Solitude

.Không ai cứu được họ. Không ai cứu được nàng. Không ai và không ai. More...

Chép vụn 2
Monday, February 24, 2014 Author: Trường An

1824

Vua chăm mọi việc, phàm sớ tâu bốn phương dâng lên, đều phê bảo hằng ngày rất nhiều. Lê Văn Duyệt và Lê Chất thường nói như thế thì khó nhọc quá. Từ đấy có việc gì thuộc sáu bộ thì giao cho bộ ấy làm phiếu dự kiến.

Vũ Xuân Cẩn đi phát chẩn ở Nghệ An về phục mệnh, tâu rằng: “Dân Nghệ An có nhiều người bất cố liêm sỉ, có người nhà giàu đã chẳng giúp đỡ ai, lại còn mặc áo rách ra tranh lĩnh chẩn với dân đói. Ngày thôi phát có chỉ cho mỗi người 1 quan tiền 6 bát gạo, trẻ con thì cho một nửa. Thần xét người nào mạnh khoẻ thì cho ít, trẻ con mà gầy xanh thì cho nhiều, xin chịu tội vi chế”. Vua bảo rằng: “Nếu có lợi cho dân thì tự ý làm cũng được, có tội gì?”. Nhân hỏi: “Trộm cướp như thế nào?” Đáp rằng: “Giặc chỉ có còn dư đảng thôi, gần đây vì mất mùa, không cướp bóc vào đâu được nên đã tan dần hết; cũng có đứa giả làm lương dân lẩn vào trường phát chẩn, thần cũng lượng biết, nhưng nghĩ rằng triều đình có lo gì không có kế sách dẹp yên trộm cướp, chẳng nên nhân việc phát chẩn mà chộp bắt khiến dân sợ hãi”. Vua nói: “Phải. Dân sở dĩ trộm cướp là vì đói rét thúc bách đó thôi. Nếu sau khi phát chẩn mà tự biết hối lỗi, bỏ thói gian ngoan, làm người thuần hậu, thì cũng là con của trẫm thôi, trẫm sao nỡ giết. Nhưng nếu hễ đói thì đến cho ta nuôi, no lại hại dân ta, một mai bắt được đã có phép thường. Há lại lấy lỗi đã qua mà lấp đường đổi mới sao!”.

Tiết Vạn thọ. Vua nghĩ các địa phương nhiều nơi hạn hán, ngày hôm ấy các lệ thường ca nhạc cùng đốt pháo bông, múa đèn hoa, đều bãi cả.

Vua ra triều, đưa cái kèn của người Hồ mà hỏi Trịnh Hoài Đức rằng: “Thứ này là nhạc khí của Trung Quốc, sao dân đạo Cam Lộ cũng có ?” Hoài Đức tâu rằng: “Nhà Tần bạo ngược, quan coi nhạc bỏ đi bốn phương, đấy cũng là một điều chứng nghiệm vậy”.

Vua nói: “Âm nhạc là để di dưỡng tính tình. Âm nhạc của nhà nước vốn không có chính thanh, trẫm rất không thích nghe. Nay muốn sửa đổi, chỉ là chưa được người mà thôi. Nên đem kèn này giao cho đội Bả lệnh, hoặc có người biết thổi chăng”.

Khi sứ về, vua cho lên điện hỏi rằng: “Nước Xiêm cùng với nước Diến Điện có thù đời đời, nay Diến Điện bị nước Hồng Mao đánh, người Xiêm có hả lòng không”?. Đáp rằng: “Có”. Vua cười nói rằng: “Nước Xiêm có nước Diến Điện, cũng như nhà có phên giậu, nếu Hồng Mao đánh mà lấy được, thì thế tất rồi đến nước Xiêm. Người mưu việc nước Xiêm nên lo chứ chẳng nên vui”. Ban cho nhiều rồi khiến về.

Chưởng cơ Nguyễn Văn Chấn và Nguyễn Văn Thắng((2) Nguyễn Văn Chấn là Vannier, chúa tàu Phi Phụng, Thắng là Chaigneau, chúa tàu Phi Long.2), dâng sớ xin về nước. Vua bảo bầy tôi rằng: “Bọn Chấn là người Phú Lãng Sa, năm trước về với ta, có công đánh giặc, cho nên đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta cho làm đến chức ấy, bổng lộc theo phẩm cấp, lại còn cho hậu thêm. Trẫm từ nối ngôi đến nay, đãi họ cũng không bạc, sao họ lại xin về ?”. Sai đình thần hỏi, hai người đều nói rằng chịu ơn dầy của triều đình đã lâu, chỉ vì già yếu nên muốn quay đầu về núi mà thôi”. Vua cho rằng đi làm quan xa nhớ quê hương là thường tình của người ta, bèn cho về. Cho phẩm phục và 6.000 quan.

Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Soạn tâu rằng: “Từ trước đến nay nhân dân bắt nộp trộm cướp tổn phí rất nhiều, hoặc có người cáo giác cho nên người ta sợ không dám nói đến tên kẻ cướp ; biền binh đi bắt lại hay dung ẩn. Xin phàm kẻ cướp cùng người oa trữ bắt được thì chém ngay, như thế trộm cướp phải tắt mà dân được yên”. Sớ dâng vào. Vua dụ mắng rằng: “Trẫm từ khi lâm chính đến nay, những việc đau khổ của nhân dân chẳng việc gì không để ý. Những người mang trách nhiệm địa phương nên theo giòng mà tuyên truyền đức hoá, khiến dân yên nghiệp làm ăn mà dứt hết gai ác, đó mới là thượng sách để dẹp cướp yên dân. Huống chi dân Nghệ An mấy năm đói kém liền, dẫu có mấy lần tha giảm thuế má ơn trạch còn chưa xuống hết, quan lại địa phương chẳng chịu tìm cách chăm nuôi, để dân đến cùng khổ mà làm trộm cướp, thế thì các lối thả hùm báo trong cũi ra là ở ai vậy ? Vả các tệ ngươi nói đó đều là tự mình dung túng sách nhiễu, cùng là xử đoán không minh, bổ biền bất lực, sao lại không biết nhận lỗi mà còn tâu nhảm như thế. Như bảo hễ bắt được chém ngay, chẳng cần tra hỏi, thì chẳng phải là giết người như nhặt cỏ hay sao? Phàm vương giả trị dân đem lòng thương người để làm chính sách thương người, điều đáng quý là làm sao trừ tàn ác, bỏ giết người hoá gian ngoan thành lương thiện. Bọn trộm cướp kia cũng đều là con đỏ của triều đình, đến như kẻ quen ác cố phạm không thể dạy được thì mới bất đắc dĩ phải giết thôi. Nay lại chẳng hỏi là cố ý hay lỡ lầm, thủ phạm hay tòng phạm, mà nhất khái thi hành pháp luật nghiêm dữ thì trẫm chẳng hiểu ngươi dụng tâm ra thế nào vậy. Mạng người rất là trọng, cái quyền sống chết Trấn thần sao được tự chuyên. Nay tạm khoan thứ, phàm những mối tệ từ trước nên nghĩ dứt bỏ hết, mới khỏi phụ cái ý đặt quan vì dân của trẫm”.

Dựng lầu “Nhật nhật tân” (ở phía đông điện Cao Minh trung chính), gần “Quân tử hiên” (ở phía đông lầu).

Người xã An Lỗ phủ Thừa Thiên là Nguyễn Xuân Chấn đón xa giá dâng thư, xin đem quân đánh lấy đất Lưỡng Quảng, phần nhiều là nói ngông cuồng. Vua liền sai đốt thư đi, nghĩ Chấn đã già, không nỡ làm tội, giao cho phủ Thừa Thiên đóng gông 1 tháng rồi tha. Nhân dụ rằng: “Từ nay nếu còn bày tâu ngông cuồng nữa thì sẽ lấy luật trị tội, không tha nữa, để răn thói khinh bạc”.

Sai bọn Cai cơ Hồ Văn Khuê chia ngồi các thuyền hiệu Bình dương, Định dương, Bình ba, An ba, đi việc công ở Hạ Châu và Giang Lưu Ba(Hạ Châu: tức Tân Gia Ba. Giang Lưu ba: tức Giacácta).

1825

Bộ Hộ có việc tư giấy cho dinh Quảng Nam, trong tờ tư có mấy chữ “Nội giám phụng truyền”. Vua nghe tin, vời Tham tri Lương Tiến Tường mắng rằng: “Phàm nội giám truyền báo việc gì, phải nên tâu lại, đợi chỉ thi hành, nay lại nói “Nội giám phụng truyền” là sao vậy? Vả nó chỉ giữ cửa và truyền lệnh thôi, không được dự đến chính sự, nếu cứ nghe miệng nó truyền ra mà làm, chẳng hoá ra chính sự ở hoạn quan hay sao?”. Tường dập đầu tạ tội.

Thả cung nữ ra. Vua thấy đại hạn lấy làm lo, bảo Thượng bảo khanh Hoàng Quýnh rằng: “Hai ba năm nay đại hạn luôn, trẫm nghĩ chưa rõ vì cớ gì. Hay vì con gái bị giam hãm trong cung nhiều, nên khí âm uất tắc mà đến thế chăng? Nay đàn bà con gái trong cung cũng không nhiều lắm, song tạm lựa cho ra 100 người, may ra tai biến bớt chăng ?”.

Vua vời Binh bộ dụ bảo về việc binh ở Bình Hoà, chỉ bảo phương lược, sai làm phiếu nghĩ, qua ngày hôm ấy chưa thấy dâng phiếu. Cho hỏi mấy lần, bộ thần đều chưa vào chầu. Vua giận nói rằng: “Bộ Binh là nơi khu cơ trọng yếu mà lười biếng như thế, há chẳng đến nhỡ việc ư”. Liền sai đi bắt Tham tri Nguyễn Khoa Minh trói ở Tả vệ, hôm sau mới tha.

Trong Kinh kỳ mưa. Vua ngự ở điện, muốn hỏi rõ công việc làm ruộng, cho vời Kinh doãn là Bùi Tăng Huy, nhưng lâu không đến. Vua nói rằng: “Chiều hôm qua Nguyễn Khoa Minh không chầu, lập tức xuống chỉ nghiêm phạt, hắn đã trông thấy, chưa qua một ngày mà đã biếng nhờn như thế, bụng nó để đâu? Nếu kẻ khác trông thấy bắt chước thì còn lấy gì để răn bảo quan lại?”. Sai bộ Lại và Nội các tuyên chỉ cật hỏi. Huy bị phạt.

Ngày Quý sửu xuất quân. Trước một ngày, lệ có lính túc vệ trực đêm canh giữ ở ngoài cửa Tả Túc, Hữu túc, quân Thị trung không một người nào đến cả. Vua nghe nói, sai đánh Phó vệ uý Trần Văn Lộc 80 trượng. Thống chế Lưỡng dực là Tôn Thất Bính và Trần Văn Cường đều giáng một cấp.

Bèn theo đường thuỷ tiến đến cửa biển Đà Nẵng. ở đấy có thuyền Tây dương đến buôn bán, nghe tin thuyền ngự đến, bắn 21 phát súng mừng, đấy là lễ mừng vua theo tục nước ấy. Sai mang bò rượu thưởng cho.

Dựng lầu Tàng thư (ở phường Doanh Phong trong Kinh thành, lầu làm hai tầng, tầng trên 7 gian 2 chái, tầng dưới 11 gian, chung quanh đều xây lan can, bốn bên lầu xây hồ vuông gọi là hồ Học Hải, mé tây hồ có cầu. Các sổ sách năm trước của sáu bộ đều chứa ở trên lầu), sai Thự thống chế Đoàn Đức Luận trông nom biền binh các bảo và các sai Ban trực và Hùng cự 1.000 người để xây dựng.

Có người học trò Quảng Trị là Nguyễn Thiên Điều, kỳ đệ nhất khoa ấy thấy đầu bài khó, đứng đầu xướng xuất, học trò ở vi tả nổi dậy làm ầm lên, muốn nhổ vi đi ra; ba vi giáp ất và hữu cũng náo động. Quan binh đàn áp mới yên. Việc tâu lên. Vua cả giận, dụ rằng: “Nhà nước vẫn sẵn lòng đãi học trò. Nay gặp thịnh điển kén chọn nhân tài, bọn nó đáng phải tự ganh nhau giùi mài để giãi bày sở học của mình, sao lại có kẻ tối tăm hung ác lẫn lộn vào trong đó, buông tuồng càn bậy như thế ? Nếu không xét trị thì sao thay đổi được thói kiêu bạc ấy ?”. Hạ lệnh cho đường quan lục bộ bắt cả học trò ở vi tả họp lại để xét hỏi. Lại truyền dụ bảo rằng: “Việc làm náo động trường vi, tội ở kẻ thủ xướng, trẫm quyết không vì một hai người ngu tối mà giận lây sang người vô tội đâu. Bọn ngươi nên nói ra người thủ xướng, thì sớm định tội được, khỏi lỡ kỳ thi. Nếu cứ một mực đun đẩy hàm hồ không bao giờ xong thì sẽ bắt giam để xét đến cùng, bấy giờ ma quỷ cũng không trốn thoát, mà thân danh bọn ngươi không thể còn tính đến nữa, về sau có hối cũng không kịp. Nên suy nghĩ mà tự lựa lấy chớ bảo là trẫm không thương”. Rồi Thiên Điều thú tội, xử giảo giam hậu, ngoài ra đều tha. Rồi giảm tội cho Thiên Điều, phát đi làm lính ở cơ Định man.

Tha giảm thuế cảng cho lái buôn gạo nước ngoài. Nhiều thuyền buôn các xứ Đại Đồng, Chân Côn nước Xiêm và xứ Hạ Châu chở gạo đến bán ở Hà Tiên. Vua nghe tin, chuẩn định rằng từ nay thuyền buôn nước ngoài có chở gạo đến bán thì lượng tha giảm thuế cảng, theo số gạo nhiều ít làm thứ bậc. (Chở gạo từ 8 phần trở lên, được miễn cả thuế ; từ 5 phần trở lên được miễn 7 phần thuế, từ 3 phần trở lên được miễn 5 phần thuế).

Tha lệ nộp da nai cho thuyền buôn Gia Định đi buôn ở Nam Vang.

Cảng Hà Tiên trước không có ngạch thuế, thuyền buôn đều tụ họp ở đấy để tránh thuế.

Diên Khánh công Tấn vì việc riêng bắt giam dân phủ Thừa Thiên và sai dịch thuộc phủ, phủ thần đem việc tâu lên. Vua vời Tấn đến, tha thiết quở trách, lại khóc mà dụ rằng: “Dân là gốc nước, dân không yêu mến thì ngươi có thể hưởng giàu sang này được mãi không? Ngươi đã không cùng chia lo với ta lại làm thêm lo cho ta thì lòng ngươi có yên không?”. Bèn sai bắt trưởng sử là Hồ Văn Tùng đánh 100 trượng và cách chức sung làm lính phủ. Chưa được bao lâu, Tấn lại sai thuộc binh đi Bình Định bắt con hát bắt càn cả dân thường. Việc phát giác. Vua dụ bầy tôi rằng: “Diên Khánh công trước đã tự ý làm bậy, bị người tham hặc tâu lên, trẫm đã gọi đến nghiêm mắng; nay còn dám lấy việc nhỏ mọn về ban hát mà làm giấy sai phái đi bắt người ở ngoài làm bùa hộ thân, khinh thường pháp luật. Từ trước đến nay những con em và cháu trẫm, trẫm vẫn trước mặt khuyên răn, bầy tôi cũng đều tai nghe mắt thấy. Ngờ đâu cố tật của Diên Khánh công khó chừa, cứ quen tính nóng nảy làm càn, dẫu trẫm nhiều lần dạy bảo mà vẫn không thể khiến làm điều phải được, nghĩ tới khiến người hổ thẹn toát mồ hôi. Không thể không một phen trừng trị để đổi hẳn tà tâm”. Bèn sai áp giải ngay tên thuộc binh là Nguyễn Văn Pháp đến chỗ phạm tội, chém đầu cho mọi người biết; 4 người đi theo thì phát đi sung quân ở đồn bảo dọc biên giới Quảng Ngãi. Phạt thân công Tấn 1 năm bổng.

Ngày Mậu ngọ, miễn chầu, bầy tôi dâng tờ thỉnh an. Vua phê bảo: “Nay trẫm đã thấy tám chín phần khoẻ mạnh, chỉ hiềm dương kém sợ lạnh, khí hư dễ cảm thôi. Vả lại một tuần nay chỉ thấy có đàn bà và hoạn quan, khiến trong lòng lại càng buồn bực khó chịu. Ngày mồng 7 cũng có thể triệu các khanh đến để yên lòng các khanh và để thần trí trẫm thư thái một chút”.

Bảo tức: giữ cho dân yên để sinh sản nhiều. Chính sách bảo tức có 6 điều: 1) Yêu trẻ. 2) Nuôi người già. 3) Nâng đỡ kẻ cùng khổ. 4) Thương người nghèo. 5) Rộng rãi đối với người có tật. 6) Giữ cho người giàu được yên.


=> Đúng là ếu đứa nào nó sợ, từ thằng lính cho đến ông quan. =__= Nhìn kỷ luật thời Gia Long mới rét, hơi tí là chặt chém, còn đây toàn giáng cấp với phạt.




Chép vụn 1
Sunday, February 23, 2014 Author: Trường An

Vùi đầu đọc sử vì đã quên gần hết. '__' Hú hú, Minh Mạng lắm chữ quá, đọc hoa cả mắt, mỗi lần đụng tới biểu chiếu dụ của bác là nổi da gà vì... dài, lại còn thích nói. TT__TT

(Nhưng mà đọc thời kỳ đầu của Minh Mạng thấy rõ là một người tình cảm, ấm áp (và thích-bao-che), còn có vẻ dễ tin người nữa cơ. Buồn cười nhất là lúc Minh Mạng nổi khùng vì Lê Chất, hỏi "tại xao hắn làm bậy bạ vậy mà hông có ai báo với ta?", quần thần thẽ thọt "người vua yêu thì ai dám chọt?". =o= Công nhận, Gia Long hơi tí là lôi người ra phạt, còn Minh Mạng ban đầu toàn kiểu dĩ hòa vi quý, cuối cùng chả ai nghe. /__\)

Ghi chép về Minh Mạng trong Thực lục:

Ban kính đeo mắt của Tây dương và lọ dầu đinh hương cho bầy tôi.

Lấy đèn đọc sách của Tây ban cho quan văn.

Cho Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Xuân một thanh kiếm Tây chạm mạ vàng, một khẩu súng Tây chữ vàng và cho 19 người Vệ uý, Phó vệ uý Thần sách ở trấn, mỗi người một thanh kiếm Tây mạ bạc, một khẩu súng Tây chữ vàng.

Vua dụ bầy tôi rằng: “Đạo trị nước chép ở sách vở, không xem rộng xét kỹ không thể biết hết được. Nay thư viện Thanh Hoà chứa nhiều sách lạ bốn phương, bọn khanh lúc rỗi việc mà có chí đọc sách thì mượn mà xem”.

Vua dụ rằng: “Trẫm từ lúc nhỏ, nhờ sức giúp đỡ sửa chữa của khanh. Nay bọn Quân Cự là em nhỏ của trẫm, đều sinh trưởng ở nơi thâm cung, không dạy thì không thành người có đức được. Khanh nên sớm hôm khéo dẫn bảo, có lỗi thì đánh, chớ để cho thành tính kiêu căng lười biếng”. Nhân cho cái roi dạy.

Lại thấy Quảng Oai công là Quân có tính kiêu hoang, đặc mệnh Hàn lâm trực giảng là Nguyễn Công Vị riêng sung giảng quan Công phủ, hằng ngày đến dẫn bảo. Vị tâu nói: “Quảng Oai công chuyên chơi đùa mà lười học, sợ một mình thần không thể làm cho nên được”. Vua hỏi rằng : “Không có Nguyễn Khoa Thường là trưởng sử ở đấy à”? Vị đáp rằng: “Trưởng sử đối với hoàng đệ thấy thì lạy, gọi thì dạ, còn sợ gì mà học”. Vua nói rằng: “Về phận trên dưới thì vậy nhưng còn sự giúp đỡ khuyên bảo thì không thể làm hết chức trách sao?”.

Bãi thuế sân chim ở Hà Tiên. Bộ Hộ tâu dâng ngạch thuế sân chim. Vua nói: “Dân là đồng bào ta, vật là cùng sống với ta, người làm vua nên suy lòng nhân với dân kịp đến muôn vật, khiến đều thoả sống. Nay bọn tiểu dân trục lợi lấy việc đánh chim làm làm nghề nghiệp, làm hại nhiều sinh vật, lòng ta không nỡ để như thế. Vậy bãi đi”.

Rồi Thiệu chạy đến Quỳnh Động (tên xã thuộc huyện Yên Thế, Bắc Ninh). Thẩm cùng Thống quản thập cơ là Ngô Văn Vĩnh đuổi bắt được Thiệu và Lương Hoàng Hải cùng đồ đảng hơn 160 người... Khi thành thần dâng án lên, vua không nỡ giết nhiều, chỉ ra lệnh giết Thiệu và Hải cùng vài người cố phạm, còn các người khác thì rộng tha hết.

Vua nghe nói đầy tớ nhà Thái trưởng công chúa Ngọc Du cậy thế lấn người, mà chúa không cấm, mới vời con bà ấy là Khinh xa đô uý Võ Khánh đến trách rằng: “Nước có điển hình, sao mày không khuyên mẹ mày đi”. Khánh thưa rằng: “Không thể khuyên can được”. Vua bảo rằng: “Làm con thờ cha mẹ phải nên lấy lời nói dịu dàng can ngăn ở lúc việc chớm phát, để cha mẹ đừng mắc vào điều phi nghĩa, không thế thì trách nhiệm ở mày”.

Cho những cung nhân triều trước, người nào không có con thì về với người thân. Đầu là vua sai làm dãy nhà dài ở sau điện Hoàng Nhân cho cung nhân ở để đợi hết tang. Lê Văn Duyệt xin theo di mệnh của Tiên đế, ai muốn về thì cho về. Vua cho lời ấy là phải, ra lệnh cấp cho mỗi người 2 năm lương.

Chiếu rằng: “Trẫm nghe đường ngôn luận mở rộng thì nước mới trị. Cho nên cờ tiến thiện, cây gièm chê là cốt biết tình dân để thông đạo trị mà đem lời khuyên can..."

Sai bọn biện lý Nội vụ phủ là Hồ Hữu Thẩm đến Quảng Nam và Quảng Ngãi hội với dinh thần trấn thần đặt mua đường cát. Khi Hữu Thẩm về, đem việc dân vui lòng nộp cho nhà nước, tâu lên. Vua hài lòng nói rằng: “Đường cát dân không thể ăn cho khỏi đói, mặc cho khỏi rét được mà người Tây thì ưa lắm. Từ nay về sau nên mua nhiều để đổi lấy hàng hoá của Tây. Đến như thóc gạo tơ bông, vải lụa, dân ta phải nhờ đấy mà sống, thì không thể đổi được”.

Vua bảo bầy tôi rằng: “Trước Tiên đế có bảo trẫm: “Việc xây đắp Kinh thành không khỏi nhọc dân phí của, làm cho kẻ dưới ta oán. Ta cố đương lấy sự khó nhọc để rỗi cho mày, nếu có chỗ nào chưa xong, thì nhân đấy mà làm xong đi”, Tiên đế băng, chỉ một việc ấy là kinh dinh chưa xong, nay lại lở sụt, đấy là trách nhiệm nối chí noi việc của trẫm”.

Sánh tặng nguyên phi Hồ thị (tức Nhân hoàng hậu) làm Chiêu nghi, thuỵ là Thuận Đức. (Sách văn rằng: “Lễ là lẽ nên vậy, cho thuỵ để tỏ điển cổ; ơn là nghĩa ở đấy, truy phong cho trọng lễ nghi. Nay chọn được ngày lành, ban sắc rực rỡ. Nhớ tuyển thị Hồ thị, dòng dõi trâm anh, dáng như (ngọc) uyển (ngọc) diễm. Trang nghiêm nhàn nhã, giữ khuê nghi không hề vội vàng; thuần thục nêu gương, từ tiềm để còn lưu tiếng tốt. Sinh con trai đương được yêu quý, giấc nam kha lại chợt tỉnh ngay. Vội đã từ trần; vô cùng thương xót. Vậy đặc sai sứ thần mang sách bạc, tặng làm Chiêu nghi, thuỵ là Thuận Đức. Mong rằng nhận lấy huy chương và kính tuân sủng mệnh, để được an ủi đức tốt quỳnh dao và hưởng lâu dài cổn hoa vinh hiển”.

Ngày Nhâm Thân, trú chân ở hành cung Suối Sa ở Nghệ An, bỗng gặp bão, mưa to như trút. Đêm, vua dậy thấy thị thần đều ướt át rét mướt, tự mình rót rượu và lấy thuốc viên đem cho. Lại sai sở tại lấy củi than cấp cho các quân đốt sưởi chống rét. Thưởng bạc tiền cho quan quân trực đêm theo bậc khác nhau.



Và các ghi chép linh tinh.

"Sắc từ nay, hoàng thái tử và các hoàng tử hoàng tôn tước công vào hầu, từ các cửa hoàng thành trở vào trong: hành nghi của hoàng thái tử thì cáng một cái, lọng hai cái, gươm ba cái, hành nghi các tước công thì cáng, lọng, gươm, mỗi thứ một cái, đều đến ngoài cửa Hưng Khánh thì dừng; hoàng nữ và vợ thiếp các tước công chỉ được đi các cửa Hiển Nhân, Chương Đức, Củng Thần, hành nghi thì dùng kiệu, lọng đều một cái, đến ngoài cửa Lý Thuận thì dừng."

=> Nam đi cáng, nữ đi kiệu.

Đồng phục Thái học viện: "Chọn những con em tuổi nhỏ tuấn tú trong tôn thất là bọn Tôn Thất Chào 60 người vào nhà Thái học đọc sách, cấp cho lương tháng và ban cho áo mũ. (Mũ tứ phương bình đính đều một cỗ, áo sa hoa màu bảo lam trong lót vải trắng, kiểu tràng vạt, một chiếc xiêm bằng trừu màu lam một bức, đai đỏ và hia tất đủ bộ)."

"Trước đây Duyệt sai thuộc hạ Nguyễn Văn Độ cưỡi thuyền cùng Phan Đạt đi các nước Xích Mao trở ra ngoài tìm mua vũ khí, bị gió thuyền dạt ra trấn Đào Oai thuộc nước Miến Điện."

Về ngoại thương, kinh tế:

(1818) "Hạ lệnh cho Gia Định và Bắc Thành từ nay tiền ba lễ của thuyền buôn nước ngoài và tiền cai tàu đều đem chứa ở kho thành, hằng năm đến tháng cuối mùa đông đem sớ dâng lên, rồi xuất tiền ở kho Kinh chia cho các quan. (Tiền tễ cai tàu, hằng năm thu vào có khi đến hơn 8,9 nghìn quan; năm Gia Long thứ 4 [1805] chia làm 10 thành, cho riêng văn ban và võ ban 1 thành, quan cai tàu 2 thành, còn 6 thành thì chia cho hoàng tử, hoàng nữ, hoàng tôn, tả hữu cung tần, cho đến các quan văn võ lớn nhỏ trong ngoài, trường đà, công tính, người giám tự họ Lê họ Trịnh, gồm 10 bậc. Năm thứ 5 thì chia làm 10 thành, lấy 1 thành cho riêng quan cai tàu, còn 9 thành cứ theo bậc mà chia cho, về sau ghi làm lệ mãi mãi; hằng năm đến tháng cuối đông hai thành nộp tiền về Kinh. Đến đây mới ra lệnh để trữ ở thành, mà lấy tiền ở kho Kinh chia cấp).

(Ba lễ: Lễ dâng hoàng thái hậu, lễ dâng vua, lễ dâng hoàng thái tử.)"

(Cuối năm 1820) "Bộ Hộ tâu dâng sách hội kê đinh điền tiền gạo vàng bạc năm nay: số đinh hơn 620.240 người; ruộng 3.076.300 mẫu, và hơn 26.750 khoảnh; tiền hơn 1.925.920 quan; thóc hơn 2.266.650 hộc; vàng hơn 580 lạng; bạc hơn 12.040 lạng.

Bộ Binh tâu dâng nhân số năm nay về binh ngạch, quan lại trong ngoài, các sắc binh tượng cùng các hạng binh tính, biệt nạp, tạp lưu, gồm hơn 204.220 người có lẻ."

(1823) "Quản Tào chính là Lê Bá Phẩm và Phạm Văn Tường dâng bản sách hội kê tiền bạc thuế thuyền tàu các địa phương về ba năm Kỷ mão, Canh thìn, Tân tỵ. (Năm Kỷ mão, thuyền tàu 3.148 chiếc, nộp thuế ban và thuế cảng, bạc đĩnh hạng 10 lạng là 66 đĩnh, hạng 1 lạng là 1.721 đĩnh, tiền hơn 2.430 quan. Năm Canh thìn, thuyền tàu 3.246 chiếc, nộp thuế ban và thuế cảng cùng thuế Hạ Châu, bạc đĩnh hạng 10 lạng là 92 đĩnh, hạng 1 lạng là 1.297 đĩnh, tiền hơn 28.800 quan. Năm Tân tỵ, thuyền tàu 3.190 chiếc, nộp thuế ban và thuế cảng cùng thuế Hạ Châu, bạc đĩnh hạng 10 lạng là 83 đĩnh, hạng 1 lạng là 509 đĩnh, bạc phiến 2 phiến, tiền hơn 32.470 quan)."

"Có người Phú Lãng Sa dâng quốc thư và sản vật địa phương (gương to) cùng đến với Thắng, đậu thuyền ở Đà Nẵng. Đem dịch thư ra thì là xin thông thương. Vua giao đình thần bàn, rồi hạ lệnh cho ty Thương bạc đưa thư trả lời nhận cho, và biếu nhiều phẩm vật (100 cân da voi, 30 cân da dê, 10 tấm da hổ, 100 tấm da trâu, 500 tấm da hươu, 200 tấm sa nam, 200 tấm the nam, 100 tấm lụa Cao Bộ, đường phèn, đường phổi mỗi thứ 1.000 cân, 10.000 cân đường cát, 2 cây ngà voi, 2 cỗ sừng tê), giao cho người ấy mang về nước."

=> Tiền thu từ thuyền buôn mỗi năm bằng 1/5 tài sản cả nước, chưa kể mấy loại thuế lẻ tẻ khác thuyền buôn phải nộp, cộng lại chắc bằng 1/4. 'o' Thuế đầu nguồn, thuế chợ búa, thuế sản vật, thuế đất đai... cộng vào thêm nữa thì... (Mà mấy năm này Gia Định thất thu vì bị dịch đậu mùa, lũ lụt rồi đó.)


“Nay việc lớn của thiên hạ đã định rồi. Ta cũng sắp chết, không nói gì, chỉ có một việc là ngày sau phải cẩn thận, chớ nên gây hấn ngoài biên”.




LVD
Sunday, February 23, 2014 Author: Trường An

Truy lục lại các vụ án quan lại trong thời Nguyễn, nhận ra... cái nào cũng liên quan đến Lê Văn Duyệt.

Về vụ Nguyễn Văn Thành, Thực lục ghi:

Khi ấy có người Thanh Hoa là Nguyễn Trương Hiệu tự đến xin làm môn khách của Văn Thuyên. ở không bao lâu, Văn Thuyên sai về. Trương Hiệu nói với đồng quận là Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Hựu Nghi rằng Văn Thuyên ngầm muốn nổi loạn, dùng thơ sai Trương Hiệu gọi bọn người trong quận là Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận, lời rất bội nghịch.

Nghi sai Trương Hiệu đem thơ ấy cáo với Lê Văn Duyệt. Duyệt với Văn Thành vốn không ưa nhau, bèn đem thơ phản nghịch của Văn Thuyên dâng lên. Vua cho rằng sự trạng chưa được rõ rệt, hãy để đấy mà trả bài thơ ấy về.

Trước là Nguyễn Trương Hiệu tố cáo Văn Thuyên mưu phản, Văn Thuyên cho rằng thơ ấy không phải tự tay viết, cố cãi là vu. Kịp Đỗ Văn Chương làm chứng cho lời nói của Hiệu là đúng. Phạm Đăng Hưng tâu lên. Vua nói: “Văn Thuyên đã phục chưa?” Thưa rằng chưa. Vua nói: “Nó có lòng làm phản, sao được già miệng thế?” Đăng Hưng tâu rằng: “Văn Thuyên tự cho mình là con công thần, bệ hạ không nỡ giết và bọn thần ngửa theo lòng thánh, không dám hết phép tra trị, nên mới già miệng là do cậy mình vậy”. Vua nín thinh. Sáng hôm sau bèn sai Lê Văn Duyệt tra hỏi. Văn Thuyên quả phục, do đó Văn Thành sợ hãi xin chịu tội. Vua bèn đưa tờ biểu ra cho bầy tôi xem. Đăng Hưng tâu nói: “Văn Thành dâng biểu này, lời nói úp mở, muốn lấy khôn vặt đánh lừa triều đình, việc xin chịu tội là không phải thực lòng vậy”. Vua nói: “Lấy tình thực mà nói, Văn Thành không phải là người phản bạn, chỉ có lỗi là không biết con mình là ác, mà lại che lỗi cho, ấy là muốn khêu lòng giận cho mọi người, cũng ngu lắm vậy có gì là khôn đâu?”. Bầy tôi xin hạ ngục Văn Thành.

Có tên Hữu lấy trộm ấn Tả quân, Lê Văn Duyệt bắt được tâu lên. Vua sai đình thần tra hỏi. Hữu thú là do Nguyễn Văn Thành sai, hẹn thưởng 30 lạng bạc, lại nói Văn Thành sai làm môn hạ Văn Duyệt để bỏ ngầm thuốc độc, mưu không thành bèn tự lấy trộm ấn bỏ đi. Vua cho Hữu nói trước sau không đúng, lại không có căn cứ, không muốn xét kỹ sợ liên lụy cho người, bèn sai giết Hữu và bỏ việc ấy đi.

Bắt trói Tham tri Hình bộ Võ Trinh và Chưởng cơ Tống Phước Ngoạn mà hạ ngục. Đình thần đương họp tra Văn Thuyên. Văn Thuyên cùng Nguyễn Trương Hiệu thanh biện chưa xong. Có viên xá sai hình ty là Trần Ngọc Ngữ làm ngục lại nói với Võ Trinh rằng: “Trương Hiệu trước làm tịch sĩ cho Nguyễn Hựu Nghi, nay nhận là môn khách của Văn Thuyên là không đúng”. Trinh đem lời đó nói với Tống Phước Ngoạn, Ngoạn lòng muốn biện cho Văn Thuyên bị vu, bèn ngầm giục Ngữ đem việc phát giác. Vua sai đình thần nghiêm tra. Ngữ không trả lời được, đổ cho Trinh và Ngoạn mớm lời, hai bên bị tội.

Nguyễn Văn Thành phải tội tự sát. Trước là Bắc Thành xử án Lê Duy Hoán, án làm xong đưa về Kinh, lại sai bộ Hình hỏi lại. Duy Hoán bèn nói Văn Thuyên có âm mưu với hắn gửi thư bảo làm phản. Bộ Hình đem việc tâu. Vua nói: “Văn Thuyên ở trong ngục làm sao bảo người khác vì mình mà làm phản được? Lời ấy lại giống trẻ con nói đùa, vậy sai các nội thần hội bàn xét đến cùng cho rõ tội trạng”. Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đình Đức đều nói: “Bọn kia ngầm mưu làm càn ngay từ ngày Văn Thành còn làm Tổng trấn Bắc Thành, chứ không phải đợi khi đã phải tội rồi sau mới gởi thư”.

Liệt truyện ghi:

Có người Thanh Hóa là Nguyễn Hữu Nghi trước là môn khách của Thành bị tội trốn đi đến làm môn hạ Duyệt. Duyệt yêu Nghi nói khéo, cất nhắc làm Thiêm sư bộ Hình. Có tịch sĩ Nguyễn Trương Hiệu là đứa lạc phách, Nghi cho Hiệu giả làm gia nhân con Thành là Thuyên. Thuyên vẫn thích tân khách, hay văn từ, Nghi ngầm sai Hiệu dò la việc làm của Thuyên, trộm lấy được bài thơ có câu bội nghịch, đến bấy giờ Duyệt về chầu, Nghi nói với Duyệt rằng con Thành là Thuyên đi chiêu dụ người đồng thuận là lũ Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận, lời rất bội nghịch, thơ này do chính tay Thuyên viết. Duyệt tin lời nói của Nghi, cầm mật thơ ấy tâu lên vua, vua nói: Sự trạng chưa rõ hãy để đấy, sai trả tờ ấy, Nghi nhân xui Hiệu giữ lấy tờ ấy làm văn tự nợ, Hiệu đón Thành ở đường nắm tay áo đòi tiền chuộc tờ ấy, Thành bất đắc dĩ bắt Hiệu cùng Thuyên đưa vào dinh Quảng Đức tra hỏi, đến triều đem việc ấy tâu vua. Nghịch án của cha con Thuyên bắt đầu từ đấy.

... Án Thuyên để lâu mãi không giải quyết được, Duyệt đốc trị việc ấy, Thuyên bèn thú tội. Tham tri bộ Lại Trần Văn Tuần bảo rằng: Trung quân với Tả quân là người đồng công cộng thể, Trung quân ngày nay như thế thì ông ngày sau thế nào? Duyệt nghe lời nói ấy cũng hơi buồn, thôi không tức giận Thành nữa.

Đến đời Minh Mạng, lại thấy xuất hiện 2 cái tên này:

Cất sinh đồ ở Thanh Hoa là Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận bổ vào Hàn lâm viện. Trước đây Lê Văn Duyệt đi kinh lược địa phương Thanh Nghệ, hai người ấy đều có công gọi giặc trốn ra đầu hàng. Duyệt đem việc tâu lên triều đình cho nên có mệnh này.

Nghi án Nguyễn Hữu Nghi - môn khách của Lê Văn Duyệt đứng sau giật dây mọi sự thì Thực lục không ghi chắc chắn, nhưng Liệt truyện thì lại ghi. Càng "lạ" hơn là chính Lê Văn Duyệt sau này lại cất nhắc "đồng đảng dự báo" của Nguyễn Văn Thuyên.

Lời khai của Lê Duy Hoán là bước quyết định giết cha con Nguyễn Văn Thành. Lê Duy Hoán bị bắt ở Bắc - lúc này nằm trong quyền Lê Chất, huynh đệ của Lê Văn Duyệt.

Nói chung, hầu như tất cả những nhân vật liên quan đến vụ án này đều dính đến Lê Văn Duyệt.

Ngay cả trong vụ án Đặng Trần Thường

Đặng Trần Thường có tội bị giết. Trước Đặng Trần Thường đã được tha, lưu lại Kinh. Nhân vì trước ở Bắc Thành, ẩn lậu thuế đầm ao đinh điền, Lê Chất phát ra lại bị hạ ngục. Trần Thường uống rượu nói xằng, phần nhiều oán trách. Đình thần thẩm án đều cho rằng nên giết. Bèn xử giảo và tịch thu gia sản.

Đặng Trần Thường với Lê Chất không ưa gì nhau. Án trước tha bổng, lại "được" đệm thêm án tham ô, giết bằng được mới thôi.

Điều lạ thứ hai là hầu như những Hiệp tổng trấn, Phó tổng trấn làm việc với Lê Văn Duyệt thể nào cũng có chuyện xảy ra:

Hiệp tổng trấn Gia Định là Ngô Nhân Tĩnh chết. Nhân Tĩnh trước sang Chân Lạp, có người nói Tĩnh nhận riêng của nước Phiên. Văn Duyệt đem việc tâu, Vua nói: “Việc không có chứng cớ, hãy để đó”. Nhân Tĩnh nghĩ không yên lòng, thường tự than rằng: “Vẽ rắn thêm chân, ai khiến ta mang cái oan không bày tỏ được”. Đến nay ốm chết.

Liệt truyện ghi:

Phó Tổng trấn Hoàng Công Lý làm quan tham ngược, Duyệt đem việc tham tâu, Lý phải tội xử tử.

Thực lục ghi:

Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua bảo Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Đức Xuyên rằng: “Không ngờ Công Lý quá đến thế, công trạng nó có gì bằng các khanh, duy nhờ Tiên đế cất nhắc, ngôi đến Phó tổng trấn, lộc nước ơn vua, thực không phải bạc, thế mà lại bóc lột tiểu dân, làm con mọt nước. Nay tuy dùng phép buộc tội, nhưng dân đã khốn khổ rồi”.

Sai đình thần hội bàn. Đều nói : “Công Lý bị người kiện, nếu triệu về Kinh để xét, tất phải đòi nhân chứng đến, không bằng để ở thành mà tra xét là tiện hơn”. Vua cho là phải, bèn hạ Công Lý xuống ngục, sai Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Đình Thịnh đến hội với tào thần ở thành mà xét hỏi.

Hoàng Công Lý trước bị tội tham nhũng, tang vật đến trên 2 vạn quan tiền. Sai quan thành Gia Định đòi hỏi. Khi thành án, giao đình thần bàn xét, đáng tội chết, bèn đem giết, tịch thu gia sản đem trả lại cho binh dân.

Vụ án Ứng Hòa công Mỹ Đường được ghi:

Ứng Hoà công Mỹ Đường có tội bị miễn làm thường dân. Mỹ Đường là con trai cả của Anh duệ Hoàng thái tử. Trước có người cáo Mỹ Đường là người dâm dật, thông gian với mẹ đẻ là Tống Thị Quyên. Lê Văn Duyệt đem việc tâu kín. Vua sai bắt Thị Quyên giao cho Văn Duyệt dìm chết mà cấm Mỹ Đường không được chầu hầu. Đến nay Mỹ Đường dâng sớ nói là có bệnh, xin nộp trả sách ấn và xin miễn làm thứ nhân, về ở nhà riêng. Vua vời các thân công đại thần vào bàn, bèn y cho.

Vụ án này xảy ra vào năm Minh Mạng thứ 5, nhìn lại thì toàn quốc cũng như trong triều không có sự việc bất thường nào. Sau khi Nguyễn Văn Thành chết thì cũng không có ai chống đối vua. Ngay chính Lê Văn Duyệt cũng từng rất thân thiết với Minh Mạng. Nhưng trước đó, 1 sự kiện xảy ra:

Năm Minh Mạng thứ 4, thị vệ Trần Văn Tình từ Gia Định làm việc công về đem các sự tích Trần Nhật Vĩnh riêng làm phó ngôi mua trộm hàng hóa dâng lên. Duyệt biết tin ấy, năm sau vào chầu xin chém Trần Văn Tình nếu không trả chức Tổng trấn. Lập tức xin từ chức Tổng trấn. Như thế là yêu sách vua, tội không gì lớn bằng, và xin chém một Trần Văn Tình là muốn khóa miệng buộc lưỡi người ta lại, không dám bàn lỗi của nó.

Về nhân vật Trần Nhật Vĩnh này, 5 năm sau lại có án:

Viên bị cách là Trần Nhật Vĩnh, trước vì dâm ô, tham nhũng bị dân Gia Định tố cáo đến hơn 30 khoản. Giao cho thành thần xét rõ ràng để tâu lên. Đến nay án đệ lên bộ Hình bàn lại, xin chém ngay.

Vua bảo bầy tôi rằng: “Tội Vĩnh nặng quá pháp luật, xử chết cũng chưa đủ tội. Đáng lý giao về thành mà chém để tạ nhân dân. Nhưng vì đường xa cách trở, hoặc xảy ra việc gì, nên chém ngay ở nơi Đông thị, rồi đưa đầu đến Gia Định để bêu. Hữu ty tịch biên nhà hắn được hơn 128.000 quan. Trấn thủ Phiên An là Phạm Văn Châu, nguyên Cai bạ là Nguyễn Bá Uông, Thiêm sự quyền nhiếp Hiệp trấn là Ngô Đức Chính, đều vì liên can bị cách chức.

Thực lục không ghi lý do chính xác Lê Văn Duyệt xin từ chức cùng với Lê Chất vào đầu năm 1824 - Lý do của Lê Chất cũng tương tự, một vị quan tên Lê Duy Thanh (vốn là thầy học của Minh Mạng) bị Chất khép tội chết nhưng triều đình lại cho đi đày, Chất quyết ép đem ông ta ra xử chết mới thôi. Theo Liệt truyện ghi thì là cả 2 trọng thần ra sức ép vua. Sau này xử Trần Nhật Vĩnh, vua cũng xử ngay tại Huế chứ không đem về Gia Định.

Không rõ Minh Mạng có chém Trần Văn Tình hay không. Nhưng đầu năm 1824, Lê Văn Duyệt yêu sách đòi từ chức, cuối năm đó việc Mỹ Đường phát ra. Ngay năm sau Minh Mạng cho Lê Văn Duyệt về Gia Định lập tức.

Về sau, khi xử án Lê Văn Duyệt sau việc Lê Văn Khôi, Minh Mạng nói với quần thần:

Hoàng khảo ta Thế tổ Cao hoàng đế nghĩ nó lúc bé sai khiến trong cung, tin làm lòng bụng, nhiều lần cho mang cờ tiết búa to, không ngờ lũ này phần nhiều không phải thiên loại, ngày càng kiêu rông, dần mang lòng bất thần, tha hồ làm bậy ăn nói cuồng bội, chỉ vì lòng sợ thánh minh mà dẫu có lòng gian thì cũng không dám phát ra, mà Hoàng khảo ta năm cuối đã biết rõ. Lại nghĩ đứa nô tì ấy dù lòng mang sự trái phép, nhưng thiên hạ đã cả định, thần dân ai lại theo đứa hoạn quan ấy. Tất nó không làm gì được, ngày càng xa mà ẩn nhẫn qua đi...

Đình thần nghị án Lê Văn Duyệt:

Đến lúc đình thần nghị án, dâng lên, chỉ ra những lời nói việc làm bội nghịch đáng làm tội xử trảm 7 điều, đáng tội xử giảo 2 điều. Đáng xử tội sung quân 1 điều là bắt biền binh đóng thuyền. Duy sự biến ở Phiên An, Duyệt thực là đầu tội, xin chiếu luật mưu phản kết án lăng trì, nhưng nó đã bị Diêm vương bắt đi rồi. Nay xin thu bằng sắc bổ quan tài ra chém xác để tỏ gương răn. Những cáo sắc tổ tiên ông bà cha mẹ đều thu lấy cả. Và xem mồ mả cha ông nó có làm trái phép đều phá bỏ đi, còn các thê thiếp, con cháu gọi bằng chú bác đều phân biệt xử tội, tài sản bị tịch thu hết cả.

Án dâng lên, những người nguyên nghị trảm quyết đều đổi làm trảm giam hậu, những đứa dưới 15 tuổi tạm giam lại. Những trẻ bé không biết gì thì tha không bắt. Phát nô 13 đứa đàn bà, đều tha cả. Việc chém xác cũng không thi hành.

Vua sai bộ Hình sao lục án này để đưa cho đốc phủ các tỉnh để cho ý kiến tâu lên. Lạng Bình hộ phủ Trần Huy Phác xin những thê thiếp con cháu Duyệt đều xử trảm quyết, còn lại y đình nghị.

Quảng Yên hộ phủ Lê Dục Đức tâu xin những đứa phạm 16 tuổi trở lên đều đem giết đi, còn lại y đình nghị.

Bình Phú Tổng đốc Vũ Xuân Cẩn, Ninh Thái Tổng đốc Hoàng Văn Trạm cũng xin y đình nghị, lại nói rằng hoặc nên lấy công bù tội, châm chước thế nào ra tự ơn trời.

Vua dụ rằng: Muôn người cùng một lời, rõ ràng án này là án sát nghìn đời. Lê Văn Duyệt tội khó đếm tóc, nói đến đau lòng, bể quan tài ra mà chém xác cũng chả quá đáng. Nhưng nghĩ nó chết đã quá lâu trước, bị Diêm la làm tội, lại đã tước quan tước, còn cái xương khô trong mả cũng không thèm gia hình. Nay sai Gia Định Tổng đốc đến chỗ mả đắp, san ra làm đất bằng, dựng bia đá lên trên viết to mấy chữ "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ" để tỏ tội danh khi đã chết và rõ phép nước vào đời sau. Các con, các cháu gọi bằng chú bác, vô luận Lê Văn Duyệt là đầu tội ác nhưng cứ chuẩn là Lê Văn Hán giao thông với giặc thì bắt tội lây, luật đã nói rõ. Nhưng chúng chỉ là cuồng vọng nhất thời đi lại với giặc, so với đứa trước sau theo giặc chống quan quân cũng có khác. Và Duyệt đã kết án cực hình để tỏ pháp nước thì xử trảm giam hậu cũng là đáng tội.

Án của vua nhẹ hơn án của quan (Có lẽ chiến tranh suốt mấy năm khiến ai cũng đã phát khùng). So với những cái án khác cùng thời gian, án này không hề nặng. '__'




Nữ sĩ
Wednesday, February 19, 2014 Author: Trường An

Nữ sĩ thời Nguyễn ở miền trong nổi tiếng nhất là Tam Khanh công chúa. Đây là 3 nàng công chúa được đặt biệt hiệu Trọng Khanh, Thúc Khanh và Quý Khanh. Ba người đều là em gái cùng mẹ với Tùng Thiện vương, cũng là một danh sĩ nổi tiếng (Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường).


Quy Đức công chúa Vĩnh Trinh

Biệt hiệu là Nguyệt Đình, em gái của Tùng Thiện vương Miên Thẩm. Tuổi còn bé mà thông minh, tính hiếu đễ thuần nhất. Lúc đầu theo học nữ sử ở trong cung, lớn lên thích ngâm vịnh. Chúa thác sinh ở nhà vua, lấy chồng người phú quý mà khiêm tốn giữ gìn, không ưa xa xỉ, duy chỉ thích sách vở mà thôi. Sau khi kết hôn, cùng Thuật (chồng) chia đôn để hỏi chữ, cùng nhau xướng họa, thường có nhiều bài hay, được các vương khen ngợi. Năm thứ 14, Thuật chết ở Gia Định. Chúa xin tự làm sinh phần cùng nơi với mộ của Thuật. Từ đấy thề giữ mộ tiết than khóc, phòng riêng một mình không ra khỏi ngõ. Nhiều người khen là khổ tiết.

Trước tác của chúa có tập Nguyệt Đình Thi Thảo. Tuy Lý vương đề bàn tập thơ, ghi: Phát ra bởi tình, mà đúng lễ nghĩa như các thơ Hà Quảng, Tài Trí ở thiên Vệ phong (Kinh Thi).


Thuận Lễ công chúa Tĩnh Hòa

Tự là Quý Khanh, một tên hiệu nữa là Dưỡng Chi, biệt hiệu Thường Sơn, em gái Tùng Thiện vương Miên Thẩm. Lúc bé thông minh dịu dàng, có đức tốt, thích sách vở, được vua rất yêu. Lúc bé học ở trong cung, thuộc nữ tắc, càng thông kinh sử, đến cả cung từ, học được bài gì ở Nhạc Phủ đều đem dạy người, trong cung gọi là thầy học gái. Khi lớn lên, cùng anh là Miên Thẩm thờ mẹ đẻ ở nhà tư. Nhân học được thơ Đường luật, liền làm được thơ. Chúa ưa thích âm luật, khéo đặt khúc hát, có đặt ra bộ nữ nhạc, đàn sáo đầy nhà, các anh trai em gái thường lại hội yến, lấy đàn hát làm vui. Thương Sơn vương trước đề tập thơ có nói rằng "Tăng Thành trăng tĩnh, đêm nghe tiếng đọc sách dịu dàng. Động Đình gió cao, mùa thu khúc tơ vàng dìu dặt" là chỉ vào việc ấy.

Năm Tự Đức thứ tư, gả cho Đô úy Văn Cát. Sau khi vu quy, chúa cùng Cát vợ chồng hòa hợp, cùng nhau ngâm vịnh gọi là thi xã. Trước tác có tập "Huệ Phố thi".


Lại Đức công chúa Trinh Thận

Hiệu Mai Am, còn có hiệu Thúc Khanh, Nữ Chi, biệt hiệu Diệu Liên, em gái Tùng Thiện vương. Lúc nhỏ bà sống với mẹ và ba chị em gái ở viện Đoan Chính trong Tử Cấm Thành sau dời về Sở Tiêu Viên (vườn mía) thuộc khu dinh thự của Tùng Thiện Vương. Vì đây là khu vực thơ văn của Tùng Thiện Vương và cũng là nơi Tùng Thiện thi xã thường xuyên họp bạn thơ văn nên Mai Am đã được tiếp xúc thi thơ từ rất sớm. Tới tuổi đi học, với thân phận là con cháu hoàng tộc nên bà và chị em không được học ở trường ngoài mà được cho học trong Tôn học đường do anh ruột Tùng Thiện Vương phụ trách. Ba công chúa được sự dạy dỗ của anh nên sớm bộc lộ tài năng về thơ phú. Nguyệt Đình, Mai Am, Huệ Phố được gọi là Tam Khanh (theo ba tên hiệu của ba người lần lượt Trọng Khanh, Thúc Khanh và Quý Khanh) trở nên nổi tiếng lừng lẫy về tài văn chương trong giới nữ lưu ở đất kinh thành. Trong ba người, Mai Am được coi là người tài năng và nổi tiếng nhất. Bà đã sáng lập ra Thỉnh Nguyệt Đình, là nơi bà chủ trì các đêm thơ, có sự tham gia của nhiều danh sĩ đất kinh kỳ.

Trước tác có Diệu Liên thi tập.

Thơ Mai Am - Ức mai:

Lâm đường tạc dạ sóc phong xuy,
Tiểu các thanh hàn độc toạ trì.
Địch lí quan san sầu cựu khúc,
Thuỷ biên li lạc nhận tiền kì.
Hương nam tuyết bắc vô hương cấn,
Nguyệt địa vân giai hữu mộng tư.
Dục hả tân từ viễn tương tặng,
Mỹ nhân uyển tại thuỷ chi mi.


Bên cạnh đó còn có vài người nổi bật khác:


Nguyễn Nhược Thị Bích hay còn gọi là Nguyễn Nhược Thị, tự Lang Hoàn.

Sinh tại Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận. Bà là con gái thứ 4 của Nguyễn Nhược Sơn (hay Nguyễn Nhược San, nguyên là Bố chính tỉnh Thanh Hóa). Nhờ tư chất thông minh, lại được đi học ngay từ nhỏ nên bà sớm nổi tiếng về tài văn chương. Vừa có tài sắc, lại được Phụ chính đại thần Lâm Duy Nghĩa tiến cử, năm 18 tuổi (Tự Đức nguyên niên, 1848), Nguyễn Nhược Thị Bích được tuyển vào cung. Trong một buổi ngâm vịnh, Vua Tự Đức xướng đề thơ Tào Mai (Hoa mai sớm nở) và bài họa của bà được nhà vua khen tặng 20 nén bạc, đồng thời cho sung chức Thượng Nghi Viên Sư, để dạy học trong nội cung. Năm 1868, bà được tấn phong là Lục giai Tiệp dư. Theo sử nhà Nguyễn, thì trong khoảng thời gian bà được cử làm thầy dạy “kinh điển và dạy tập nội đình” cho Đồng Khánh khi ông chưa lên ngôi. Vì thế, trong cung người ta còn gọi bà là Tiệp Dư Phu Tử.

Một thời gian sau, Tiệp dư Nguyễn Thị Bích trở thành Bí Thư cho Thái hậu Từ Dũ, nhờ vậy mà bà nghe được nhiều điều trao đổi giữa thái hậu và vua, bởi những lúc đó chỉ mình bà được ở gần hầu hạ.

Sau khi vua Tự Đức qua đời (1883), mọi ý chỉ sắc dụ của Lưỡng Tôn cung (chỉ Hoàng thái hậu Từ Dụ và Chính phi Trang Ý) đều do một tay bà soạn thảo.

Tác phẩm nổi tiếng là Hạnh thục ca.


Phạm Lam Anh

Con gái của Hộ bộ Phạm Hữu Kính thời Võ vương. Tiểu tự là Khuê, tự hiệu Ngâm Xi. Từ nhỏ đã nhanh nhẹn, thông minh, biết làm thơ. Kính rất yêu chiều, đón Nguyễn Dũng Hiệu đến dạy học ở nhà. Hiệu là người huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, vốn nổi tiếng là người hay thơ, hiệu là Phúc Am. Kính đi làm quan, lưu Hiệu ở nhà dạy các con. Hiệu và Lam Anh lấy thư từ tặng đáp nhau, rồi tư thông với nhau. Kính về, giận lắm, muốn trầm hà Lam Anh, có người bạn khuyên giải mới thôi. Cuối cùng gả Lam Anh cho Hiệu. Lam Anh đã về với Hiệu, cùng nhau xướng họa, có tập "Chiến cổ Đường thi" lưu hành ở đời.

Thơ Lam Anh - Vịnh Khuất Nguyên:

Trí nan tất toại thiên thu sự,
Ba bất toàn trầm nhất phiến trung.
Cô phẫn khí thành thiên khả vấn
Độc nhân tinh khứ quốc cơ không.


Hòa Mỹ công chúa Trang Tĩnh

Em cùng mẹ với Tuy Lý vương Miên Trinh. Từ bé đã đoan trang dịu dàng, lập chí không cẩu thả. Nữ sử Đinh Phượng dạy học trong cung cấm, bảo với người rằng: Hoàng nữ Trang Tĩnh không chỉ thông minh tuyệt vời mà thôi, mà là người đoan trang trầm tĩnh, như tên đã ban cho. Năm Thiệu Trị thứ 7 thì chết, lúc 23 tuổi.


Cao Ngọc Anh

Quê ở làng Thịnh Mỹ, xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Con của Đông các đại học sĩ Cao Xuân Dục, làm Thượng thư Bộ học dưới triều Tự Đức. Giáo sư Cao Xuân Huy gọi bà bằng cô. Thuở nhỏ, bà được cha kèm cặp bút nghiên, tư chất thông minh và hay chữ. Bà thường gặp gỡ xướng họa với các bà phi, bà chúa và các tiểu thư ở đế đô. Thỉnh thoảng các bậc đại nho đến nhà chơi, trò chuyện với cha, bà cũng được phép tham dự và xướng họa. Hồi đó, bà lừng danh là một tiểu thư giỏi Hán Nôm của đất kinh kỳ.

Khi đời đã hoàng hôn, con cháu mới sưu tầm thơ của bà từ trong những trang ít ỏi đã được in, chủ yếu là từ những bản chép tay và từ trí nhớ của các học giả, các nhà nho sống đồng thời với bà. Năm 1964, tập "Khuê sầu thi thảo" được xuất bản ở Sài Gòn, gồm 51 bài thơ chữ Hán, 68 bài thơ chữ Nôm, tổng cộng 119 bài. Ngoài ra, còn một số bài văn tế, ca trù, câu đối.


Sương Nguyệt Anh, tên thật là Nguyễn Thị Khuê

Sinh tại xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Bà là con gái thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.

Thuở nhỏ, bà cùng người chị tên là Nguyễn Thị Xuyến, được cha (Đồ Chiểu) truyền dạy nên giỏi cả chữ Hán lẫn chữ Nôm. Khi cả hai khôn lớn, nổi tiếng tài sắc, được người quanh vùng ca tụng gọi là Nhị Kiều.

Năm 1888, Sương Nguyệt Anh được 24 tuổi thì cha mất. Tri phủ Ba Tường đến hỏi bà làm vợ không được, nên mang lòng oán hận, đang tìm cách hãm hại... Để tránh tai họa, bà cùng gia đình người anh (Nguyễn Đình Chúc) chuyển sang Cái Nứa (Mỹ Tho) rồi dời về Rạch Miễu ở nhờ nhà ông nghè Trương Văn Mân. Ở đây, bà kết duyên với một phó tổng sở tại góa vợ tên Nguyễn Công Tính, sinh được một gái tên là Nguyễn Thị Vinh. Năm con gái được 2 tuổi, thì chồng mất. Từ đó bà thủ tiết nuôi con, thờ chồng và mở trường dạy chữ Nho cho học trò trong vùng để sinh sống. Và cũng từ đó, bà thêm trước bút hiệu Nguyệt Anh một chữ “sương”, thành "Sương Nguyệt Anh", có nghĩa là Nguyệt Anh goá chồng.

Năm 1917, Sương Nguyệt Anh được một nhóm chí sĩ ái quốc mời làm chủ bút tờ Nữ giới chung nghĩa là "tiếng chuông của nữ giới".


Trần Ngọc Lầu

Trần Ngọc Lầu, người ở tỉnh Vĩnh Long, là con của Thủ Khoa Trần Xuân Sanh. Khoảng năm 1867, cảnh sống túng quẫn, nên cha con bà phải rời quê để đến Mỹ Tho tìm sinh kế. Ở nơi mới, ông Sanh làm nghề dạy học và hốt thuốc.

Là con nhà có học, xinh đẹp, biết làm thơ nên bà thường bị người khác phái trêu ghẹo. Trong Vĩnh Long xưa, tác giả Huỳnh Minh cho biết: Từ thửa trẻ, bà đã cùng một bạn trai tên Nguyễn Hữu Đức (bút danh Phụng Lãm) yêu nhau. Ông này cũng là một khách tài hoa, văn chương lỗi lạc. Nhưng về sau, ông Đức đã phụ bà để cưới vợ giàu, khiến bà phải cười đau khóc hận.

Trần Ngọc Lầu có để lại tập thơ "Ngọc Lầu thi tập".

Thơ Trần Ngọc Lầu - Tự than thân

Nằm đêm nghĩ lại luống than thầm,
Tài bộ như vầy đáng mấy trăm.
Khôn khéo dễ thua người vịnh tuyết,
Thông minh nào kém bạn thân cầm.
Văn chương Tống Tín coi nhiều bợm,
Từ điệu Như Hoành ngó vắng tăm.
Chí dốc noi theo gương họ Mạnh,
Kén lừa cho gặp khách tri âm.


Đạm Phương Nữ Sử

Tên thật là Công Tôn nữ Đồng Canh, tự Quý Lương. Thân phụ bà là Nguyễn Miền Triện, hoàng tử thứ 66 của vua Minh Mạng, thụ tước Hoàng Hoá Quận Vương.

Thời niên thiếu Công Tôn Nữ Đồng Canh được thụ hưởng nền giáo dục truyền thống nghiêm túc của hoàng tộc, nhờ vậy bà giỏi cả Hán văn, Pháp văn, quốc ngữ, cầm, kỳ, thi, hoạ và giỏi nữ công gia chánh. Đạm Phương Nữ Sử có lợi thế từ vốn văn hoá sâu rộng nhờ thông thạo Hán văn, Pháp văn. Bà đọc nhiều, hiểu sâu, biết rộng, sớm tiếp cận tư tưởng tiến bộ của nhân loại, đặc biệt là tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền của các nhà cách mạng tư sản dân chủ Pháp, Trung Quốc như J.J.Rutxô, X.Xi mông, Lương Khai Siêu, Tôn Dật Tiên… Bà còn được tiếp xúc với các bậc chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và các đảng viên cộng sản Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu… Tri thức và những mối quan hệ đó đã thúc đẩy Đạm Phương Nữ Sử chuyển hoá nhận thức, tự giác đứng vào hàng ngũ những trí thức tiến bộ của thời đại.

Năm 1926, Đạm Phương Nữ Sử sáng lập Nữ công học hội Huế, trực tiếp làm đội trưởng, tự dự thảo tôn chỉ, mục đích, nội quy, chương trình hoạt động của Hội. Đây là tổ chức phụ nữ phi chính phủ đầu tiên ở nước ta buộc chính quyền thực dân phong kiến thừa nhận.

(Ngoại trừ Mai Am không được ghi chép, tất cả tư liệu về công chúa trên đây được lấy từ Đại Nam liệt truyện.)




Phát xít Nhật
Friday, December 27, 2013 Author: Trường An

Đọc sơ qua quá trình hình thành của phát xít Nhật, có mấy điều khá là hứng thú.

Tại sao lại gọi là phát xít, theo nghĩa gốc của từ này là "bó" hoặc "nhóm", với các đặc trưng là nhà nước chuyên chế độc tài, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chiêu bài hướng tới tầng lớp thấp, chủ trương chống lại tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến "dân tộc"... Như mục tiêu chính của phát xít Nhật là Trung Quốc, giống Đức với Do Thái. Nhưng tại sao lại là TQ?

Điều này cần nhìn ngược lại về những năm tháng đầu của Minh Trị Duy Tân, hay thậm chí là xa hơn nữa. Đầu những năm Minh Trị, NB bị châu Âu tấn công, buộc phải mở các cảng, để người Tây vào hoạt động, và từ đó dẫn đến cải tổ chính phủ. Thật ra, điều mà NB làm là điều mà hầu hết các nước châu Á cũng làm. Ngay từ năm 1862, TQ đã cử hơn 100 học sinh ra nước ngoài học, tập trung phát triển quân đội. Nhưng "lợi thế" của NB trước hết phải nói, chính là điều mà NB hay than nghèo kể khổ: Đất đai chả có gì để mà cướp. Ngoại trừ nguyên nhân chủ quan do mâu thuẫn trong nước, TQ phải chịu sự khống chế của hơn 5 nước Tây phương, mà kẻ nào cũng lăm le lấy hơn phần được chia - Ví dụ như Pháp chọn cách đánh VN để chọc vào mạn Vân Nam. NB, một khi đã chịu "đầu hàng", lợi dụng được chính những nước Tây phương chiếm đóng chia sẻ công nghệ, phát triển cầu đường, buôn bán... Mà quan trọng nhất, Tây phương lấy NB làm căn cứ đóng quân để tấn công các nước châu Á khác. Đất NB không có tài nguyên, chỉ có vị trí chiến lược là quan trọng.

Bước ngoặt lớn của NB chính là cuộc chiến Pháp Trung - khởi nguồn từ cuộc xâm lược VN của Pháp. Pháp và TQ đánh nhau ở Vân Nam, NB đột nhiên tấn công vào Triều Tiên, buộc TQ phải rút lui, nhường VN cho người Pháp. Ngay trong năm sau, NB cùng Pháp ký kết hiệp ước liên minh, Pháp cung cấp thuyền chiến, khí tài cho NB, đổi lại là NB khống chế biển Đông của TQ. Nhận thấy "mối lợi" to lớn này từ NB, đồng thời e sợ Pháp "1 mình ăn cả" giống Hà Lan từng làm với Ma Cao, các nước Tây phương cũng đồng loạt cởi bỏ các hiệp ước bất bình đẳng để lấy lòng NB. Sự "hợp tác cùng phát triển" của NB với Tây phương lên một tầm cao mới, để NB trở thành quốc gia phát triển nhất châu Á bấy giờ.

Vị thế mà NB có được chính là nhờ "chống-Trung-Quốc", từ vị trí chiến lược bị động, NB đã tham gia vào công cuộc tiến chiếm châu Á của các nước Tây phương.

Ngày nay, có người đã đặt lại vấn đề về hành động của triều Thanh dưới trướng Từ Hy thái hậu. Việc ra sức kiểm soát, khống chế đến mức cực đoan các yêu cầu "cải cách" ảnh hưởng đến quyền lực triều đình liệu có phải chỉ là "thủ cựu"? Khi ngay cả cuộc vận động của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu cũng do NB hậu thuẫn? Với sự xâm lấn của các nước phương Tây vào miền Nam TQ, sự phân quyền của triều đình có thể dẫn đến tình trạng cực kỳ bất lợi, như đã thấy sau cuộc Cách mạng Tân Hợi. Các thủ lĩnh địa phương, dòng tộc có thể cát cứ, phân nhỏ quốc gia, và TQ sẽ trở thành mồi ngon cho Tây phương nhấm nháp từng miếng.

(- Thực ra, tình trạng "chia để trị" này cũng đã thấy ở VN. Một khi mất đi sự kiểm soát, khống chế từ trung ương, các vùng lãnh thổ bị Pháp phân nhỏ dễ dàng, nuốt chửng từng miếng.)

Ngay cả Khang Hữu Vi, vào thời gian sau đó, cũng đã nhận ra thế bất lợi, không còn yêu cầu TQ "canh tân" triệt để, mà đặt ra đường lối quân chủ lập hiến cho TQ.

Quay lại NB và TQ, hai nước này đã có lịch sử lục đục lâu đời quanh vấn đề Triều Tiên. Nhiều lần đánh Triều Tiên bị TQ chặn đường, trong tiềm thức NB, TQ chính là cản trở lớn nhất cho công cuộc bành trướng vào đất liền. Hay nói cách khác, NB cổ đại vừa sùng Hoa vừa bài Hoa. Từ những ngày người NB sang triều Đường học hỏi tất cả phong tục, quy chế cho đến chí cách ăn mặc ở của nhà Đường, NB đã tiếp thu hầu hết các tư tưởng của TQ, trong suốt các tiến trình lịch sử. Ngay cả trong thiên "Thoát Á luận", Fukuzawa Yukichi kêu gọi cải cách, bài Hoa bằng một câu sặc mùi Mạnh Tử "Xã tắc thứ chi, quân vi khinh" - nước nhà là trọng, chính phủ là phụ. Ngay cả những "tư tưởng tân dân" của Nho học NB cũng khởi nguồn từ những chí sĩ nhà Minh đem sang.

Nhưng đồng thời, vì vậy, trước sự thay đổi của thời thế, tư tưởng này trở thành trở ngại lớn nhất của NB - không chỉ trong lĩnh vực tinh thần. Trong tiềm thức, NB xác định sự lớn mạnh của mình là "vượt qua TQ". Và ngay khi vừa đủ sức, NB thực hiện ngay "khao khát" hàng ngàn năm của mình: Đánh Triều Tiên vào 1894.

Điều này có thể thấy trong thiên "Thoát Á luận". Trong đó, coi "TQ và Triều Tiên chẳng hề giống NB", "chúng ta vượt hơn hẳn họ", vưn vưn và vưn vưn. Nói chung là mùi tự sướng bay cao ngút trời. Và để xác định vị thế thượng tôn, cần tấn công Triều Tiên và TQ. Tư tưởng TQ đã lỗi thời, cần tiêu diệt TQ để "cải cách" châu Á được rộng khắp.

Nhưng dù Fukuzawa Yukichi hiện tại có nổi tiếng đến mức nào, "Thoát Á luận" khi được phát hành không có ai nhìn tới. Chỉ vào 48 năm sau, cùng với lúc quân đội chiếm chính phủ, thành lập chính quyền quân sự phát xít, bài viết này mới được lôi ra, trở thành tư tưởng chính yếu, kim chỉ nam của NB. Cũng chính là tư tưởng mà NB loan truyền toàn thế giới, tới những nước xung quanh, những người tìm tới NB để tìm phương cách duy tân.

Và hiện tại, Fukuzawa Yukichi cùng "Thoát Á luận" được coi là phương tiện chính của chủ nghĩa phát xít Nhật.

Sự bài xích điên cuồng của phát xít Nhật với người TQ không chỉ nằm ở phương diện tinh thần như Đức với Do Thái - Dù cũng đặt trên một vị thế "thượng tôn", "ưu việt" tương tự - mà còn trên vấn đề kinh tế, chính trị. Đến khi lớn mạnh, NB bắt đầu tìm cách bành trướng theo đúng lối của các nước Tây phương. Nhưng ngoại trừ Triều Tiên, tất cả các vùng đất khác đã "có chủ". Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ I, NB đụng độ với Nga nhưng không giành được lợi thế trên các hòn đảo phía Bắc. Thế lực phương Tây quá mạnh, NB không thể một mình chống thực dân - Thế là, một lý thuyết nhân sinh mới ra đời, đặt NB thành một vị cứu tinh của châu Á, kêu gọi dân chúng các nước châu Á ủng hộ đế quốc Nhật để đối kháng với phương Tây.

Nhưng ở khu vực Đông Nam Á này, ở đâu lại chẳng có người TQ? Người TQ đóng vai trò quan trọng trong kinh tế xã hội ĐNÁ, thậm chí là thành phần quan trọng nhất. Phát xít Đức giết người Do Thái để chiếm tài sản, phát xít Nhật cần tiêu diệt TQ để đạt tới những thứ to lớn hơn.

Tất cả những điều đó được ngụy trang bằng tư tưởng "Thoát Á luận", bằng bài trừ Hán học, vứt bỏ Nho học "cũ kỹ lạc hậu" và vân vân những thứ tương tự.

Và NB, "khởi nghiệp" bằng cách bán đứng các quốc gia châu Á, lại tự cho mình thành cứu tinh của châu Á.

---

Câu nhận xét về đường lối của Phan Bội Châu "tiễn sói cửa trước, rước cọp cửa sau" không phải là không có lý. Sống trong thời đại ấy, với những biến động, xung đột của 2 quốc gia TQ-NB, người đương thời chắc chắn nhận biết được sâu sắc hơn những gì người ngoài nhìn vào. Dù trong thời kỳ hoạt động của PBC, NB chưa trở thành phát xít, nhưng con đường này chỉ là sớm muộn.

Ngay cả Lương Khải Siêu cũng khuyên PBC không nên cầu ngoại viện. Và NB cũng đã "bán đứng" VN lần thứ 2 vào năm 1908, ký kết hiệp ước cùng Pháp đuổi tất cả du học sinh về nước, đổi lại là NB được sang Đông Dương buôn bán, làm tan rã hoàn toàn phong trào Đông Du.

Ai tin được khẩu hiệu "châu Á cùng tiến" của NB thời gian này đúng là ngây thơ số một.

---

Thật ra mọi loại sách đều cần xem xét giá trị thực tiễn của nó chứ không phải "giá trị truyền miệng", bơm vá. Cũng như cái nhà cần xem có bền đủ để ở được không chứ không phải do ai xây.

Vẹt nhà thư sinh thì nói chữ, vẹt ngoài chợ thì chửi thề. Nhưng chung quy vẫn chỉ là con vẹt.

---

Nhiều khi cảm thấy người VN rất "ngây thơ", rất "dễ bị tổn thương". TQ bán đứng mình cũng kêu, mà cả Cambodia quay lưng cũng hậm hực. Xin lỗi, tình thế ra như bây giờ cũng bởi "không-giỏi-kinh-doanh", bị đá như quả bóng ở giữa. Nào "anh cả", "anh hai" rồi anh em, hàng xóm, đến lúc không như ý thì lại gào.

Thật ra NB, hay ngay cả Thái Lan, Hàn Quốc... cũng là ví dụ cho câu "khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống". Thôi hậm hực kể tội thằng này thằng kia bán mình đê, đứa nào bán được có giá thì đứa ấy giỏi. =))




Tiền giấy
Thursday, December 12, 2013 Author: Trường An

Hôm nọ nhầm Lý Chiêu Hoàng lên ngôi năm 1224 thành 1124, nhưng nhờ vậy mà tìm được 1 nhân vật rất đáng để ý: Tể tướng Sử Di Viễn.

Sử Di Viễn người Chiết Giang, thi đậu tiến sĩ thời Tống Ninh Tông. Năm 1207, tể tướng Hàn Thác Trụ đánh Kim thất bại, Sử Di Viễn lúc ấy là Lễ bộ thị lang liền mưu với Dương hoàng hậu giết Hàn Thác Trụ để dâng thủ cấp cho Kim thỉnh hòa. Sử Di Xa vì thế thăng lên Hữu thừa tướng.

Năm 1224, Tống Ninh Tông qua đời. Thái tử là Triệu Hồng có hiềm khích với Sử Di Viễn, Sử Di Viễn liền mưu cùng Dương hoàng hậu giết thái tử, lập một tông thất là Triệu Dữ Cử làm Tống Lý Tông. Tống Lý Tông chỉ là vua bù nhìn trong suốt 9 năm, đến 1233 mới lấy lại được quyền hành.

Trong thời gian làm quyền thần của mình, Sử Di Viễn được ghi nhớ bởi mấy hành động: Diệt kẻ đối lập, tham ô lũng đoạn, làm kinh tế nhà Tống suy bại. Trong đó, đáng chú ý nhất là thủ đoạn mà Sử dùng để thu tiền từ dân gian: Đổi tiền giấy.


"Sử Di Viễn chuyên quyền 26 năm, duy trì chế độ cầu hòa chính trị, với Kim quỵ lụy, với nhân dân thì điên cuồng cướp đoạt. Ông ta còn tạo ra tiền mới, không dùng đồng, bạc hay vàng làm nguyên liệu, mà dùng giấy đổi lấy tiền cũ, giá trị chỉ bằng phân nửa. Khiến cho tiền giấy mới đầy rẫy mà giá tiền giảm xuống, giá hàng hóa tăng cao, dân chúng lầm than. Triều đình dụng binh, tiền giấy phát hành ngàn vạn. Năm năm lưu hành, số tiền giấy là hàng trăm triệu, tình hình lạm phát đã đạt tới mức độ cực kỳ nghiêm trọng. Lý Tông tuy lấy lại được quyền chấp chính, chính trị có ổn định hơn, nhưng Nam Tống đã ở trong thế bấp bênh, tài chính quốc gia ở biên giới phá sản, phải dựa vào lạm phát để thu tiền cứu cấp, như uống rượu độc giải khát, tiền giấy biến thành như rác không có giá trị."

----

Vầng, đây là hình ảnh của ai?

Việc ban hành tiền giấy của Hồ Quý Ly hoàn toàn là học của nhà Tống.

Mà việc này hậu quả kết quả nhãn tiền, ngoài mục đích vơ vét làm giàu cho quốc khố thì hại nhiều hơn lợi. Tiền giấy thời kỳ ấy dễ làm mà cũng dễ hỏng, nên trong 5 năm mà nhà Tống in đến hàng trăm triệu tờ tiền.

Về việc này, Nguyễn Trãi từng viết:


    "Ta xét ngay như họ Trần, cậy đã giàu mạnh, không thương dân khổ, chỉ đam mê về sở thích. Lấy tửu sắc làm vui, hàng ngày chỉ đam mê những việc vô ích: đánh cờ, đánh bạc, chọi gà, chọi chim, nuôi cá vàng, nuôi chim lạ, bày những trò lặt vặt, ganh nhau được thua. Việc nước to tát bao la không hề đoái hoài. Người oan uổng bị quận thú giam giữ vài ba năm, không hề hỏi tới. Các sớ tấu bị nội giám lưu lại vài ba tháng không thi hành. Tể tướng gây riêng bè phái. Triều đình thiếu hẳn Gián quan. Thần đến là con là cháu mà bị hại về mưu giảo quyệt gian thần. Quyền lớn chức cao mà rơi vào tay bọn tôi tớ nhân dân. Dân chê mà không biết, trời trách mà không lo. Chính giáo vì thế mất kỷ cương, vì thế sinh hỗn loạn. Tuy vì Hồ thị bất trung, nhưng cũng vì trời ghét thiếu đức mà trao cho người khác. Họ Hồ đã lấy trí gian cướp nước, rồi lại lấy trí gian uy hiếp dân tình. Lịnh bảo sao (chế tiền bạc giấy) ban ra mà người người đều oán về khó mưu sinh. Phép di dân thi hành mà người người đều oán vì mất cơ sở. Lại thêm thuế má nhiều, phu dịch nặng, phép nghiệt, hình nghiêm. Chỉ chăm lợi cho thân mình, giàu cho nhà mình, bất chấp hại dân, mất nước. Trong thân tộc, cư xử thiên vị. Hạng hèn kém thì coi tôn quý, hạng xiểm nịnh thì được tin dùng. Khi vui thì thưởng, khi giận thì phạt. Người trung trực khóa miệng, người lương thiện ngậm oan. Thế mà còn kiêu ngạo tự tôn, không sợ mệnh trời, cứ làm việc ác."

Hầu như tất cả người viết sử xưa đều nói việc ban hành tiền giấy là một trong những nguyên nhân bại vong chính của nhà Hồ. Có thể người Việt xưa thời đó không giỏi về kinh tế nên không nhận ra sự lạm phát, chỉ biết là tiền giấy "khó mưu sinh"? (Việc này cũng có thể, khi họ Hồ cho thi thêm cả toán cùng với viết chữ - Mà thời Nguyễn gọi là thi Hoa Văn, trong khi toán số là một trong Lục nghệ mà học trò TQ phải học từ thời cổ đại.)

Việc cố sức thu gom vơ vét nhân vật lực của thời Hồ cũng rõ luôn, khi Hồ Quý Ly hỏi các quan "Làm sao để có 100 vạn quân?", cuối cùng làm sổ ghi hộ tịch từ đứa bé 2 tuổi trở lên, cấm dân lưu vong, dân ở xứ khác bị đuổi về quê quán. Rồi Hồ Hán Thương cũng định xây kho, dùng tiền giấy thu gom lúa gạo...

Có thể là cuối đời Trần, chịu mấy lần Chiêm Thành đánh thì đã hết tiền, mới phải dùng phương cách này. Nhưng cái trò tiền giấy này chẳng phải phát minh mới lạ, cũng chẳng phải "thành tựu kinh tế" gì hết.

Vầng, Trung Quốc là nơi phát minh ra tiền giấy với ý nghĩa đích thực của nó chứ không phải "ngân phiếu", làm tiền đề cho thất bại trước quân Mông Cổ. Hậu quả to béo này bay sang VN, đúng như Nguyễn Trãi nói là chỉ thấy cái lợi cho mình, bất chấp gốc rễ.



---

Nói thêm, tiền giấy TQ ra đời từ thời Đường, khởi sinh từ những bản hợp đồng cam kết giữ tiền của các thương nhân. Do đi lại nhiều, không tiện mang theo tiền đồng, thương nhân gửi tiền cho một số người giữ, rồi làm bản cam kết tượng trưng cho số tiền. Dần dà, một hệ thống ngân hàng được thành lập, tạo ra hệ thống ngân phiếu.

Đến thời Tống, triều đình mới can thiệp vào hệ thống tiền giấy này, lập các xưởng in tiền. Đến thời Nam Tống, tiền giấy có số ghi giá trị, "số serial" kiểm soát đã hình thành. Những triều đại tiếp theo như Nguyên, Minh, Thanh cũng có tiền giấy riêng của mình, sử dụng song song với tiền đồng. Thế kỷ 13, Marco Polo đến triều đình nhà Nguyên, thấy tiền giấy liền ghi lại. Người châu Âu thấy thế bắt chước theo, bắt đầu sử dụng giấy làm ngân phiếu, đến 1661 thì ngân hàng Thụy Điển cho in tờ tiền đầu tiên.

Với lịch sử lâu đời của tiền giấy như vậy, phản ứng của người VN quả là hơi "lạ". Dù rằng tiền giấy không thể thay thế tiền đồng và sử dụng tràn lan thì dễ gây mất kiểm soát, nhưng "bài trừ tiền giấy" với lý do "giấy không có giá trị" và dùng hình thức trao đổi hàng thay thế thì bộc lộ ra rằng nền kinh tế này mang tính chất tự cấp tự túc hơi cao.

Thời Tống, ngoại thương TQ cũng rất phát triển. Ghi nhận được chừng 50 nước có quan hệ buôn bán với Tống như "Ceylon, Langkasuka, Mait, Samboja, Borneo, Kelantan, Champa, Chenla, Bengtrao, Java, India, Calicut, Lambri, Bengal, Kurum, Gujara, Mecca, Egypt, Baghdad, Iraq, Aman, the Almoravid dynasty, Sicily, Morocco, Tanzania, Somalia, Ryukyu, Korea, and Japan". Ghi nhận có Chân Lạp, Champa nhưng không có VN.

Chiều dài của thời Tống trải hết thời Lý cho đến đầu thời Trần, và phản ứng của dân chúng thời Hồ cho thấy người VN vẫn còn xa lạ với thứ gọi là "thương nghiệp". Tuy nhà Hồ có đánh thuế thuyền buôn, nhưng thuyền thượng đẳng cũng chỉ có 5,10 quan thì so với tiền thuế thuyền buôn thời chúa Nguyễn chỉ là... buôn vặt.





Copyright © Trường An. All rights reserved.