo chăm, thấy Xuân Tử tìm được một ông chồng. Quế sẽ làm ra những thứ kỳ dị, giăng bẫy khắp mọi nơi.” Mắt nàng long lanh ánh lửa. Nàng hít sâu một hơi, đột nhiên đổi hướng câu chuyện. “Có biết tại sao Diêu bẫy các anh vào rừng?”

“Chưa tìm được y, không đoan chắc.” Kỳ thận trọng nhìn nàng, cân nhắc nói thêm. “Chúng tôi dò được y có đưa một số người về phía Đông, không biết vì lý do gì.”

“Không cần quan tâm chuyện phía Đông. Quân Chiêm lại bày trò dương đông kích tây, lôi các người phân tán đi đấy thôi.” Như Yên nói nhanh. “Việc ở phía Đông ta đã có người lo được. Nhưng nếu phía Đông thủ chặt, quân Chiêm sẽ phá rối nơi này. Ngay cả nếu quân nơi này không ra tay được, e rằng cũng sẽ có kẻ ăn hôi đánh lén.”

“Cũng giống như trong rừng, không thể biết mình sẽ bị tấn công thế nào.” Cúi đầu ngẫm nghĩ một lúc, Kỳ nhàn nhạt cười. “Không rõ công nữ đã có cao kiến gì chưa?”

“Tiên hạ thủ vi cường. Kẻ nào chủ động hơn thì thắng.” Như Yên nhếch môi. “Chúng muốn đến thì cứ cho chúng đến, còn hơn là phải luồn rừng vượt núi tìm chúng. Nhưng chủ tướng của chúng là kẻ thận trọng lại đa nghi vô cùng, bây giờ hẳn y đã cài người theo dõi từng hành động của doanh trại này, chúng ta bày sẵn bẫy thì đánh động đến y ngay. Nếu vậy, chúng ta bắt buộc phải liên lạc với người nơi khác.”

“Điều thêm quân đến?” Kỳ nhíu mày. “Quân từ Phố Châm, Phố Hài rút đi thì chỉ e dân nơi ấy lại bạo động. Liên lạc với Lễ Thành hầu bây giờ e lại quá trễ…”

“Ta lấy quân Trấn Biên. Thậm chí nếu được thì nhờ Trần Thượng Xuyên cử người giúp đỡ.” Như Yên nôn nóng ngắt lời Kỳ. “Như vậy ta có thể cắt được sự quấy phá nếu có từ phương Nam. Quân Long Môn thiện chiến, quen với tướng giặc từ trước, có thể trợ giúp ta rất nhiều. Nếu ở đây có biến, Đông Phố cũng không yên, Trần Thượng Xuyên sẽ không ngần ngại gì đâu.”

“Ta đã cho người liên lạc với Trần Thượng Xuyên.” Không để Kỳ hỏi lại, Như Yên đã nói tiếp. “Anh nhanh chóng liên lạc với Bà Rịa, Trấn Biên, rồi bàn bạc với Nguyễn Thắng Hổ cho kỹ càng. Ở nơi này, chúng ta chỉ còn có thể nhờ vào anh thôi vậy.”

 

 

Chú thích:

    [1] Ngày trăng tròn, thủy triều sẽ dâng cao và biến động hơn ngày thường, cùng những sự rối loạn tâm lý có thể xảy ra với cả con người và động vật. Nhiều thống kê cho thấy tỉ lệ tội phạm ngày rằm tăng cao đột biến. Ở Trung Quốc cổ đại và những nền văn hóa cổ, đều có đánh giá tương tự về tác động của trăng rằm. Người TQ thường được khuyên không nên ‘hành phòng’ và một vài hoạt động khác trong đêm rằm.




Leave a Reply

(required)

(required)

:) :blush: :D :( :(( ;)) :banh: ;) ::) =)) :)) b-) :meo1: :meo2: :meo3: :meo4: :meo5: :meo6: :meo7: :meo8: :meo9: :meo10: :meo11: more »

Bộ gõ tiếng Việt đã được bật. Bạn có thể gõ tiếng Việt không cần phần mềm trong máy.
RSS feed for comments on this post.


Copyright © Trường An. All rights reserved.