Solitude

.Mài son bén phấn hây hây. Đêm nguyệt đưa xuân một nguyệt hay. More...

NN
Tuesday, December 10, 2013 Author: Trường An

Dòm ngó mấy tác-phẩm lịch sử gần đây, tự dưng ngộ ra cảm giác "người thua thì mất tất". Không những mất tất trong kiếp ấy mà còn bị lôi ra làm đủ thứ trò đời sau, trong khi bản thân họ chả biết là có tội gì, chỉ tại vì... bị giết.

Thượng Dương hoàng hậu tội gì hông biết, chỉ cái tội rõ nhất là không có con nên phải lấy con của Ỷ Lan làm vua, rồi vì "lỡ" làm hoàng hậu rồi thì làm luôn thái hậu, kết cuộc bị đối thủ ngứa mắt phăng teo. Đời sau, hậu nhân rất có duyên, áp luôn cho bà cái tội "thông địch bán nước", làm lý do cho bà Ỷ Lan "hiền đức tài giỏi" giết người.

Đàm thái hậu cũng chả biết là có cái tội gì, ngoại trừ cái tội to nhất là một hai đòi đuổi đòi giết Trần Thị Dung - người sau này vừa giết con bà vừa làm sụp đổ cả vương triều, chưa kể hại luôn con cháu bà. Và hậu nhân cũng rất biết điều gán cho bà cái tội lũng đoạn triều cương, thông địch bán nước, làm cớ cho cặp mèo mả gà đồng kia.

Vầng, và cái tội to nhất của cả hai là làm nạn nhân lót đường cho "vĩ nhân", đối thủ không đem họ ra bêu rếu thì thôi, loại hậu nhân vô lương tâm mặt trơ trán bóng nào tự tiện gắp lửa bỏ tay người, đem đủ thứ tội to nhớn nhất áp được thì áp cho người ta?

Vầng, người thua mất tất, mất luôn quyền được coi là người.




HNĐT
Friday, October 25, 2013 Author: Trường An

Nhân có bạn nói về hôn nhân của nhà Trần, tự dưng nhớ ra một chuyện: Có phải đúng là họ Trần vốn có tục lệ lấy người đồng tộc không?

Các ông từ trước Trần Cảnh đều không tra được vợ, mẹ. Nhưng đến thế hệ Trần Cảnh thì rõ ràng từ Trần Cảnh lấy chị em họ Lý, rồi mẹ của Trần Nhật Duật, Trần Ích Tắc đều không phải người họ Trần. Trần Liễu cũng không lấy người họ Trần. Ngay cả cha của Trần Cảnh là Trần Thừa cũng đi tò te tí với "người lạ" ra Trần Bà Liệt. Đến đời Trần Anh Tông hoặc Trần Minh Tông (lười tra lại quá) cho bãi bỏ chế độ lấy người trong họ, Đại Việt sử ký còn ghi đây là tục do Trần Thủ Độ đặt ra để giữ ngôi cho họ Trần.

Vầng, trong hầu hết tất cả người thế hệ đó, chỉ có Trần Thủ Độ lấy Trần Thị Dung. Liệu đây có phải là cách hợp thức hóa quan hệ loạn luân của 2 người?

Vì xét đến tổ tiên nguồn gốc, người Mân không hề có tục kết hôn đồng tộc. Theo khoa học, họ Trần cũng khó mà lớn mạnh nổi nếu kết hôn lẫn nhau kéo dài. Trần Dụ Tông - thế hệ đồng huyết thứ 4, bị vô sinh, sức khỏe và thần kinh kém. Trần Hiến Tông dù là con của phi họ Lê thì cũng đoản thọ. Từ đó nhà Trần tằng tằng đi xuống dù chế độ kết hôn đồng tộc đã được bãi bỏ. Và sự "bệnh hoạn", yếu nhược của các vua sau cũng ngày càng cao.

Nếu như vậy, mối quan hệ của Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung phải gọi chính xác là loạn luân - ngay cả với quan niệm đạo đức lúc ấy. Cuộc hôn nhân của 2 người cũng ứ có giá trị chính trị gì, chỉ là chuyện riêng tư thôi.

Với 1 người bắt em chồng lấy chị dâu, giết chồng cướp vợ như Trần Thủ Độ, thì việc tự đặt luật tự làm luật cũng dám lắm.

*nhớ đến bộ phim đang chiếu* Vầng, chiện tình đệp tuyệt zời, chỉ còn thiếu mỗi day dứt giằng xé gia đình phản đối xã hội phỉ nhổ đạp qua dư luận đả phá luân thường nữa là đủ bộ òi.

"Vua là gì, do người giành lấy. Đạo đức là gì, do người đặt ra. Ta muốn là được." Trần Thủ Độ chắc phát ngôn zậy đó, tình yêu đã tạo năng lượng cho bác phá mọi trùng vây. Mọi tình thánh trên đời đều chưa ngầu bằng bác.




NN
Friday, October 18, 2013 Author: Trường An

Dẹp chuyện hoa đậu biếc là tầm xuân đi hộ mềnh nhóe. :D Xuất phát từ cái bài "nghiên cứu" ngớ ngẩn nào đó, của 1 người sau khi quay vòng vòng ngó trên trời dưới đất xem có bông hoa nào màu xanh không để mà phét lác. Chỉ cần căn cứ "hoa màu xanh" mà bảo đậu biếc = tầm xuân thì xin lỗi, hoa màu xanh không nhiều nhưng cũng chả hiếm. Có 1 loài hoa mềnh ứ biết tên là gì, nhưng mọc đầu làng cuối bãi ở VN mà màu xanh đấy.

Xét trong ngữ cảnh câu thơ thì "nụ tầm xuân nở ra xanh biếc" nó đã ám chỉ cái sự gì lạ lùng, bất thường, để rồi mới thành "em đã lấy chồng", chứ cái cây đậu tía thì nói làm giề nữa? Mà cái bài này dễ hiểu bỏ xừ đi: Anh còn mê mải làm cái trò hái hoa bắt bướm ở đâu đấy (mà hết leo cây lại đi trèo rào), tình cờ hái một cái nụ tầm xuân - lưu ý, là nụ chớ hông phải hoa. Đến lúc cái nụ hoa này nở thì nó thành cái gì đấy mà anh chả lường được trước, một cái kết quả bất thường đột ngột. Cũng như lúc em "còn không" thì anh chẳng hỏi tới, đến khi em đã lấy chồng anh mới tiếc. Cái sự lỡ làng "hái hoa khi còn đang nụ" này cho kết quả vô cùng chua.

Đem phiên dịch "tầm xuân" thành "đậu biếc" thì có nghĩa lý gì nữa? "Anh" thành cái thằng ngớ ngẩn lúc em lấy chồng thì anh quẫn trí đi lang thang đầu làng cuối xóm à? =))

Chưa kể đến ấy, tầm xuân là tên của hoa tường vi, hoa hồng, đầy nhóc sách nói (ví dụ, Đại Nam nhất thống chí), chứ nó không phải là tên tình cờ đặt ra.

(Mềnh rất nghi ngờ hông biết mềnh với nhiều-người có sống cùng 1 đất nước, cùng thời hông mà lạ thế này? =.= Mềnh biết hoa tầm xuân, tường vi là hoa hồng từ bé cơ mà. Tại xao lại thế (hỏi nghiêm túc)?)

Kể ra thì, mấy cái nghiên cứu vớ vẩn thời này nhiều lắm. =_= Ví dụ như này: Công chúa Long Thành. Mềnh chưa túm được cuốn Lịch sử Phật giáo nên hông dám nói gì, nhưng nghe là mềnh đã ngửi thấy mùi ba xạo. =))

Không biết cái xì tai "chế biến kiểu hoang tưởng" này mới là sản phẩm gần đây hay là có truyền thống từ xưa. Nếu có "truyền thống" từ xưa thì sử sách VN chắc không đúng được 20% âu. =)) Sử gần sách gần, sách vở nhan nhản đầy đủ mà đã thế này.

---

Nhìn qua phim Trần Thủ Độ, tiếp tục gai ốc nổi đầy người vì cái bản nhạc đầu phim theo xì tai opera Nga =__= (hỏi thiệt là có bị khùng hông vậy?).

Ờ, nói thiệt là phim rất đặc-trưng Bắc-VN, ở chỗ không gian hẹp, người thì tủn mủn. Hình như người làm phim hông nắm được đặc trưng cái thời ấy, khi mà mỗi lãnh chúa chiếm 1 vùng, quan lại còn theo chế độ phân phong đất đai. Ngay cả họ Trần bảo là 1 cái họ thôi nhưng đem quân họ Trần giúp vua được luôn, thực chất "họ Trần" này là một tổ chức nho nhỏ kiểu địa chủ, lãnh chúa mới làm được thế (Nhìn lại họ Mạc ở Hà Tiên, chính là thế đó).

Ờ... giống như mấy bộ phim về thời Lý, mọi sự cứ thế mà tủn mủn - đi coi cung đấu của Tàu còn phức tạp với không gian rộng hơn.

Ờ, mà vì thế nên mềnh nghi ngờ "3 con đom đóm" sẽ đơn giản là bị đẩy cái éo sang "quân phiến loạn" cho đỡ mất công. =))

---

Nhắc đến nhạc phim tự dưng nhớ ra 2 người mà nhạc ứ liên quan gì tới phim: Dương Bội Bội với Vu Chính. =)) Nhạc của DBB thì phóng khoáng mạnh mẽ, trong khi phim sến rện. Nhạc của VC thì toàn nhắc tới Phật, trong khi...

Ai khen bộ Tân Lưu tinh hồ điệp kiếm của TQ làm chứ mình không nuốt nổi nhóe. Bảo VC sến chứ ai chế cái phim ấy có trình sến làm mình ớn lạnh gấp mấy lần. Cộng thêm sự thâm-trầm "tỏ ra nguy hiểm" đặc trưng của phim TQ thì phong vị Cổ Long bay mất tích luôn.




NNN
Thursday, October 17, 2013 Author: Trường An

Cái này gọi là dìm hàng tới chữ cuối cùng. :)) Quả nhiên dìm hàng bợn xong rồi thấy tâm trạng khá lên hẳn. =))

---

Chơi tới level 110 òi mà đâm xì trét vì đống bom kẹo quá thể. X_X Mấy cái quest cũng bực mình. Đi tìm cheat cho iOS hơi phiền, mà xài cheat thì chơi làm gì? x__x

---

Tới giờ mới để ý Hiếu Khang hoàng hậu mẹ Gia Long là con cháu nhà Mạc (vua Mạc chứ hông phải Mạc HT), ban quốc tính là họ Nguyễn thôi. XD

Lý giải cho tại xao gia phả họ Mạc ở Quảng Nam lại ghi là bị Tây Sơn truy sát. Đùa chớ đến người chết còn hông tha thì họ ngoại tất nhiên bị liên lụy. Mà có khi Gia Long đem họ ngoại Cảnh Thịnh (họ Bùi) ra xử hết cũng vì chuyện này.

(Nghĩ tới lúc trước nghe 1 bạn nào đó bẩu họ (vua) Mạc ở phía Nam bị nhà Nguyễn truy sát thiệt là... kinh hãi. =)) Trăm dâu đổ đầu tằm, con cháu mà đọc sử không cẩn thận thì xoen xoét chửi tổ tiên, nhận giặc làm cha như chơi.)




Phở
Monday, August 26, 2013 Author: Trường An

Vầng (hết chuyện làm) xỉa tiếp tới một món "quốc hồn quốc túy". Đơn giản một câu là "Phở có từ bao giờ?".

Theo wiki (được tổng hợp từ nhiều nguồn), phở xuất hiện vào đầu thế kỷ XX tại Nam Định, từ ngôi làng có tên là Vân Cù (hoặc Giao Cù) ở Nam Trực. Từ Nam Định, phở bắt đầu "di dân" ra Hà Nội với bảng hiệu "Phở Nam Định", và rồi theo chân di dân người Bắc, phở vào Nam.

Có thể khẳng định rằng tính đến năm 1838, từ “phở” chưa xuất hiện trong từ điển, bởi vì trong năm này, quyển Dictionarium Anamitico Latinum của AJ.L Taberd (còn gọi là Từ điển Taberd) được xuất bản lần đầu, nhưng trong đó không có từ “phở”. Theo nhà nghiên cứu Đinh Trọng Hiếu, chữ phở lở xuất hiện trong từ điển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình-Tịnh Paulus Của (1896) với nghĩa là “nổi tiếng tăm”(trang 200). Năm 1898, phở có mặt trong Dictionnaire Annamite-Français của J.F.M. Génibrel với nghĩa là “ồn ào” (trang 614). Trong bài Essai sur les Tonkinois (Khảo luận về người Bắc Kỳ) đăng trên Revue Indochinoise (Tạp chí Đông Dương) ngày 15-9-1907, Georges Dumonutier đã giới thiệu nhiều thức ăn uống phổ biến ở miền Bắc vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 nhưng không hề nhắc tới món phở. Đến năm 1931, từ phở có nghĩa là một món ăn mới bắt đầu xuất hiện, ít nhất là trong quyển Việt Nam Tự Điển của Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến Đức (NXB Mặc Lâm): phở “do chữ phấn mà ra. Món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò: Phở xào, phở tái” (trang 443).

... Củng cố thêm là định nghĩa về phở trong quyển Dictionnaire Annamite-Chinois-Français (Từ điển An Nam-Trung Hoa –Pháp) của Gustave Hue (1937), trong đó có đoạn: “Abréviation de “lục phở: phở xào: beignet farci et sauté” nghĩa là “viết tắt của từ “lục phở”: phở xào: thứ bánh có nhân và được chiên”. Nhiều người thắc mắc, không biết “lục phở” là cái gì. Theo chúng tôi đây là từ có thật. Tương truyền rằng ngày xưa, các cụ đồ làng Mịn (xã Văn môn, Yên phong, Bắc Ninh) có sáng tác một bài thơ nói về chợ Đồng Xuân, để các cô đi chợ ngâm nga giải trí trên đường đi, trong đó có câu liên quan tới “lục phở”, xin trích đoạn sau:

----

Cổng chợ có chị bán hoa
Có chú đổi bạc đi ra đi vào
Có hàng lục phở bán rao
Kẹo cao, kẹo đoạn, miến sào, bún bung
Lại thêm bánh rán, kẹo vừng
Trước mặt hàng trả, sau lưng hàng giò

……

Trong quyển Dictionnaire Vietnamien Chinois Francais của Eugèn Gouin (Saigon, 1957) có một đoạn viết về từ “lục phở”: “abréviation de "lục phở": bouilli - cháo - pot au feu”…, “Lục phở: prononciation cantonaise des caractères chinois: (ngưu) nhục phấn" bouilli de boeuf. Vậy, “phở” là từ rút ngắn của " lục phở", còn "lục phở" là từ phát âm của "(ngưu) nhục phấn" trong tiếng Trung Hoa.

Đến năm 1970, Nhà sách Khai Trí ( Sài-gòn) xuất bản quyển Việt Nam Tự-điển, do Lê Ngọc Trụ hiệu đính thì quan điểm này càng thêm phần vững chắc hơn, trong đó định nghĩa “phở” như sau: “Món ăn bằng bột gạo tráng mỏng hấp chín xắt thành sợi nấu với thịt bò (do tiếng Tàu “Ngầu-dục-phảnh” tức “Ngưu-nhục-phấn” mà ra: Ăn phở, bán phở”, trang 1169, tập 2).
-Nguồn Gốc Của Phở - Vương Trung Hiếu

Cuốn từ điển đầu tiên xác định, "phở" là từ chữ "phấn" mà ra. Và chữ phấn 粉 trong tiếng Hán, cũng có nghĩa là bún, miến, phở...

Tiếp tục:

Theo tác giả Cự Vũ trong bài "Phở, món ăn đặc trưng của Việt Nam" thì "Phở là một món ăn có nguồn gốc từ món Ngưu nhục phấn của người Quảng Đông tức món hủ tiếu của người Tiều...

Tác giả Cự Vũ cũng cho biết là các cụ cao tuổi hồi trước (kể cả công tử Hà thành ăn chơi có tiếng, con của quan Tổng đốc Đặng Đức Cường), đều kể y nhau "Phở là món canh xáo thịt bò của người Tàu, bán lần đầu tiên ở Hà Nội". Nhiều người cũng xác nhận "Phở là món ăn lót lòng của người Tàu Quảng Đông gọi là 'Phấn' nhưng đọc âm Quảng Đông thành 'phán' hay 'phởn, ngầu phởn' lúc rao lên thành ra 'phở'."

... Có thể là từ năm 1931, các gánh phở là do các ông trai tráng ở Nam Định học mót nghề bán phở rong của chú Khách già. Vì thế mà tác giả bài báo trên Thể thao văn hóa khoảng năm 2003 cho biết người Việt đầu tiên kinh doanh món phở là người làng Vũ Lao, Xuân Trường, Nam Định.
-Tô phở Bắc và đọi bún bò Huế trên bình diện văn hóa đối chiếu - Bùi Minh Đức

Mọi chi tiết đều chỉ ra "phở" chính là "phấn", một món ăn rất "đặc trưng Quảng Đông". Theo đó, dò ngược dòng lịch sử xem cách ăn uống của người miền Bắc xưa:

Xét việc ăn uống của ta, càng đủ các thức sơn hào hải vị, thịt cá, rau cỏ hoa quả, chẳng thiếu thức gì, song cách nấu nướng còn vụng nhiều lắm. Ở chỗ quê mùa trừ ra những nhà nghèo khó, ăn uống kham khổ không kể, còn nhà thường thường cho đến nhà phong lưu, ăn uống chẳng qua thay đổi trong mấy món ba ba, giả cầy, thịt cá, giò chả, đậu rán, rau xào... Các món thịt cũng chỉ đến thịt bò ăn tái, thịt dê bóp vừng, thịt lợn luộc chần, thịt gà chấm muối là cùng, chớ không có cách nào xào nấu cho ngon lành thơm tho hơn nữa. Nơi thành thị thì cũng có khác nhà quê được đôi ba món nấu theo kiểu Tây kiểu Tàu, nhưng phần nhiều cũng chẳng khác gì nhà quê.
- Việt Nam phong tục - Phan Kế Bính

Theo Thực vật tất khảo - sách nấu ăn của người trong cung phủ chúa Trịnh thế kỷ XVII, Hoàng Xuân Hãn ghi nhận: "Trong số các món ăn được ghi, đại khái có hơn 10 loại: mỗi loại gồm nhiều thứ: loại Bánh (28 thứ), Xôi (15), Mứt (19), Dưa (10), Mắm (24), Cá (16), Thịt chả (15), Chim gà (17), Món chay (19), Bột, Kẹo, Bún, Nấm, vân vân (26)."

Nhìn các món này, có thể tạm cho rằng, thói quen ẩm thực của người miền Bắc là món ăn khô (không có nước). Ngay cả món xáo trâu mà nhiều người cho rằng là "gốc của phở" cũng là: "Thịt trâu thái mỏng (ướp gia vị cho thấm), hành lá, hành ta (tím), tỏi, mỡ, rau răm cắt dài 1 đốt ngón tay, khế chua cắt ngang…Sau đó họ xáo (xào) thịt trong chảo khoảng 30 giây rồi đổ ra bát riêng, kế tiếp bỏ khế vào, đảo đều tới lúc khế chuyển sang màu trắng; rồi cho thịt, rau răm và hành vào, đảo cho tới lúc tỏa mùi thơm (khoảng một phút) ; cuối cùng họ chế nước vào, để lửa liu riu. Khi ăn, họ lấy bún cho vào bát, sau đó gắp vài miếng thịt trâu bày trên mặt bún rồi chan nước xáo thịt vào." - Vẫn là dạng bún khô như món bún miền Bắc phổ biến ngày nay, không có nước lèo. Đến món phở cũng có 1 dạng gọi là phở xào, bún thang có bún thang khô. (*xòe tay đếm* Các món nước cộp mác miền Bắc đâu được: phở, bún thang, bún mọc, bún bung - hết rồi.)

Về dạng thức, không thể chối cãi cách nấu ăn của người TQ "gia nhập" vào món phở. Và nói chung, hầu như là tất cả các món ăn "có nước" của VN bây giờ: canh, thang, tương đều là từ Hán Việt, "mễ" chỉ bột gạo trong món mì hoặc miến, lẩu đọc theo âm Quảng Đông là lú, lô...

Đá qua tí về món ăn miền Nam, trích trong A voyage to Cochinchina vào thế kỷ XVIII:

Những cái tô chứa thịt bò, heo, gà và cá cắt thành miếng nhỏ trộn với rau, được nấu thành súp hay dạng nước thịt cho vô số dịp và mục đích. Chúng tôi không có thứ gì được quay nướng hay nấu khô.

Vầng, ở Đà Nẵng, những thương nhân Anh quốc đã được phục vụ món ăn "không có thứ quay nướng, nấu khô" nào. Cũng hổng ngạc nhiên cho lắm về điều đó. Ẩm thực miền Nam đã phát triển cực mạnh về các món nấu nước lèo từ bún đủ loại đến hủ tiếu, miến, mì, lẩu... nên đã tiếp nhận luôn phở "cho có đàn".

Nói túm lại... ai muốn ăn gì thì ăn. Đã là đồ "tiếp nhận biến tấu" còn đi tị nạnh nhau "ăn thế nào mới đúng" thì... dở người quá cha. Ai thích ăn kiểu "truyền thống" thì cứ theo thực đơn cổ này mà làm:

Nước súp, thịt bò, xương hầm, hành, lá húng quế, muối, tiêu, nước mắm. =))

Ngoài lề, nhìn thành phần của món Ngưu nhục phấn gồm "thịt bò, nước súp, bánh bột sợi, củ cải chua, dưa cải bắp, bơ, hành, tiêu, hồi, dâu tây, rau thì là, quế, muối, gừng, hạt tiêu đỏ sấy khô, rau mùi tây, ớt khô, bột ngọt, tinh dầu hạt cải…" nhớ tới món... bún bò Huế.

Đùa chớ, 1 món mà 2 người nấu cũng hổng giống nhau tí nào rồi. Đi đòi original cho 1 món ăn quả là... hâm dở hơn người. :botay:




LGBT
Sunday, August 18, 2013 Author: Trường An

Hổm nay ngứa tay mở file ebook truyện cung-đùinh-đồng-tính-dã-sử của VN ra (ờ, nó là truyện duy nhất được xuất bản nên chắc ai cũng biết mà), lướt qua vài trang lại cảm thấy vô cùng bức xúc trước độ quắn quéo của các bạn, nên thôi tớ "làm nhiệm vụ phổ biến kiến thức" ba xu lại.

Ngày xưa, rất là xưa, hình như hồi còn ở ACC, tớ từng bẩu: Kỳ thị đồng tính là đặc trưng của Thiên Chúa giáo. Ở phương Đông ứ phải vậy.

Nổi tiếng nhất là Nhật Bản. Ờ, các câu chuyện đồng tính đầy rẫy trong lịch sử NB thì không cần nói. Tớ khuyến nghị đọc Shogun tướng quan - một bộ truyện do nhà văn người Mỹ viết về thời Tokugawa. Chuyện đồng tính ở Nhật thì không nói làm gì, nhưng nhà văn cũng khẳng định luôn, kỳ thị đồng tính là điểm đặc biệt của Thiên Chúa giáo. Thủy thủ người Anh nhân vật chính của truyện đã vấp phải sự ngạc nhiên cực độ của đồng loạt người xung quanh khi... kỳ thị. Người ta ứ hiểu ảnh nghĩ cái gì trong đầu.

Nhưng đó không phải là đặc trưng của Nhật Bản. Nhìn sang nền văn hóa to nhất Đông Á là Trung Quốc - Tớ khuyến nghị đọc Nhục bồ đoàn (xao dạo này tớ toàn rủ người ta đi đọc dâm thư không dzậy? '___'). Trong truyện có một đoạn nhân vật chính quan hệ với thư đồng nam - mà đây là việc bình thường xảy ra giữa bọn họ. Cả 2 nhân vật này lại đều có đặc điểm chung là... mê gái. Nghĩa là bọn họ quan hệ lưỡng tính.

Nhìn sang bộ truyện khác nổi tiếng như gồm toàn đặc trưng văn hóa TQ: Hồng lâu mộng. Ta nhớ có lúc bạn Giả Bảo Ngọc bị nghi ngờ vấn đề giới tính - rằng thật ra anh chỉ mê gái vì tính-nữ của anh quá nhiều (hay nói cách khác anh là homo). Vì trong truyện, ngoài mối quan hệ mờ ám với em trai Tần Khả Khanh, Bảo Ngọc còn "dan díu" với con hát, có lần bị đánh suýt chết vì ông quan bạn của Giả Chính không tìm được con-hát-yêu của ông ấy, tìm bạn BN đánh ghen. Nói chung bạn BN bị bệnh mê người đẹp, cả trai lẫn gái. Nếu bạn quả thật có quan hệ ấy ấy với em trai Tần Khả Khanh, bạn cũng có xu hướng quan hệ lưỡng tính.

Một chi tiết khác là Tiết Bàn, vừa mê gái vừa mê trai. Mà qua hành động của Tiết Bàn lẫn quan hệ của ông quan với con hát bạn của BN, việc con hát nam dan díu với khách nam có vẻ là chuyện thường ngày. Trong truyện cũng có chi tiết đám công tử phủ Ninh mở tiệc, 2 con hát nam đánh phấn thoa son đến giúp vui, cũng nũng nịu, ngọt ngào rồi bị sàm sỡ y như nữ (báo hại lúc bé mềnh đọc ứ hiểu chúng nó là nữ hay nam).

Ngay cả trong lịch sử, khỏi nói đến những cặp nổi tiếng, những "anh hùng" như Lưu Bang cũng có chuyện chư hầu nổi loạn còn vua ở trong cung ôm thái giám, Chu Bột phá cửa cung vào, trách vua sao đổ đốn ra thế này. Hay Hán Vũ đế Lưu Triệt nghe đồn cũng có một "người tình" nam giới (xin lỗi mềnh quên tên rồi) mà người này cũng khá nổi tai tiếng...

Nghĩa là, quan hệ đồng giới ứ phải là chuyện lạ trong xã hội TQ cổ. Nam giới có xu hướng tính dục "bình thường" vẫn có thể "thích thì làm". Dù không nâng đến tầm "tình cảm với nam nhân mới cao quý" như NB, thái độ với chuyện này ở TQ cổ rất bình thản, coi đó là chuyện riêng tư, sở thích riêng.

Ở VN, ờ, dù ta không có dấu vết nào của quan hệ đồng tính trong lịch sử, nhưng bị ảnh hưởng nặng của văn hóa TQ, hẳn cũng không có quan điểm khác biệt mấy. Ngay cả trong văn hóa Ấn Độ cổ, quan điểm về đồng tính cũng khá mâu thuẫn. Theo Manusmriti viết về văn hóa tối cổ của Hindu, quan hệ đồng tính bị trừng phạt nhưng đặc biệt nặng nếu liên quan đến trinh nữ. Nhưng trên các vật phẩm điêu khắc, tượng và tường, đền thờ... thì hình ảnh đồng tính không hề hiếm. Trong những câu truyện nổi tiếng nhất Ấn Độ Ramayana, có hình ảnh phụ nữ quan hệ với nhau; trong Mahabharata, con gái của Drupada được thần cấp cho "bộ phận" của nam giới để thực hiện nghĩa vụ với người vợ mới cưới; trong Skanda Purana, 2 gã tham tiền giả trang thành một cặp vợ chồng, cuối cùng thần biến kẻ giả trang nữ thành nữ thật, rồi 2 gã này cưới nhau; trong truyện cổ tích khác, một cậu con trai bị lời nguyền phải hiến tế muốn cưới vợ, nhưng không ai muốn cưới người sẽ chết ngay ngày mai, thế là một vị thần (nam) biến thành nữ để làm vợ cậu ta một đêm...

Hay trong xã hội Ấn Độ có tầng lớp gọi là hijra - những người đàn ông không có khả năng quan hệ với phụ nữ. Họ sống như phụ nữ, làm việc trong các hậu cung của quý tộc, họ không được quyền sở hữu tài sản và làm lễ - nghĩa là họ ngang bằng với phụ nữ trong xã hội.

Theo Brahmana, khi các vị thần tách làm 3 thế giới, có những sự đau khổ. Sự đau khổ của Trời biến thành cô gái điếm nữ, sự đau khổ của thế giới bên kia biến thành kẻ phản loạn nam, sự đau khổ của Đất biến thành kẻ bất toàn về sinh học. Giáo lý của Hindu giáo ngăn cấm tất cả những hình thức quan hệ không dẫn đến sinh sản (kể cả các hành vi tình dục không-thể-thụ-thai), nhưng các sách khác như Kamasutra vẫn giữ thái độ trung dung.

Trong những xã hội khác, đồng tính được thừa nhận ở Hy Lạp cổ, ở một số vùng châu Phi, các vùng đảo của Thái Bình Dương, người bản xứ Nam Mỹ. Và người Ả Rập, trong cuộc sống du hành của họ, quan niệm "Phụ nữ là để gìn giữ gia đình cùng sức khỏe, các cậu trai trắng trẻo dành cho khoái lạc...

Sự kỳ thị quyết liệt nhất chỉ xuất hiện trong các kinh sách và nhà thờ Thiên Chúa giáo - tất nhiên, cả trong xã hội châu Âu (người Âu ở châu Mỹ sau này). Cũng giống như quan điểm đạo đức về sự kín đáo, chuyện ăn mặc ở, vân vân và mây mây, khi người châu Âu đến, châu Á cũng học theo để xếp luôn người đồng tính vào khái niệm "kém văn minh".

Cho nên, chỉ ở những xã hội ít chịu ảnh hưởng của Tây phương từ trong cốt lõi, ví dụ như Nhật Bản và Thái Lan, vẫn còn sẵn sàng quay mông lại với đạo đức phương Tây. Vì nó là thế.

(Tương tự với quan niệm về tính dục. Đùa chứ, đây là 2 nước giữ được "bản chất Đông phương" nhất trong toàn châu Á đấy.)





Copyright © Trường An. All rights reserved.