Solitude

.Sự thật không thuộc về con người, cũng chẳng thuộc trời hay đất. Nó thuộc về ngọn gió. More...

Lịch sử vụn vặt
Sunday, February 14, 2016 Author: Trường An

Gom góp "hàng" trên FB lại.

Phủ biên tạp lục ghi chép xứ Đàng Trong ghi, mỗi năm triều đình Nam Hà chi tiêu khoảng từ 364.400 quan tới khoảng 369.400 quan, nếu thiếu khoảng 2-3 vạn thì lấy bạc bù vào. Trong đó, tiền chi cho quân đội (cả đội trưởng lẫn quân) là 260.000 quan, tiền chi cho việc tế lễ của 2 xứ Thuận Hóa là 1.400 quan, chưa kể tiền lễ tết yến ẩm, thưởng, tôn tạo công trình.

So với tiền thu vào từ khoảng 338.100 quan tới 423.300 quan, vàng thu vào trên dưới 85 hốt, bạc tốt 24-29 hốt, bạc lá 224-228 hốt, bạc con gà khoảng 10.000 đồng. Có năm bạc tốt thu đến 251 hốt, bạc lá 223 hốt. Trong 3 năm gần đó, đúc tiền kẽm khoảng 72.396 quan.

Như vậy số tiền chi cho triều đình khoảng chừng 100.000 quan.

Mỗi hốt vàng luyện được 9 vạn lá, triều đình dùng để trang sức, có năm dùng đến 45 hốt. Giá vàng mỗi hốt 180 quan.

Trước chiến tranh, giá gạo 10 thưng (đủ cho người ăn 1 tháng) chỉ có 3 tiền, giá 1 con trâu không quá 10 quan, voi giá khoảng 2 hốt bạc. Cau 3 quan 1 tạ, tiêu 12 quan/1 tạ, các loại thảo mộc trên dưới 10 quan, tê giác 500 quan, yến sào 50 quan, vây cá 40 quan, tôm khô 6 quan, đồi mồi 180 quan, kỳ nam 120 quan/1 lạng, tơ lụa 3 quan 5 tiền/tấm.

Thuế tàu Chiết Giang, Quảng Đông là 3000 quan đến, 300 quan về, tàu Ma Cao (Hà Lan), Nhật Bản 4000 quan đến - 400 quan về, Phillipine, Xiêm La 2000-200, Indonesia 500-50, Hà Tiên 300-30.

Từ bảng giá này có thể thấy... khoảng cách của xa xỉ phẩm với nhu yếu phẩm. Gạo 1 người ăn 1 năm chỉ khoảng gần 4 quan - ngang giá 1 tấm lụa.

(Đây là giá tiền gạo của Đàng Trong "gạo rẻ như cho", "tiền như đất bạc như bùn" nên không so sánh với nơi khác).

Nhưng mà nhìn lại số quân đội của Đàng Trong khoảng chừng 2-3 vạn người, trung bình mỗi người cao nhất khoảng 12-13 quan, thấp thì mỗi người 7-8 quan. Kể ra cũng chỉ "trên mức sống trung bình".

Theo Bảo tàng lịch sử VN:

- "Bạc tốt" tức Giáp ngân: Nay gọi là Đĩnh bạc. Thỏi bạc hình chữ nhật, lưng hơi cong, mặt lõm. Kích thước dài: 12 - 12,1cm; ngang: 2,8 - 3cm; dày: 1,4 - 1,6 cm; trọng lượng từ 10 lượng, 2 li đến 10 lượng 8 phân, 9 li.

- Bạc lá tức Dung ngân: dạng thỏi, có hình cầu như “khuyên tai hình con đỉa”, trên một mặt có dấu in chìm một hình như hình lá đề - si, trong đó có một số chấm tròn nổi. Kích thước trong khoảng: 1,5cmx1,4cm; trọng lượng khoảng 39,7gr – khoảng 4 lượng, 2 phân, 5 li.

- Bạc con gà tức Kê ngân: dạng mặt tròn dẹt, mặt tiền đúc nổi hình con chim Le (dân gian thường gọi là tiền con gà), lưng tiền để trơn. Đường kính trong khoảng 1,5cm; dày từ 0,15cm đến 0,2cm. Trọng lượng khoảng 2,847gr.

- Vàng hốt tức Giáp kim: hình dáng tương tự Giáp ngân, hình hộp chữ nhật. Kích thước dài: từ 10,3cm đến 10,7cm; rộng: từ 1,65cm đến 1,8cm; dày: từ 0,5cm đến 0,7cm; trọng lượng: từ 5 lượng, 1 chỉ, 2 phân 1 li đến 5 lượng, 1 chỉ, 2 phân, 5 li.

---

*Đọc sách nửa đêm*

Embassy to the Eastern court, Cochinchina, Siam and Muscat - Edmund Robert

Đây là nhật ký hành trình của người trong đoàn thuyền Hoa Kỳ đi làm việc tại các nước trong khoảng 1832-1834. Thuyền này tên là Peacock, là thuyền chiến, đã từng ghé qua Việt Nam đặt quan hệ ngoại giao, nhưng mờ không thành công vì cái lý do... giời ơi lắm.

Đọc nhật ký hành trình này đoạn ở VN, nửa đêm cười như khìn.

Chiện xui thứ nhất, đến lúc nào hông đến, đến vào năm 1833 người ta đang oánh nhao, cho nên Sài Gòn hông vào được, Phan Rang đổ xuống cũng kẹt cứng, thuyền này túc tắc làm sao mà... mắc cạn kẹt ở Vũng Lắm, Phú Yên. Cho nên mất mấy ngày thư qua tin lại mới có quan lớn từ tỉnh xuống coi, mất mấy ngày nữa mới gọi được người từ trên xuống.

Chiện xui thứ hai, đến lúc nào không hay, vừa đến cái là... thời tiết xấu. Biển động, thuyền lắc như điên, mí ông quan VN lại bị bịnh say sóng. Chờ hết bão mới tới được thì chớ, ngồi nói chuyện trên tàu cũng hông được, gọi nhau xuống bờ... cãi nhau.

Vừng, nội dung cãi của các bác vô cùng phong phú. Từ chuyện lá thư đầu tiên dịch ra không được dùng tên An Nam mà phải là Việt Nam nhóa, vua không dùng chữ "vương" mà phải là "hoàng đế" nhá - Tới chuyện thư gửi cho ai phải viết rõ ràng ra nhóa. Sửa sơ sơ, chuyển thư của Tổng thống Mỹ đến Huế, vào tay "bộ trưởng ngoại giao" rồi, bộ trưởng gửi người nói lại là phải có bản copy lá thư cho bộ trưởng xem trước để báo lên vua, cùng những yêu cầu chính của đoàn sứ giả lần này.

Từ đây bắt đầu cuộc cãi nhao dằng dặc của... cả 2 bên ngang như cua. Anh Mỹ bảo nhất định không là không, thư Tổng thống tao gửi cho vua nhà mi chứ có gửi cho thằng bộ trưởng đâu mà đòi đọc. Anh Việt bảo đó là thông lệ xưa nay ở xứ tao, bộ trưởng phải biết mày muốn cái gì đã, chữ viết rõ ràng, kê khai đầy đủ làm bằng chứng rồi mới báo cáo lên vua được, mày chỉ nói miệng đến lúc mày đòi cái khác thì xao. Anh Mỹ khùng lên bảo Tổng thống nhà tao hông nói chuyện với kẻ phục dịch, thông lệ nhà tao hông có thế. Anh Việt bảo, nhà tao trước nay chơi với mọi thằng Tây, từ Anh đến Pháp đều thế, xao chỉ có mày khoái cãi vậy. Anh Mỹ lôi bằng chứng ông sứ Anh đến từ thời... Tây Sơn ra làm bằng là ổng gặp ngay trực tiếp "vua" (Nguyễn Nhạc) nè. Anh Việt sạm mặt, tao hông thèm nói thứ này nhóa. => Cuộc cãi vã này mất 5-6 ngày mới thỏa thuận được.

Nhận được bản copy rồi, anh Việt lại bắt sửa. Anh hỏi ngang hỏi ngửa Tổng thống là cái chức chi, ủa vậy là bầu cử lên hở, thay đổi sau 4 năm hở? Chắc bụng anh nghĩ vậy thì chức này đâu to bằng vua, các anh bảo nhao là chọn từ ngữ dịch sao cho khiêm cung nhã nhặn thoai. Anh Mỹ nghe được, chắc cũng có tật giật mình, bắt đầu sửng cồ lên: Tổng thống nhà tao hông có kém vua nào hết nhé, Tổng thống nhà tao cũng được mọi người tôn trọng, địa vị ngất trời, cũng là vua 1 cõi đó. Ngày hôm sau anh Mỹ rủ đoàn xuống bắt mấy ông quan xin lỗi, các ông nói, hở, tao có ý bất kính gì đâu. Nhưng anh Mỹ tức sẵn rồi, hằm hè kể lại suốt.

Bộ trưởng Việt OK rồi, giờ đi dịch lại lá thư đàng hoàng trình lên vua. Nhưng mà bản dịch lá thư của Tổng thống Mỹ khó xơi quá, "friendly" hông thích hợp để làm thư ngoại giao nè, God phù hộ ngài thì phải là thượng đế chớ hông phải Chúa Kitô nè. Anh Mỹ vốn đã ôm cục tức sẵn, lại thêm tính anh xưa nay (đến nay vẫn thế) coi anh là cha thiên hạ, anh làm gì kệ anh người khác đừng có xớ rớ vào, bảo thư nhà anh thì dịch cho nó sát nghĩa vào. Dịch không xong, thư không chuyển được thì anh bỏ đi, thuyền nhà anh ở khắp thế giới chớ anh không đi cầu cạnh thằng nào hết nhé. Anh Việt bẩu, là mày đến nhà tao chứ có phải tao đến nhờ mày đâu, mày đến đây đặt quan hệ là muốn giảm thuế thông thương mà. Không có mày tao vẫn chơi với thằng Anh thằng Pháp, mà cảng biển tao mở tự do, thằng nào muốn đến thì đến, mày muốn giảm thuế nên mới có việc nài chớ tao có lợi gì đâu. Anh Mỹ hất hàm bảo, Anh Pháp nó đến đây vì nó không vào vài vùng của TQ được, chớ tao cóc thèm nhờ. Anh Việt bẩu phong tục nhà tao là làm việc như thế, sao mày khó ở vậy? Anh Mỹ hằm hè, mày đến nhà tao thì tao vẫn cho mày làm việc theo ý mày muốn, nên giờ tao thích làm theo lối của tao, tao khó ở với mày đấy thì xaoooooo.

Nói chung, do điều kiện ngoại cảnh thời tiết và do cãi nhao hăng say, từ khi thuyền cập bờ đến khi đi đã mất gần 1 tháng. Sau khi khuân được lá thư đi đến Huế rồi, anh Mỹ ra hạn định, 7 ngày sau mà chưa có kết quả là tao nhổ neo đi à. Nhưng 3 ngày sau thư mới đến tay bộ trưởng. Kết quả, Đại Nam thực lục kể, vua vừa nhận được thư, cho người ra xem thì thuyền Huê Kỳ đã (giận dỗi) bốc hơi.

Vừng, câu chiện ngoại giao dở hơi nhất trong lịch sử.

---

Mà theo những ghi chép trong này, triều đình VN thời kỳ này dùng kha khá người Tây, ví dụ như 1 thủy thủ người Anh điều khiển thuyền, M.Vanier là con lai của tướng Gia Long cũng ở lại VN làm chỉ huy tàu thuyền dù cha đã về nước. Người thông ngôn thuộc Thiên Chúa giáo, giáo sĩ cũng có. Phản ứng với tàu Huê Kỳ cũng rứt là thân thiện, cho quà, cho ăn cho uống, bảo cảng nhà tui tự do muốn đến thì đến. Cãi nhao là do... khác biệt văn hóa thoai.

Mờ ghi chép này thiệt sự cho thấy các bợn Huê Kỳ... chả thay đổi gì cả.

 

---

Ngày xưa thi như thế nào?

Chiện là đầu năm lục ebook tích trữ (lung tung) trong máy ra soạn lại, thấy mấy cái đề thi Hương, thi Hội không biết tha về từ lúc nào.

Vầng, người bi giờ có cái câu cửa miệng "hủ nho hủ lậu", nhưng mờ đọc cái đề thi (năm Tự Đức trước chiến tranh) xong phải nói "móa ơi, cái đề..." =))))))

Thi trường nhất đến trường tứ, đề thi dần dần lên cao, từ hỏi chiện Tứ thư Ngũ kinh, thơ phú chiếu biểu lên... chém gió.

(Đây là đề thi của trường thi Thừa Thiên, nên thấy hỏi cả về Minh sử lẫn tung tung beng chủ đề.)

---

Thi Hương

Đệ nhất trường: Diễn giải Tứ thư Ngũ kinh, chủ đề:

- Khiên phục, cát. (Đây là lời hào của 1 quẻ trong Kinh Dịch)
- Duy hiệu học bán. (Kinh Thư, nghĩa: Công dạy dỗ là nửa cái học)
- Hoàng vương chưng tai. (Kinh Thi, ca ngợi Văn vương nhà Chu)
- Nho tồn tịch thượng chi trân dĩ đãi sính. (Kinh Lễ, nghĩa: Nhà Nho có vật quý trên chiếu để đãi người)
- Tề sư, Tống sư, Tào sư thành Hình. (Kinh Xuân Thu)
- Cố quân tử ngữ đại thiên hạ mạc năng tải yên, ngữ tiểu thiên hạ mạc năng phá yên. (Trung dung, nghĩa: Cho nên người quân tử nói lớn thì thiên hạ không ai chở nổi, nói nhỏ thì không ai phá nổi)
- Bất tiễn tích diệc bất nhập ư thất. (Luận ngữ)

Đệ tam trường: Viết chiếu, biểu theo các chủ đề:

- Thảo một bài chiếu cho học sinh các nơi về những thay đổi của bản triều.
- Viết một bài biểu về dâng sách Đại Nam Văn uyển thống biên.
- Viết một bài luận về "Quan văn không ham tiền".

Đệ tứ trường: Làm thơ phú theo các chủ đề:

- Thay Sầm Tham họa bài "Tảo triều Đại Minh cung" của quan Xá nhân Giả Chí. Theo nguyên vận: hàn, lan, quan, can, nan.
- Viết bài phú về Mã trận, dùng các vận: dữ, nhân, nhất, tâm, thành, đại, công.

Kỳ thi Hội

Đệ tứ trường: Viết các bài luận trả lời câu hỏi.

- Phép xem các hào trong Kinh Dịch cũng là điều quan trọng. Hào nhị với hào tứ cùng tác dụng nhưng khác vị trí, hào tam với hào ngũ cùng tác dụng nhưng khác vị trí. Hai điều đó các tác gia giải thích phần lớn khác nhau. Có người không kể đến vị trí cương nhu đều cho là đa dự, đa cụ, đa hung, đa công. Nhu thì nguy, cương thì thắng. Có kẻ chỉ hào ngũ, có kẻ chỉ hào tam, có kẻ cho là cả tam lẫn ngũ. Nên theo thuyết nào?

- "Kỳ tại Tổ Giáp, bất nghĩa duy vương". Các nhà Nho cho là Thái Giáp, có người bảo Tổ Giáp. Khảo sát rộng ra ai đúng ai sai, trình bày cho rõ, cần dựa vào sách vở.

- Sách Lễ ký có người cho là môn đệ Khổng Tử làm, có người nói khởi từ Hán Nho, có người lại bài bác, chưa biết ai đúng? Có thể nói thiên nào là do người nào viết không? Có người thì cho là thiên nào đó hay, thiên nào đó dở mà đòi vứt bỏ, quả thích đáng không? Lại phân thành 3 phần lưu hành đến nay, tại sao vậy?

- Thiên "Hà bỉ nùng hỉ" trong Kinh Thi, câu "Cháu của Bình vương, con của Tề hầu", có người nói Bình là Chính, con gái của Vũ vương, cháu của Văn vương gả cho Tề hầu. Có người nói chữ Văn trong Văn vương là tên thụy, Chính là tên gọi tùy theo đức hạnh. Cho nên dùng đức để Chính người khác thì gọi là Bình vương. Có người bảo Bình vương cũng giống Ninh vương, Tề hầu cũng giống Ninh hầu mà thôi. Có người nói Bình vương tức là Bình vương Nghi Cửu, Tề hầu tức là Tề Tương công. Có người bảo Bình vương chẳng phải là Bình vương dời đô sang phía Đông, thì Tề hầu chẳng phải là Tử Tề ở nước Tề. Những điều nói trên chẳng giống nhau, mà nhất là Thi cũng chưa biết là Thi của Đông Chu hay Tây Chu. Nên khảo xét rõ để tránh ngờ vực.

- Tề Hoàn công đắp thành ở Sở Khâu, đức lớn vì lo cho sự mất còn (của nước Vệ), mà các nhà Nho không cho là thế, vì sao vậy? Nếu quả không thế thì tại sao thiên "Mộc qua" trong Kinh Thi lại chép thế. Có người giải thích việc đó không chuyên riêng cho Hoàn công mà lại lấy lời trong sử nước Lỗ ra để chép, khiến giống như chư hầu đều đồng ý như vậy. Chưa biết thuyết nào là thích đáng. Huống gì Xuân Thu là sách của Phu Tử viết dựa vào sử nước Lỗ. Nếu bảo thêm một chữ, bớt một chữ để đánh giá thì Phu Tử cũng chẳng dám làm thế. Như vậy thì người luận giải và người đọc nên làm như thế nào?

- Việc học của nhà Nho lấy 2 chữ Trung, Thứ làm trọng, nhưng lời của Tử Tư và Tăng Tử về 2 chữ đó có thiên lệch, sao vậy? Tập truyện lại nói "Như thế thôi, hết sức mà chẳng nói thêm được lời nào, ngoài ra cố nhiên không có cách nào khác", tất giống như đạt đến cùng cực đạo Thánh nhân. Rồi bảo "Trái đạo không xa". Lại nói "Kẻ lấy đó mà học tập, tận lực suy xét để sáng tỏ". Thế thì Trung và Thứ chưa đạt đến Đạo hay sao? Thánh nhân cũng chẳng cần thi hành đạo Trung Thứ hay sao? Với 2 chữ Trung, Thứ này thứ tự thể và dụng ra sao? Là giống nhau ư? Là thông suốt ư? Có thể trình bày rõ không? Lại nói Trung ở Thánh nhân là "Thành", Thứ ở Thánh nhân là "Nhân". Thế thì Trung và Thành, Thứ và Nhân có ý nghĩa khác nhau không? Mà Chu Tử lại trả lời với học trò rằng "Nhân là Đạo". Chân Tây Sơn bảo "Trung Thứ đến tận nơi là Thành". Sao tương phản như thế, khiến học giả biết theo đâu cho thích hợp? Có thể xét mà chiết trung không? Tập truyện lại nói "Trúng với lòng là Trung, hợp với lòng là Thứ". Ý nghĩa đó có thể nghe được không? Với lời chú thích "Tận sức mình mà suy xét" có khác biệt không? Hãy nói cho rõ.

- Luận Ngữ nói "Vô vi mà trị chỉ có vua Thuấn", với lời của Chu Tử chú thích "Sau khi vua Thuấn tức vị dùng không quá cửu quan và thập nhị mục, thế thôi. Về sau chẳng có gì khác lạ." Để chứng minh việc "vô vi" khảo xét có thứ lớp sử sách trước khi vua Thuấn cầm quyền chắc chắn không thể được. Dẫn sơ lược sau khi vua Thuấn lên ngôi thì thấy mở mang việc học, nuôi dưỡng người già, chế đàn làm bài ca; xét về thành tích tuần thú,, lựa chọn Thi, sáng tác nhạc, khởi quân phạt Miêu, quả nhiều điều đáng nêu lên chứ không phải chỉ có việc dùng quan lại mà thôi. Như thế thì quả thật vua Thuấn có "vô vi" mà trị thiên hạ không? Huống gì vua Thuấn năm 61 tuổi mới lên ngôi, trong 48 năm mà làm được như thế, so với vua Nghiêu trị vì đến 100 năm thì việc làm xem ra cũng ngang bằng. Nếu thời gian vua Thuấn trị vì ngang với vua Nghiêu thì việc làm được tưởng sẽ không chỉ là như thế, vậy thì thuyết "vô vi" có tin được không? Lại có thể làm khuôn phép cho các vua đời sau không? Vả lại vua Nghiêu và vua Thuấn đều là đại thánh nhân, tại sao tiếng tăm "vô vi" chỉ quy cho vua Thuấn? Nên bàn kỹ để sao cho được thích đáng.

- Việc Bá Di, Thúc Tề can Võ vương chinh phạt nhà Thương, chẳng ai nói khác. Vì sao các nhà Nho còn có ý kiến lưỡng lự, chiết trung mà luận, thế nào mới thích đáng?

- Kẻ sĩ thì mỗi người có một chí hướng riêng. Kẻ thì thích ra giúp đời, người thì thích ẩn cư, sao cho hợp với chí hướng của mình mà thôi. Lấy tài trí như Khổng Minh mà nói sao không trọn được chí hướng lúc còn ở Nam Dương mà lại miễn cưỡng thực hiện việc khó thành? Há Khổng Minh lại kém bọn Phí Di và Lỗ Trọng Liên ư? Há ngượng ép vì "Hữu vi" mà làm ư? Ôi ẩn cư mà cầu được chí, hành nghĩa để đạt đạo, người xưa cầu mong như vậy, ai thích đáng hơn?

- Người xưa bảo Ngự Nhung không có thượng sách. Nhà Chu được trung sách, nhà Hán được hạ sách, Tần không kế sách. Lời bàn luận trên quả xác đáng không? Nhưng thế nào là thượng sách, mong đối đáp thật rõ ràng. Lại như đạo dùng binh thắng bại nào lường trước. Xem uy danh như Đại tư mã mà còn bị phục ở Phương Đầu, thế mà bọn trẻ lại lập được công ở sông Phì là cớ làm sao vậy?

- Ngày nay, việc chọn tuyển ngày càng mở rộng, mà nhân tài lại ngày càng hiếm, nguyên cớ làm sao? Phải thực thi đường lối như thế nào để đạt hiệu quả trong việc tìm kiếm nhân tài? Nay nhiều việc chưa thẩm sát kỹ, kẻ sĩ các ngươi làm sao để giúp được?

- Nay ở Bắc Kỳ bọn đạo tặc nổi lên, ta đã ban dụ cho bắt chém mà kẻ đầu thú khỏi bị tội, lại hậu thưởng thêm, nhưng chưa thấy công hiệu, khó biết được vì sao? Ngày xưa đời Kiến Vũ khiến bọn cướp tự sửa đổi mà giải tán, không biết hành động ra sao mà kiến hiệu như thần. Mong tường trình rõ ràng.

Thi Đình

(Thoai cái đề thi dàiiiii lắm. Túm gọn lại vậy)

Chế sách: Người xưa bảo phải quản lý tiền tài để nuôi dân, nuôi dân mới đủ quân, cai trị mới tốt. Tiền tài là vận mệnh của dân, quản lý tiền tài tốt mới nâng cao đời sống nhân dân. Nhân tài là nguyên khí quốc gia, phải biết giáo hóa, thực thi những điều trên có thứ lớp. Nói chung 3 điều tiên-dân-quân thực không thể khiếm khuyết. Mỗi đời lại có phép tắc riêng.

Việc thuế má, binh chế, học hành khoa cử khởi từ đời nào, hoàn bị từ lúc nào? Các quan làm việc này ai giỏi ai kém? Dựa theo lịch sử nước ta từ Đinh, Lê, Lý, Trần, trình bày và luận bàn để thấu rõ việc xưa áp dụng vào đời.

Luận bàn các phép thay đổi thuế khóa trong sách xưa.

So sánh cách cai trị vô vi và hữu vi. Tại sao cách cai trị không còn hiệu quả như xưa - Là do không tiếp tục theo phép xưa hay là do phép xưa đã chẳng còn lợi ích gì?

Kẻ sĩ ngày nay chỉ quen thói cầu danh, chỉ biết qua loa việc xưa, hỏi đáp hư hoa thiếu thực chất. Là do Trẫm hỏi quá gò bó hay kiêng kị quan trên mà không ai nói? Nay các tệ nạn về tiền-dân-quân ở các địa phương như thế nào, tường trình nặng nhẹ thấu ngọn ngành, sửa chữa ra sao?

Chế khoa: Viết bài luận biểu theo chủ đề:

- Viết chiếu về bản triều mở khoa thi Bác học Hoành hành (hạn trong 300 chữ).

- Viết biểu thay cho Chân Đức Tú dâng sách Bác học diễn nghĩa.

- Luận về cởi bỏ sự mê tín.

.

.

.

---

Thiệt không hiểu với đề thi Hội, thi Đình này thì chấm làm xao?

Hèn chi gần cả trăm năm mà chỉ có 1 ông Bảng nhãn, không chấm nổi Trạng nguyên.

 

---

Tiếp tục tiết mục y học cổ truyền, với Vệ sinh yếu quyết diễn ca của Hải Thượng Lãn Ông.

Chủ đề: Người xưa đã sát trùng như thế nào?

(Cắt cuống rốn cho con)

Dự phòng ngay lúc mới sinh
Trước tiên cắt rốn, gừng, hành xát dao
Vải mềm nước muối tẩm vào
Quấn tay móc miệng độc trào tiết ra
Lại dùng nước nấu Ngân hoa
Tắm ngay cho trẻ, ngoài da mát lành
Dự phòng đậu sởi phát sinh
Lá xoan, ích mẫu rửa mình cũng hay.

(Ăn ở)

Áo quần giặt giũ cho liền
Vò Găng Bồ kết, Chu biên, Bồ hòn

Thú trùng tác hại cũng thường
Há không nghĩ đến những phương thuốc phòng
Chó dại thì nó chay rông
Ăn nhầm nọc độc ngoài đồng phát điên
Thường nên nhốt lại đừng quên
Hết đường tiếp xúc nhiễm truyền được sao
Đề phòng chấy rận thế nào
Cần nên tắm gội chải đầu luôn luôn
Rận thì nên giặt áo quần
Hột na trừ chấy vài lần hết ngay
Vôi đá sát trùng xưa nay
Trừ giun, diệt đỉa ta hay thường dùng
Trục đỉa thì dùng mật ong
Nó còn dùng để trục trùng vào tai
Thuốc chuột dùng rễ Hương bài
Trừ sâu: thuốc lá, trừ ruồi: Nghề, vôi
Trừ rệp: bồ kết, hoa nồi
Hun nhà trừ muỗi, dùng Bèo, lá Xoan

(Phòng bệnh truyền nhiễm)

Thiên thời dịch lệ nguy thay
Làm sao mà trừ được bệnh này mới an
Từ xưa luống những lo toan
Thế mà chướng lệ vẫn còn xảy ra
Núi rừng rậm rạp bao la
Lá lim phân thú, trùng xà ủ men
Suốt đời khí thấp lưu liên
Đến khi nắng nóng chứng lên bệnh thành
Theo đường mũi miệng vào mình
Khí độc lam chướng hoành hành ác ghê

Liền sau nạn đói can qua
Thường có dịch lớn phát ra kéo dài
Cho rằng dịch lệ thiên thời
Thực ra uế tạp do nguời gây nên
Dưới đất xác chết lưu niên
Nắng mưa chưng nấu bốc lên hại người
Trẻ già cảm nhiệm động thời
Biết phòng, biết tránh nhiều người cũng qua
Hễ khi ôn dịch phát ra
Dự phòng uống Tỏi, bạc hà, lá thông
Nữ thanh, bục dục nên dùng
Lại hun Bồ kết, đàn hương trong nhà
Có dịch thì chớ lân la
Cần nên nút mũi khi ra ngoài đường
Dùng bông bọc tỏi, hùng hoàng
Khi thăm ngừoi bệnh lại càng không quên
Chuyện trò đối diện chớ nên
Về nhà tẩy uế mới yên trong lòng
Trong nhà người bệnh ở cùng
Chớ nên chung chạ đồ dùng phòng lây
Nhất là lao trái truyền thi
Đề phòng truyền nhiễm trường kỳ mới yên
Ngăn ngừa cha mẹ di truyền
Hao tinh lao lực bệnh nguyên khơi mào
Ở gần dễ nhiễm trùng lao
Nên dùng vôi bột rắc vào đờm phân
Ống nhỏ, nên chứa vôi, mun
Dự phòng bách bộ, uống ngăn cũng màu

Dự phòng truyền nhiễm đậu mùa
Từ xưa có phép nhưng chưa an toàn
Nên xa ngừoi bệnh thì hơn
Áo quần nên nấu, chiếu giường phải xông

(Nước uống)

Một điều trọng yếu không quên
Vấn đề nước uống phải nên thế nào?
Chớ dùng nước ruộng nước ao
Nước hộ, nước vũng, nước nào cũng dơ
Chi bằng nước giếng nước mưa
Nước sông, nước suối cũng chưa an toàn
Cần thêm ngâm nước sát trùng
Chanh châu, Quán chúng, Hùng Hoàng, Nghể râm
Phèn chua lọc nước thêm trong
Ao từ, nước bẩn cũng không nên dùng

(Công dụng của thuốc lào)

Lá tươi thì độc làm sao
Ăn vào tê dại, nôn nao mê trầm
Tốt thay trừ mọt sát trùng
Dùng vào trừ rệp trải giường hoặc xông
Rễ khô uống nó thì công
Tiêu trừ trùng tích vô cùng là hay

---

Vầng, những điều như sát trùng, khử trùng, nhiễm trùng vưn vưn đã được truyền bá bằng chữ Nôm cách đây gần 3 thế kỷ. (Vầng, HTLO đã biết lao là "nhiễm trùng lao".) Cùng 1 loạt thuốc xông thuốc đốt thuốc uống, nước muối phèn chua khử trùng.

 

---

 

Theo dòng thời sự, hôm nay ta nói đến vấn đề... y học.

Có những thứ đi lang bang nó cũng đập vào mắt, trong đó có chữ "nhiễm trùng". Nói thiệt ra, mềnh chú ý vì... mềnh cũng dùng nó (dù chỉ 2 lần trong 300 chương). Và từ cảm giác cá nhưn cho đến "chứng cứ lịch sử" (sẽ viết đoạn sau), mềnh cũng vẫn sẽ dùng nó.

Thứ nhất, thiệt thà mà nói, mềnh dùng chữ "nhiễm trùng" sau 30 giây suy nghĩ về nghĩa cái chữ này. Đây là chữ Hán Việt, và "trùng" trong chữ Hán mang nghĩa khá là rộng, chỉ những con "hình dáng không xác định" nho nhỏ rung rúc có mặt khắp mọi nơi - Ví dụ, ấu trùng, độc trùng, côn trùng... Dù đến cuối thế kỷ 19, châu Âu mới phát hiện ra vi trùng - thì từ "vi trùng" cũng để chỉ toàn bộ sinh vật bé tí hin mắt thường không nhìn thấy chứ không phải là vi khuẩn hay virus.

Chính xác là, khi bị bịnh, người ta gọi là "nhiễm khuẩn" chớ hông ai gọi "nhiễm trùng".  Nhiễm trùng chỉ được dùng trong trường hợp vết thương hở làm độc, nhiễm trùng máu, nhiễm trùng tiết niệu... - trong các trường hợp này là bị nhiễm ký sinh trùng. Ngay cả trong trường hợp vết thương hở bị giòi, ghẻ, lở do không vệ sinh, đây cũng là ký sinh trùng. Mà ký sinh trùng rất "bao la bạt ngàn", từ những con không thấy được cho đến con dài mấy mét.

Đặc điểm thứ 2 của những chứng "nhiễm trùng" là thấy và cảm giác sự thay đổi sau khi có những "tiếp xúc mất vệ sinh" gây ra, kể cả nhiễm trùng máu, có thể gây ra mụn nhọt ghẻ lở.

Cùng là nhiễm vi khuẩn, tại sao những bệnh liên quan đến điều kiện vệ sinh lại được gọi là "nhiễm trùng"? Và từ nghĩa chữ "trùng" trên kia, mình đã có cảm giác đây là 1 cách gọi dân gian, 1 cách hiểu rất "trực quan" từ việc vệ sinh kém => lở lói => trong vết lở sinh giòi hoặc trong cơ thể có ký sinh trùng.

Mà tất nhiên, "cảm giác" thì hổng ăn ai, nên mị bắt đầu lục đến... sách y học cổ. Sự thật chứng minh, hội chứng "nhiễm trùng" đã được y học TQ ghi nhận từ lâu, dù nó vẫn còn rất "quắn quéo".

"Thảo mộc tân biên" chép chuyện danh y thời Minh Trần Sĩ Đạc gặp 1 người bị ho không ngừng, bảo là bị nhiễm lạnh từ trước, càng ho càng đau nhức ngực, cho đến khi ho ra máu mới ngừng. Danh y bảo đây là do gió lạnh xuyên qua phế, trong phế sinh trùng. Trùng này gặp vị chua sẽ "trốn", rồi sau đó cho thuốc chung với "rượu khử trùng". Bệnh nhân bị hành 1 đêm đau đớn chết đi sống lại, sáng ho ra 1 "con trùng" bằng ngón tay, giống con dế mèn.

"Lý trung y án" của danh y Lý Trung Tử thời Minh chép: Bệnh nhân bị ho lao vào mùa thu, danh y bảo đây là "truyền thi bệnh" (Bệnh từ 1 người nhiễm trùng sau đó chuyển sang cho người khác), trùng ăn mòn nội tạng. Cho thuốc uống, ra được mấy con trùng giống như sâu.

Ngoài ra còn chuyện chữa giun sán, ăn dị vật gì gì không kể.

Và những phương pháp dùng rượu, lửa, nước sôi... khử trùng cũng cho thấy người xưa đã nhận biết có "con gì đó không xác định" có khả năng lây lan. Hay hơn nữa, họ biết nó là sinh vật nên có thể bị diệt, nên mới gọi là "trùng".

Mấy ghi chép y khoa trên kia đã trở thành cơ sở cho... truyện kiếm hiệp. Các loại độc trùng này nọ kia mắt thường không nhìn thấy nhưng có thể sinh trưởng trong cơ thể người. "Giới giang hồ kỳ bí" của VN cũng có câu: Người Nam giỏi bùa ngãi, người Trung giỏi thư phù đối ếm, người Bắc giỏi về độc trùng. Các loại độc trùng này theo dân TQ thì giỏi nhất là vùng Vân Nam, có lẽ cũng đã lan xuống VN.

Mà thời gian cùng điều kiện hông cho phép, chưa lục được thư tịch cổ nào về trùng Vân Nam. Chỉ muốn nói rằng... "nhiễm trùng" là từ có sự tích lâu đời lắmmmmmm.

 

 




Họ Nguyễn
Saturday, October 17, 2015 Author: Trường An

Lịch sử Việt Nam có 1 "cái bóng".

Cái bóng này có lẽ không mấy ai nhận ra, nhưng hầu như bất cứ sự kiện nào trong lịch sử hàng ngàn năm cũng có mặt: Họ Nguyễn - hay chính xác hơn là họ Nguyễn Phúc sau này.

Tổ tiên họ Nguyễn Phúc là Nguyễn Bặc, bạn chăn trâu của Đinh Bộ Lĩnh. 3 người Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Điền, Nguyễn Bặc kết nghĩa anh em, cùng nhau "đánh lấy thiên hạ". => Triều Đinh thành lập, có công lớn của Nguyễn Bặc.

Sau Lê Hoàn cướp ngôi họ Đinh, giết Nguyễn Bặc. Con trai Nguyễn Bặc là Nguyễn Đê chạy về Thanh Hóa, sau lại ra Kinh Bắc học, kết bạn với Lý Công Uẩn. Sự biến diệt nhà Tiền Lê, Lý Công Uẩn lên làm vua cũng do Nguyễn Đê và Đào Cam Mộc phụ trợ. => Triều Lý thành lập.

Lý Thái Tổ mất, các hoàng tử tranh ngôi. Con Nguyễn Đê là Nguyễn Quang Lợi cùng Lê Phụng Hiểu dẹp loạn, được phong lên đến chức Thái úy.

Dưới triều Lý Anh Tông, Đỗ Anh Vũ chuyên quyền, 3 người họ Nguyễn làm quan lớn đều bị giết. Đời sau, Nguyễn Nộn làm ẩn sĩ lại bị vua Lý túm được, nhưng được Trần Tự Khánh xin thả làm tướng đánh dẹp loạn. Nguyễn Nộn nhân thế lấy cả vùng Bắc Giang, nhà Trần cướp được ngôi nhà Lý nhưng không đánh dẹp được, buộc phải phong vương, gả con gái cho Nguyễn Nộn. Sau Nguyễn Nộn bệnh chết, con trai của Nguyễn Nộn về hàng phục nhà Trần, tất cả đều làm quan lớn, có người từng là Thái phó của Trần Nhân Tông.

Sau nhà Trần suy yếu, họ Nguyễn vì vậy cũng bị diệt theo. Cháu chắt của Nguyễn Nộn là Nguyễn Công Luật, Nguyễn Minh Du mưu giết Hồ Quý Ly không thành, bị truy sát. Nguyễn Biện con của Nguyễn Minh Du trốn về Thanh Hóa, chiêu tập dân miền núi làm chủ cả vùng.

Nhà Hồ bị Minh diệt, con cháu họ Trần là Giản Định, Trùng Quang tập hợp lực lượng chống Minh, Nguyễn Biện cung cấp lương thực, cai quản cả 12 trang sơn động. Chắt của Nguyễn Biện là Nguyễn Công Duẩn cùng các anh em lại đi theo Lê Lợi, nuôi đoàn quân này ròng rã hơn 10 năm. => Nhà Lê thành lập, lại có mặt họ Nguyễn.

Sau Lê Thánh Tông do Nguyễn Đức Trung, con Nguyễn Công Duẩn, lập lên ngôi. Sau đó, mọi biến động trong triều Lê đều có mặt họ Nguyễn. Sau đó, cả nửa nước VN cũng do họ Nguyễn thu về. Sau đó, họ Nguyễn làm vua.

Trong lĩnh vực văn hóa, người khai sinh ra chữ Nôm là Hàn Thuyên (tên thật là Nguyễn Thuyên) là con cháu của Nguyễn Phúc Lịch, con Nguyễn Đê, cháu Nguyễn Bặc.

.

.

.

Họ Nguyễn đứng sau (hay tham dự) mọi khúc quanh lịch sử, biến cố lịch sử, tiến trình lịch sử VN. Các triều đại đổi họ thay tên, thì "cái bóng" đích thực vẫn luôn luôn ở đó.

Đáng xợ. Quá đáng xợ.

(Các thế thứ đều được ghi trong gia phả Nguyễn Phước tộc.)

---

Vai trò của Nguyễn Đê trong việc lập Lý Công Uẩn

Bài trước có nhắc đến Nguyễn Đê, mà trong Đại Việt sử ký chỉ ghi vắn tắt vai trò của Nguyễn Đê như sau: "Đến khi Ngọa Triều băng, vua nối còn bé, Công Uẩn cùng với Hữu điện tiền chỉ huy sứ là Nguyễn Đê mỗi người được đem 500 quân tùy long vào làm túc vệ."

Sau đó không nhắc đến Nguyễn Đê, nhưng Lý Thái Tông lên ngôi lập tức phong Nguyễn Quang Lợi, con Nguyễn Đê, làm Thái úy - chức quan võ lớn nhất trong triều đình. Điều này cho thấy trước đó Nguyễn Đê cũng đã thăng chức không nhỏ. Nguyễn Phước tộc thế phả ghi, Nguyễn Đê là thân cận của vua Lý, giữ chức Đô hiệu kiểm, chánh nhị phẩm.

(Trong khi nếu ta nhớ rằng "chủ mưu" của vụ "lấy ngôi" được ghi trong sử sách là Đào Cam Mộc chỉ được lấy công chúa, phong tước hầu, không còn "vai trò" gì trong lịch sử triều Lý).

Như vậy, ngài Hữu điện tiền chỉ huy sứ Nguyễn Đê - ngang hàng với Tả điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn - chính là 1 nửa mảnh ghép của cuộc chiếm ngôi "êm đềm" nhất lịch sử. 2 người giữ quân thân vệ bảo vệ kinh thành, nhà vua đồng loạt trở cờ, tất nhiên là cung điện cũng giống nhà hoang.

Lý Công Uẩn thì thôi không nói, còn Nguyễn Đê được ghi nhận lại là con Nguyễn Bặc. Mà Nguyễn Bặc chết dưới tay Lê Hoàn. Đành rằng Lê Long Đĩnh nhìn người cũng "có vấn đề" (như việc trọng dụng Lý Công Uẩn), cho phép kẻ có thù giết cha cầm giáo canh dưới gối mình có phải là... điên ngoại hạng hông?

Nhìn lại Nguyễn Phước tộc thế phả ghi chép về Nguyễn Đê: Khi Nguyễn Bặc bị giết, vợ ông đem 2 con trai chạy về Thanh Hóa. Sau đó, Nguyễn Đê cùng em trai lại trở về Kinh Bắc, "giao du với nhiều hào kiệt và là bạn thân của Lý Công Uẩn" (Kinh Bắc chính là quê Lý Công Uẩn). Tất nhiên, Nguyễn Đê không thể nào dán nhãn "con trai Nguyễn Bặc" lượn lờ ở ngay Kinh Bắc, rồi vào làm quan ngay trong triều Tiền Lê. Ở Thanh Hóa, Nguyễn Đê có thể đã tìm được cách giả trang thân thế nào đó (dù sao xứ ấy thời đó còn hoang vu hỗn loạn, có ai mà kiểm được).

Có thể, chính nhờ Lý Công Uẩn, Nguyễn Đê đã tiến vào triều Lê. Hoặc cũng có thể Nguyễn Đê đã tìm được cách nào đó tiếp cận Lê Long Đĩnh, trở thành cánh tay mặt (Hữu thân vệ) của Lê Long Đĩnh. Dù sao, "kịch hay" của Nguyễn Đê với Lý Công Uẩn vẫn ở đằng sau.

Xưa nay (hay gần đây) mấy nhà nghiên cứu cho rằng mấy lời sấm truyền về Lý Công Uẩn toàn do Lý Công Uẩn và Sư Vạn Hạnh vẽ ra. Nhưng như vậy thì quá "lạy ông tôi ở bụi này". Lê Long Đĩnh tìm giết người họ Lý nhưng chưa bao giờ nghi ngờ Lý Công Uẩn ắt có lý do. Mà Lê Long Đĩnh có thể ác chớ hông bị ngu. Như vậy, phải có 1 bàn tay nào đó ở bên ngoài sắp xếp những việc này mà không hề "dính líu" gì đến Lý Công Uẩn.

Và trong thời điểm quyết định, người "thuyết phục" Lý Công Uẩn là Đào Cam Mộc - là người Thanh Hóa. Cũng như Lê Phụng Hiểu phù tá Lý Thái Tông (dưới trướng Nguyễn Quang Lợi) cũng là người Thanh Hóa. Bên kia, vị Hữu thân vệ dường chỉ chờ ngài Tả thân vệ gật đầu là toàn quân lính buông vũ khí.

Một câu hỏi được đặt ra: Lý Công Uẩn chủ động trong việc chiếm ngôi này bao nhiêu phần trăm? Nếu thực sự có chủ đích chiếm ngôi, hai bên tả hữu thân vệ lại là "người quen" cả, liệu có cần Đào Cam Mộc gợi ý? (Nếu như sử gia không dùng Đào Cam Mộc làm bình phong đỡ đạn). Hay một nhóm người nào đó thực sự muốn đưa Lý Công Uẩn lên ngôi và "người có lòng, ta có ý" thôi mà.

Nhìn lại, năm 979 Nguyễn Bặc bị giết. Năm 1005, Lê Hoàn mất, các con bắt đầu tranh ngôi vua. Lê Long Đĩnh giết tất cả anh em, làm vua được 3 năm. Không rõ Nguyễn Đê đã ở bên Lê Long Đĩnh từ lúc nào, nhưng quá trình con cái Lê Hoàn rơi rụng hết thì chắc chẳng thiếu phần đâu.

Đứng sau Lê Long Đĩnh diệt hết con cháu nhà Lê, lại dùng Lý Công Uẩn lấy nốt thiên hạ của nhà Lê, nếu tất cả là một tấn kịch mà nhân vật Nguyễn Đê dựng lên từ ngày rời Thanh Hóa đến Kinh Bắc, quả là màn trả thù "dựng tóc gáy" nhất lịch sử.

Cái com trước của mềnh: "Mờ cái tên Nguyễn Đê cũng thiệt là kỳ lạ. Nó là chữ Đê này 低, nghĩa là thấp kém, hèn kém. Ai lại đi đặt tên con mình kiểu đó, nhất là ông đại tướng triều Đinh? Chắc đây là cái tên đặt sau này, đủ thấy quá trình ẩn nhẫn, nằm gai nếm mật của Nguyễn Đê cũng không phải loại thường đâu."




Tổng hợp
Saturday, October 10, 2015 Author: Trường An

Nhơn tiện nếu như ai chưa biết, dạo này mềnh tập trung nói nhảm trên đây: Facebook

Nhưng sau 1 hồi nghĩ lại thì mềnh cũng hông tin chú Mark cho lắm, nên mấy thứ "có giá trị" tí tí thì nên ôm về nhà. ;))

---

Mô tả Võ vương Nguyễn Phúc Khoát của James Bean:

"Trông chúa đường bệ với những đặc điểm của một người Âu châu, nước da trắng. Vẻ mặt của chúa là một cái gì rất dễ chịu, nhưng oai nghiêm đáng kính phục."

"Ngoại diện chúa thật oai vệ, chúa đã tiếp chúng tôi với một vẻ mặt vui tươi khiến cho, ngay giữa cung điện nguy nga này, chúng tôi phải nhất nhất tuân theo lời ngài."

"Chúa hỏi tên mỗi chúng tôi, khi phát âm chúng ngài cười rất thân thiện: tôi chưa bao giờ thấy một người đàn ông đầy vẻ dễ chịu như vậy."

Đọc cái này lâu ồi nhưng hầu như chả nhớ gì ngoại trừ ấn tượng: Võ vương rứt đệp giai.
pacman emoticon
Mờ thiệt ra thì mấy ông vua Nguyễn, ngoại trừ Khải Định với Đồng Khánh được móc từ đâu ra đưa lên làm vua, có ông nào xấu đâu.
pacman emoticon

Đến ông người Anh mà còn xuýt xoa 3 lần 4 lượt "chúa đệp quá", chúa Tây quá, thì các đồng chế đừng có lấy mấy cái ảnh chân đất mắt toét ra bẩu anh đệp giai hông có trong sử VN nhóa.

---

Chuyện cái quạt

Quạt là 1 thứ "đồ trang sức" rất phổ biến ở người Việt cổ. Rất nhiều tài liệu đã ghi lại về thói quen cầm quạt của người Việt, nam cũng như nữ, hè cũng như đông, "cầm chơi vậy thôi". Và ghi chép suốt mấy trăm năm từ cảng Hội An cho đến cuối thời Nguyễn vẫn cho thấy quạt là mặt hàng phổ biến nhất từ Trung Quốc đưa sang, bên cạnh sách và trà (ờ, trước đó hông có ai ghi nên hông biết đâu).

Nhưng trước khi tả "văn nhân mở quạt phe phẩy", cần lưu ý 1 chiện vô cùng bự: Cái quạt gấp đó có từ đời nào?

Quạt gấp, hay còn gọi là chiết phiến, tụ đầu phiến, chỉ phiến... (nhiều tên lắm), theo lịch sử Trung Quốc, chỉ phổ biến từ Vĩnh Lạc đời Minh (1402-1424). Nhà vua nhận được chiết phiến tiến cống từ Cao Ly, vì yêu thích nên cho mọi người dùng, truyền ra đến bên ngoài.

Nguồn gốc chiết phiến có khá nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, cũng chính các nhà nghiên cứu TQ dần dần bác bỏ chuyện chiết phiến có từ thời Nam Bắc triều, Đường Tấn... Sử liệu cho thấy Nam Bắc Tống có lẽ đã xuất hiện chiết phiến, do Nhật Bản hoặc Cao Ly tiến cống, nhưng loại quạt này không phát triển ra bên ngoài nhiều cho lắm. Cho nên, đến hiện tại, nhiều người TQ vẫn cho rằng chiết phiến là sản phẩm của nước ngoài du nhập vào TQ.

Còn trước đó, loại quạt phổ biến ở TQ là quạt tròn, hay còn gọi là đoàn phiến, hoàn phiến, hợp hoan phiến. Tuy gọi là quạt tròn nhưng nó có đủ hình dạng bầu dục, lục giác, hình vuông, hình hoa, hình bông, hình vân vân... điểm chung là có cán quạt và bầu quạt nở ra xung quanh, có thể có lõi. Vật liệu làm quạt tròn cũng rất đa dạng, từ lông vũ, lá cỏ, mây tre cho đến giấy, lụa...

Cây quạt tròn xuất hiện sớm nhất vào thời Thương, dùng lông gà rừng ngũ sắc kết thành. Quạt lông tròn lúc này là vật biểu thị quyền uy, dùng tương tự như cái lọng sau này. Cũng bắt đầu xuất hiện loại quạt lá nan đan. Đến thời Tây Hán, quạt tròn mới được dùng với chức năng... quạt. Cây quạt lông nổi tiếng của Gia Cát Lượng cũng chính là đoàn phiến sơ khai. Thời Đông Hán, quạt lông vừa ít tác dụng làm mát vừa rắc rối nên được lấy lụa, vải các thứ làm quạt.

Đến thời Tống, bắt đầu có 2 loại quạt:

Bình phiến: quạt tròn, quạt lá, quạt ngọc... không thể gấp.

Chiết phiến: loại quạt gấp.

Sau thời Tống, nhất là sau thời kỳ Vĩnh Lạc, chiết phiến mới lưu hành khắp nơi. Trong thời Minh Thanh, Chiết Giang, Tô Châu, Tứ Xuyên là những địa phương sản xuất quạt nghệ thuật lớn nhất, truyền sang châu Âu - và theo ghi chép ở các cảng Việt Nam, bên ta cũng nhập không ít quạt về.

Chiết phiến loại quý giá, ngoại trừ chữ, tranh quý giá trên mặt còn được dùng đồi mồi, phỉ thúy, ngà voi, trúc tương phi, gỗ đàn hương... làm cốt quạt.

Riêng về đoàn phiến, từ khi lưu hành thông dụng, qua đến Nhật Bản thành quạt dành riêng cho giới quý tộc, quạt cũng có khá nhiều hình dạng, ví dụ như quạt hình lá, có cốt hình lá cây, bồi giấy hoặc lụa làm phiến quạt (như hình dưới). Quạt quý giá hơn dùng các loại cán vật liệu quý, bồi giấy, lụa thượng hạng, đeo thêm các vật trang sức cuối cán quạt. Quạt tròn còn có các hình thức sử dụng trong tôn giáo khác như "quạt tắt lửa", "quạt ngăn nước", quạt của giới "thầy mo"...

(Nên đừng thấy nó giống lá mà tưởng là lá. Tùy theo thời kỳ mà chọn loại quạt, miễn đừng cho vua chúa quan lại quý xờ tộc đi phe phẩy quạt lá chuối là được - cái quạt đó hồi xưa mềnh dùng để đập ruồi).

---

Ti giáo phường

Ti giáo phường là cơ quan quản lý âm nhạc cung đình của Trung Hoa cổ đại. Từ cổ đến đời Đường thì gọi là giáo phường, chuyên quản lý giảng dạy nhạc cung đình lẫn tục nhạc, diễn xuất. Đến thời Minh, đổi giáo phường thành ti giáo phường, thuộc Lễ bộ, chuyên quản lý vũ nhạc, ca kịch. Đến thời Ung Chính thì đổi tên thành Hòa thanh thự.

Ti giáo phường trên danh nghĩa là quản lý cơ cấu âm nhạc, tương tự như đoàn nghệ thuật ca vũ nhạc hiện đại - Nhưng ngoài tập âm nhạc, thực tế ti giáo phường còn quản lý kỹ viện của con gái, con trai quan bị trừng phạt sung làm quan kỹ. Con gái bị đưa làm kỹ nữ, con trai sung làm nhạc công. Hơn thế, con cháu của những người này cũng đời đời làm ca kỹ.

Bên 4 cổng của Bắc Kinh đều có ti giáo phường, là các ngõ nhạc lâu, kỹ viện. Từ thời Tống Nguyên về trước, câu lan là nơi diễn trò, sau chữ "câu lan" cũng đồng nghĩa với "kỹ viện". Nơi diễn nhạc, diễn trò cũng chính là kỹ viện. Ghi chép đời Càn Long cho thấy các kỹ viện ngoài cửa Bắc Kinh này lệ thuộc vào ti giáo phường, là kỹ viện của các quan gia, chuyên cung phụng hoàng thân quý thích.

Lịch sử ti giáo phường

Định am nói: "Từ đời Đường, Tống, Minh đến nay, từ kinh sư cho tới các đại ấp, thành lớn đều có nhạc tịch. Thời cổ triêu mộ hàng ngàn nữ tử gia nhập nhạc tịch."

Nhạc tịch là kỹ viện của quan gia, thuộc về ti giáo phường của Lễ bộ. Ngoài nhận con gái bên ngoài vào còn là nơi trừng phạt vợ con của các quan lại phạm tội. Vợ con của phạm nhân bị đưa vào ti giáo phường trong dã sử ghi lại không ít.

Trong thời Tống, ti giáo phường còn có tù nhân chiến tranh, vợ con của người bại trận, phụ nữ bị bắt trong chiến loạn.

Ti giáo phường thuộc Lễ bộ, chuyên tấu nhạc, biểu diễn tại các lễ mừng, lễ đón khách... Nhưng trong đó, số lượng kỹ nữ rất nhiều. Nguyên sử viết, trong lễ đón mừng của Hốt tất Liệt, đội âm nhạc của ti giáo phường đưa đến 150 kỹ nữ.

Những kỹ nữ thuộc giáo phường được huấn luyện âm nhạc, có nhiều người tài năng nổi tiếng như Chu Liêm Tú, hay Tần Hoài danh kỹ thời Minh mạt như Đổng Tiểu Uyển, Lý Hương Quân, Biện Ngọc Quân, Trần Viên Viên đều thuộc ti giáo phường của Lễ bộ, có sức ảnh hưởng rất lớn đến các danh sĩ...

---

Ở Hà Tiên có nhiều địa danh được đặt tên theo các địa danh Trung Quốc, đặc biệt là vùng Quảng Đông. Nhưng địa danh thì cũng có hàng trăm hàng ngàn, sao lại lấy tên này mà không lấy tên khác? Sau khi tuyên bố với bạn "Người đặt tên chỗ này chắc chắn đang bị thất tình", mềnh đã nghiêm túc nghĩ lý do tại xao lại như thế.

Vì rằng ngoại trừ bờ biển ra thì đất phương Nam chả giống Giang Nam giề, mà một hòn núi tự dưng lại mang tên Tô Châu, một dòng sông lại có tên Giang Thành. Cái tên này chắc hẳn mang ý nghĩa tượng trưng, văn học nhiều hơn là sự giống trên thực thể. Mà nhắc đến Tô Châu trong văn học thì phải nhớ tới bài Phong kiều dạ bạc. Mà những "ô đề nguyệt lạc", "thanh chung" ấy cũng được Mạc Thiên Tứ nhắc lại trong bài Tiêu tự thần chung. Núi Tô Châu lại ở cạnh Đông Hồ. Do đó, điển tích nhắc tới ở đây chính là Phong kiều dạ bạc, với "tiêu điểm" là Hàn San tự.

Một trong những truyền thuyết về Hàn San tự là câu chuyện 2 người huynh đệ tên là Hàn San và Thập Đắc cùng yêu một cô gái. Vì sợ làm buồn lòng huynh đệ, Hàn San bỏ đi đến đến ngôi chùa này, Thập Đắc cũng đi tìm đến tận nơi. Cuối cùng, 2 người (bỏ luôn cô kia) sống với nhau như trước. '__'

Còn Giang Thành cũng là 1 địa danh TQ, nhưng cái tên này trong văn học lại được nhắc đến như 1 phiếm chỉ cho... sông nước nhiều hơn là 1 vùng đất cụ thể. Sự "liên quan" của Giang Thành với Tô Châu nằm trong 1 bài từ điệu Giang Thành tử của Âu Dương Quýnh:

Vãn nhật Kim Lăng ngạn thảo bình,
Lạc hà minh,
Thuỷ vô tình.
Lục đại phồn hoa,
Ám trục thệ ba thanh.
Không hữu Cô Tô đài thượng nguyệt,
Như Tây Tử kính,
Chiếu Giang Thành.

Trong "truyền thuyết" về Phong Kiều dạ bạc cũng nhắc tới câu thơ của 1 chú tiểu làm trong đêm ấy:

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
Bán trầm thủy để, bán phù không.

Mà nếu đứng ở bờ bên này sông Giang Thành nhìn qua núi Tô Châu giữa sông có thể thấy "trời đất bị chia làm 2 nửa", trăng mọc qua núi khi chiếu xuống nước sẽ bị phân làm đôi ở 2 bờ.

Cảnh tượng này cũng sẽ rất có cảm giác "lưỡng mang mang" nào đó. Mà cũng phải nói, Tô Châu là kinh đô nước Ngô cũ, là nơi có núi Linh Nham mà Tây Thi gặp Phạm Lãi, có núi Cô Tô, có nàng Tây Tử. Thơ Mạc Thiên Tứ cũng đã từng nhắc đến 1 "mỹ nhân" nào đó: "Tư mỹ nhân hề, diểu hà chi. Hoài cố quốc hề, đồ dẫn lĩnh". Ngay cả truyền thuyết chữ "Hà Tiên" cũng đã phảng phất bóng một "tiên nhân" nào đó trên sông.

---

Trong vụ án Lê Thái Tông, K.W.Taylor nhắc đi nhắc lại chừng 3,4 lần là "vua chết sau khi Tư Thành sinh được (mười) mấy ngày" (hay mấy ngày mà trí nhớ cá vàng của mềnh từ chối nhớ chi tiết). Nói 1 lần thì ngờ ngợ, mà nói nhiều lần thì... dù tác giả rất thận trọng nhưng vẫn lộ ra ý nghi ngờ của mình.

Trong khi đó, tác giả viết về nhà Lê theo kết cấu vầy nè: Vua (Lê Thái, Lê Nhân) cùng các quan đại thần - Lê Thánh Tông và các chính sách, quan hệ (cùng cách điều phối, đối xử với các quan) - Các vua sau (lại tiếp tục) cùng các đại thần.

Túm lại cái chết của Lê Thái Tông được tả như vầy: Ngô Ngọc Dao được Nguyễn Trãi đưa khỏi cung - Sau khi Lê Tư Thành sinh được mấy ngày, Thái Tông ra ngoài "chơi", đến chỗ Nguyễn Trãi, chết.

Mà Nguyễn Thị Anh được tác giả nhìn nhận là phụ nữ không có năng lực (Điều này mềnh cũng công nhận luôn. Đừng nhìn tóm tắt wiki thấy "Thái hậu" giết người này người kia mà tưởng ngầu. Đọc sử mới thấy vua lẫn Thái hậu sợ công thần như gì. Liên tục gả công chúa cho con công thần, kể cả công chúa mới 10 tuổi cũng bị lôi đi, lễ cưới thành "kiểu mẫu" tham nhũng của kinh thành. Con cháu công thần đánh nhau, giết người ngay giữa kinh thành mà không dám xử. Đến mức ngay cả đối thủ Nghi Dân, Lê Thánh Tông kể tội "con hoang" nọ kia mà vẫn phải lắc đầu bảo "gà mái gáy sáng", chả có năng lực giề.) - Chiện này sẽ nói sau.

Vậy thiệt ra cái sự nghi ngờ của tác giả Taylor đang nhắm vào ai?

Trong quan hệ triều chính thời Nhân Tông, lại thấy nổi bật lên cái tên Lê Thụ, người mà sau này Lê Thánh Tông từ chối công nhận công thần, còn "tiện thể" xài xể thêm mấy câu. (Trong sử còn ghi lại chuyện con Lê Thụ lấy công chúa 10 tuổi, quà cáp chật nhà. Hay chuyện các quan minh tranh ám đấu xung quanh ông này.)

Vậy quay lại cái chết của Thái Tông sau khi Tư Thành được sinh ra. Mẹ con Tư Thành do Trịnh Khắc Phục, Nguyễn Trãi đưa đi. Mà 2 người này là... tâm phúc của Thái Tông đưa về. Nên trừ phi Thái Tông quáng gà đâm hồ đồ quay lưng lại với tâm phúc, hành động của họ cũng chính là ý muốn của Thái Tông. Nhưng trong cung thì có gì ép vua phải đưa vợ con đi?

Vậy phải nhìn lại quá trình phế lập liên tục của Thái Tông: Dựa Lê Ngân diệt Lê Sát, rồi dựa (vào đâu đó) diệt Lê Ngân - tương đồng với quá trình phế lập các phi tần, con gái của những người này. Điều này có thể còn tiếp tục dài dài. Nghĩa là con của Ngô Ngọc Dao cũng có thể là một "con bài" mới để Thái Tông diệt tiếp "kẻ nào đó" đang lên trong triều. Nguyễn Thị Anh thế lực yếu ớt, nhưng con của Ngô Ngọc Dao - người có thế lực mạnh cả họ nội lẫn họ ngoại - thì là mối đe dọa khó hơn nhiều.

Nếu là quyền thần, chọn Nguyễn Thị Anh hay Ngô Ngọc Dao thì dễ khống chế hơn? Lịch sử đã chứng minh.

Thiệt ra thì Lê Thái Tông hoàn toàn có thể hồ đồ, nghe lời gái phế lập lung tung xèng, rồi Nguyễn Trãi phải ra tay "giải quyết hậu quả". Rồi vua cũng tự nhiên chết, tai bay vạ gió trúng nhằm NT.

Nhưng cũng có câu "Một lần bất tín, vạn sự bất tin". Cái kiểu hành xử vắt chanh bỏ vỏ của Thái Tông thì hông ai hông nhận ra. Mà nếu vua bị ngay những cận thần bên cạnh mình "tiên hạ thủ vi cường", "không giết vua thì vua giết mình" diệt hậu hoạn cũng rất là có thể.

(Nhớ mang máng đâu thì Tạ Chí Đại Trường cũng từng nhận xét Thánh Tông dựa thế lực của những người từng giết cha mình mà lên ngôi.)

Nên bảo Nguyễn Thị Anh (hay thế lực nào đó) muốn diệt Lê Tư Thành thì cũng chả phải - sau này Tư Thành được đón về nuôi dạy đàng hoàng, trong khi thật ra chỉ cần tí tẹo thuốc độc thì ai biết đấy là đâu. Thứ họ muốn diệt thực sự là "ý muốn phế lập của Thái Tông" đằng sau Tư Thành. Nên vua chết, nguy cơ đó đã không còn.

Đúng ra, nếu muốn diệt Tư Thành khi còn trong trứng để "giữ vững ngôi vị cho Bang Cơ" thì Tư Thành đã không được sống lâu rồi. Nếu đã ép được Thái Tông phải bỏ vợ con thì cũng chả ngại lấy mạng luôn đứa con sau khi Thái Tông chết. Nhưng Tư Thành được giữ lại làm "đối trọng quyền lực" cho bên Bang Cơ, cũng như Khắc Xương sẽ được giữ lại làm "đối trọng quyền lực" cho bên Tư Thành.

(Thánh Tông giết Khắc Xương sau khi "cha vợ" Nguyễn Đức Trung qua đời. Sau khi Nguyễn Đức Trung cáo bệnh về nhà, Thánh Tông mới đưa ra những "cải cách" quan lại hành chính quân sự quan trọng. Chẳng biết sử gia vô tình hay cố ý mà lấy năm sau khi Nguyễn Đức Trung mất làm cuốn mới ghi cho Thánh Tông. '_')

Nên thiệt ra trong mắt Taylor, Thái Tông chỉ là ông vua trẻ con dễ bị lung lay, dễ kích động, xoay vòng vòng giữa các phe phái mà cuối cùng tự hại chết mình. Đây cũng là cố tật của các vua chúa thủ lãnh VN, toàn trong lúc đang thành công thì diệt kẻ bên cạnh đang đem thành công đến cho mình. Người ngoài bảo "sao dại thế?" chứ chỉ mấy ổng mới biết mình bị đè đầu cưỡi cổ, có tiếng không có miếng ra sao. =))

Mà diệt xong "phe lớn" rồi mà còn chưa bị "phe khác" và đối thủ đập chít ăn thịt thì hình như chỉ có mỗi... Nguyễn Ánh - do may là chính. =))))) Sau này NA cũng phải về làm hòa với Võ Tánh, "thế lực" lớn nhất ở Gia Định, làm hòa với tất tần tật người trong ngoài mới thành công được.

Nên muốn "độc tài" như Minh Mạng cũng là một quá trình gian truân hơn 10 năm trời xây dựng lực lượng đấy chứ giỡn à? "Chuyên chế" như Lê Thánh Tông cũng làm đủ trò đợi "cha vợ" về vườn mới chuyên với chế được.

Còn cái trò "đấu đá diệt quyền thần" giết người này người kia nghe thì cun ngầu nhưng chỉ dành để... thiếu nữ thiếu nam mơ mộng cun ngầu thôi.

---

Ngồi lược ĐVSK, đang từ Lý Trần nói toàn chuyện bình định thổ mục phiên liêu nọ kia nhảy sang thời Lê toàn chiện ông nọ đâm ông kia, cãi nhau giết nhau. Đang lầm bầm hông biết người viết sử có quá mức chi tiết lặt vặt hông thì cũng tự nghĩ ra là... tất nhiên nó phải thế.

Thiệt ra thì trong thời Lê, sức đẩy cho nền "chuyên chế tập quyền" không phải bắt đầu từ Lê Thánh Tông mà là từ... địa lý. Trong thời Lý Trần, những thế lực cai trị nằm ở phương Bắc, nên hễ có loạn lạc là bắt đầu từ vùng Thanh Hóa - Nghệ An trở đi. Lê Lợi nhờ địa lý ẩn náu suốt 10 năm, đưa lực lượng quân Thanh Hóa lên ngôi, đồng thời "thống nhất" được 2 vùng Nam-Bắc miền Bắc. Các châu mục miền Bắc được bình định trong thời Lý Trần cộng với châu mục phía Tây Nam nhà Lê đánh được mới tạo thế cục vững vàng để Lê Thánh Tông đánh xuống phương Nam. Mà ở các triều đại trước, đất lấy được không giữ được, thì đến đời Lê đã có thể "ổn định" đến tận Quảng Nam.

Mà một khi không phải chia quyền lực để bình định "đất xa" nữa thì... chỉ còn các ông đấu nhau thôi. Lê Thánh Tông trước hết là... may mắn, vì sinh ra trong thời điểm các ông giết nhau gần xong rồi. Đến khi LTT lên ngôi thì "công thần" già quá qua đời gần hết.

Nhà Mạc thất bại trước hết là vì... đây là dòng họ đặt quyền lực ở phương Bắc (Hải Dương). Nên bị nhóm phương Nam họp nhau đánh bại. Mà đến đây thì chứng tỏ một điều là chế độ tập quyền thời Lê không có tác dụng gì với "đất xa", chỉ giữ được vùng này yên ổn nhờ vị thế "đất của vua". Đến thời Trịnh thì lại phải nhờ vua Lê để "giữ" đất phía Bắc. Điều này cũng tương tự như thời Trần dùng quan hệ hôn nhân để giữ đất - Như Trần Quốc Khang được đưa xuống Diễn Châu, cưới toàn phụ nữ Diễn Châu, để rồi người kế nghiệp cai trị cũng là "người Diễn Châu" (ĐVSK ghi rằng điều này ứng hợp với hầu hết vương nhà Trần cai trị nơi xa).

Quá trình "Nam tiến" của VN là quá trình "thống nhất ngược" khi quyền lực dần chuyển giao về phương Nam.

---

Người VN có tục thờ cây đa, nhưng tại sao lại là cây đa?

Cây đa được cho là có nguồn gốc từ Ấn Độ, trải rộng khắp ở các vùng nhiệt đới Nam Á, Đông Nam Á, Nam Trung Quốc... (và hiện giờ cũng có mặt ở Úc). Tục thờ cây đa không chỉ có ở người Việt mà còn xuất hiện ở Ấn, Philippin, Guam... đặc biệt là người Dao cũng thờ cây đa.

(Theo kết quả nghiên cứu của Đề án "Sưu tầm kiểm kê kho sách cổ người Dao" do Tiến sĩ Trần Hữu Sơn (Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin - Thể thao Lào Cai) chủ trì có đăng tại thì: Người Dao có nguồn gốc xa xưa ở đảo Hải Nam (Trung Quốc) gồm 7 nhóm. Người Dao ở Việt Nam và ở Lào Cai có 3 nhóm: Dao Tuyển, Dao Nga Hoàng và Dao Làn Tẻn (còn gọi là Dao Chàm) họ bắt đầu di cư sang Việt Nam vào thời Lê (vào khoảng cuối thế kỷ 17). Để đến được đất Việt, sống ở vùng núi như ngày nay, người Dao đã phải trải qua cuộc hành trình muôn phần gian khổ vượt biển, vượt núi, vượt sông. Điều này phản ánh rõ trong nhiều phong tục, nghi lễ của người Dao và được ghi lại rất tỉ mỉ trong sách cổ. Người Dao di cư sang Việt Nam theo nhiều đợt từ đảo Hải Nam, qua Phòng Thành, tới Bắc Giang.)

- Theo truyền thuyết Hindu, cây đa là nơi nghỉ ngơi của thần Krishna (một trong những tên để gọi thần Vishnu). Thần Shiva cũng thường được miêu tả ngồi dưới gốc đa. Cây đa được coi là cây thần, gọi là Vat Vriksha.

- Theo truyền thuyết của Philippine, cây đa được coi như là nơi trú ngụ của các linh hồn và ma quỷ. Trẻ nhỏ thường được dạy là không nên chỉ trỏ cây đa hay nhục mạ linh hồn trú trong nó. Hồn ma trong cây đa có thể gây tai họa, hãm hại người.

- Nguời Chamorro ở Guam (một giống dân được cho là tới từ Đông Nam Á khoảng từ 2000 năm trước Công nguyên, gần với người Philippine và thổ dân Đài Loan), tin rằng cây đa là nơi trú ngụ của các linh hồn cổ xưa, bảo vệ cây thần này.

Ngoài ra, bóng dáng cây đa còn xuất hiện ở nhiều đình đền đài Cambodia (Angkor Wat), Indonesia, Hong Kong...

Ngoài ra, cây đa còn thường được nói tới trong Phật giáo Nguyên thủy, là nơi những sinh vật tầm gửi tới trú ngụ.

...

Ở đây, ta thấy niềm tin của chính người VN cũng chia thành 2 tuyến: Một bên thờ phụng cây đa, cho trồng gần chùa, làng, "Cây gạo có ma, Cây đa có thần" (thật ra cái cây "có ma" còn có nhiều biến tấu khác, lúc là cây si, lúc là cây gạo, cây thị...). Nhưng người thường thì tin là cây đa có rất nhiều ma, không khó gì để nghe người dân quê kể chuyện ma ở cây đa đủ mọi loại. :))

(Trong 2 vế "cây abc có ma, cây đa có thần" thì khó có thể hiểu thần được nói đến ở cây đa là ma. Ngoài ra còn có những câu "Sợ thần thì nể cây đa", "Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa"...)

Do chưa đủ hứng thú để đi dò lại truyền thuyết về cây đa ở các nước nên... đến đây kết thúc. Nhưng nói thêm, tín ngưỡng thờ cây đa vào Nam đã không còn, ngay từ vùng Ninh Thuận, Bình Thuận cũng đã ít hẳn.




VNCH
Sunday, August 9, 2015 Author: Trường An

Thiệt ra đây là bài viết *nhảm*, nhưng hông đem nó lên FB vì chưa muốn bị đạp chít. =))

Thì là mà, hãy tìm đọc cuốn History of Vietnam của K.Taylor.

Tác giả là 1 cựu chiến binh tại VN, và với lối viết rất trung lập, ngắn gọn, dễ hiểu, đầy đủ, phần chiến tranh VN 45-75 của ông, đặc biệt là về VNCH, sẽ cung cấp kha khá đầy đủ về những gì đã xảy ra vào thời gian ấy, nguyên nhân thành lập và "diệt vong" của VNCH.

Mà sau khi đọc xong, mềnh đã có 1 cảm tưởng rất thiết-thực là... "đáng đời chớ". =__=

Hầy, như người VN ngàn năm nay vẫn làm và chắc ngàn năm sau vẫn còn làm, khi đụng phải cơn bĩ cực nào đóa, "thời đại cũ" sẽ trở thành ánh dương huy hoàng, "vẻ đẹp bị vùi dập", nạn nhân bông sen trắng của chế độ hiện tại. Từ đó, những thành phần "thua cuộc", "bị vùi dập" trước đó sẽ ngoi lên, kể những "truyền thuyết" đệp lung linh, những viễn cảnh huy hoàng trong giả tưởng. Nhứt là sau những cuộc nội chiến, những xung đột nồi da xáo thịt, "bên thua cuộc" thực mợ nó là lẫm liệt bi thương, là ánh dương không hợp thời, là tương lai đáng-lẽ-sẽ-có như tất-nhiên-phải-thế... (vân vân hãy tự điền vào chỗ trống).

Nên các bợn (lẫn bất kỳ ai) cũng lờ lớ lơ đi những cuộc đảo chính liên tục, liên tục, những cuộc biểu tình cũng liên tục, liên tục, những cuộc thanh trừng, xung đột xảy ra khắp nơi trong thời kỳ ấy. Chế độ Nam Kỳ bắt nguồn từ lập lại 1 quốc trưởng của triều đình Huế rồi lại "được" 1 gia đình Thiên Chúa giáo lật đổ, "soán ngôi", bao gồm vô số thành phần từ bảo hoàng, thân Pháp, thân Mỹ, Phật tử, con chiên, thương gia, nông dân, trí thức... Những xung đột nổ ra trong chính chính quyền, giữa các phe phái, gây ra các cuộc biểu tình, nổi dậy rầm rộ khắp nơi. Những rạn nứt, mâu thuẫn trong văn hóa, xã hội, tôn giáo... chia rẽ toàn bộ miền Nam, bị những kẻ lợi dụng thổi bùng lên để chiếm được lợi thế về phía mình. Con người - theo bậc thang càng xuống thấp - càng trở thành con rối của những thế lực. Và đến khi NVT lên nhậm chức Tổng thống, đã chẳng còn gì có thể cứu vãn.

Trong mục đích "tô hồng" quá khứ, con người ta cũng dễ dàng bác bỏ những thứ xấu xa, coi đó là "xuyên tạc bởi thế lực thù địch", nhưng những năm đó, hất đổ tượng đài, ném bom vào phủ tổng thống, tiêu diệt lẫn nhau không phải do người "khác ý thức hệ" làm. Những số phận bị thanh trừng, tiêu diệt như Nhất Linh cũng không phải tiêu tan vào không trung. Đó là việc ta còn chưa nói tới số liệu cùng những chứng cứ có thể có của một chính quyền đã được các chính trị gia Mỹ mô tả là "tham nhũng khủng khiếp".

Vầng, chính mình tự tiêu diệt mình, chớ có kêu ai.

Taylor là 1 trong những người viết sử hiện đại rất chú tâm đến bản chất "tính xung đột" của VN (Như bài viết được trích trước). Phản ứng của người VN trước mỗi khó khăn là... tìm cách xử nhau trước, lôi mâu thuẫn, thù oán từ 80 đời vương ra để "tiêu diệt thằng kia" rồi muốn làm gì thì làm - Thiệt ra, cốt lõi của nó vẫn là tính tự tư tự lợi, nghĩ đến bản thân trước hết thảy. Thêm vào đó là bản tính "bông sen" nghĩ mình là cô Tấm bị dì ghẻ áp bức nên mới chịu phận hái rau, chớ có ông bụt thì ta đã thành hoàng hậu - Mà cách để có ông bụt là ta ngồi khóc. =)) (aka ta mà có Mỹ có Tây thì ta đã hóa rồng).

Nên thiệt ra, quý xờ vị làm lơ luôn nguyên do tại xao ta lại ra thế này, cũng làm lơ luôn (hay tại khó quá bỏ qua) câu hỏi "Chế độ hồng hường tuyệt vời tiên tiến có khả năng đem ta hóa rồng đóa sao lại thua chổng vó vậy?" (à mà, khỏi hỏi cũng biết sẽ có các chế đổ tội cho "nông dân hung hãn", "bọn ngu thì rất đông" ồi. Cơ mà, hông kiểm soát được bọn "công nông hung hãn" í thì chế độ sống làm xao được vậy, tương lai làm xao được vậy? Hông có khả năng kiểm soát đất nước thì cái giàu-giỏi-đẹp đó bằng cách nào mà làm được vậy?)

Nên thiệt ra, quý xờ vị "làm cách mệnh" bằng cách... chửi đổng, chửi đông chửi tây, lấy thằng này đập thằng nọ là... đang tiếp nối truyền thống ngàn xưa của cha ông. =))

(Trong khi thiệt tình ấy mà, cô Tấm chỉ cần mò cua tích trữ rồi phắn khỏi nhà là xong. Tự ở tự ngược rồi tự ngồi khóc gọi Bụt nó hơi bị phiêu. =)) )




Xung đột
Wednesday, May 6, 2015 Author: Trường An

Xung đột vùng miền giữa các dân tộc Việt từ thế kỷ 13 đến 19 - Keith W. Taylor

"Vào cuối thế kỷ 14 Hồ Quý Ly đã kiểm soát triều Trần và năm 1400 tự lập triều đại riêng. Trong khi nhà Trần là người thuộc đồng bằng sông Hồng, Hồ Quý Ly là người từ Thanh Nghệ, và ông xây một thủ đô mới ở Thanh Hóa. Việc ông không giành được sự trung thành của vùng Ðông Kinh là một yếu tố quan trọng trong việc nhà Hồ không chống nổi cuộc xâm lược của nhà Minh năm 1406-1407, thời điểm khi Hồ Quý Ly từ bỏ phần lớn khu vực Ðông Kinh và tìm cách phòng thủ bờ Nam của sông Hồng. Có nhiều bằng chứng cho thấy đa số sĩ phu ở Ðông Kinh sẵn sàng chấp nhận sự cai trị của quân Minh và rằng nhiều thế gia vọng tộc ở khu vực này, đặc biệt là họ Mạc, đã trung thành phục vụ quân Minh. Năm 1407 người Minh nói hơn 1100 nhân vật có thế lực địa phương bày tỏ sự trung thành với nhà Minh và yêu cầu vùng đất của họ sát nhập vào đế quốc Trung Hoa. Tài liệu của nhà Minh ghi lại rằng hơn 9000 người địa phương sau đó đã đến thủ đô nhà Minh để được sắc phong làm quan chức cấp tỉnh. Hiệu lực của sự cai trị của nhà Minh đã không thể xảy ra nếu không có sự chấp nhận và tham gia với mức độ lớn của người địa phương.

Không khó để đọc cái gọi là “phong trào giải phóng dân tộc” của Lê Lợi như là cuộc chinh phục của Thanh Nghệ đối với Ðông Kinh, với việc nhiều nhân vật Ðông Kinh xem người Minh như thế lực bảo vệ chống sự quê kệch của các tỉnh phía Nam. Cái nhìn này đi ngược với cách viết sử của nhà Lê và cách viết sử dân tộc chủ nghĩa thời hiện đại, nhưng khi xét các sự kiện về sau, nó lại đáng tin hơn so với khuynh hướng thông thường giả tảng như nhiều ngàn người phục vụ quân Minh hoặc đã biến mất vào màn sương phương Bắc hoặc bỗng dưng quay lại thành người yêu nước.

Vai trò của Nguyễn Trãi, sĩ phu Ðông Kinh nổi tiếng và là người về Nam để gia nhập đoàn quân Lê Lợi ở Thanh Nghệ, không phải là nhân vật tiêu biểu hay đại diện cho xu thế chung của quê ông. Các bài thơ ông viết trong thời Minh và trước lúc ông về Nam phục vụ Lê Lợi, thể hiện, như cách dùng từ của O.W. Wolters, “một người xa lạ ngay trên mảnh đất của mình”...

... Một tính chất quan trọng khác của Bình Ðịnh là vị trí của nó như một bến cuối của tuyến đường được đi lại nhiều dọc cao nguyên đến thung lũng Mêkông, băng qua An Khê, Plây Ku, và đến sông Mêkông ở Stung Treng ở nơi mà hiện nay là phía Bắc Campuchia, nơi nó nối kết với mạng lưới giao thương tỏa ra từ Ayudhaya/ Bangkok. Thương mại di chuyển dọc tuyến đường này, nối Bình Ðịnh với những mối quan tâm buôn bán của người Xiêm. Các dân tộc vùng cao và người Việt tham gia vào hoạt động thương mại này, nhưng các cộng đồng người Hoa ở Ayudhaya/ Bangkok và Qui Nhơn cung cấp vốn và những mối quan hệ để kích hoạt giao thương. Qui Nhơn trở thành trung tâm thương mại quan trọng tại đầu mối của một cảng biển lý tưởng, con đường phía tây qua núi, con đường phía Bắc đến Thuận Quảng, và con đường phía Nam đến đồng bằng sông Mêkông.

... Chừng nào một sức mạnh quân sự tự nguyện và chuỗi dài thắng trận còn là bí quyết giúp có quyền lực chính trị, người của Bình Ðịnh có thể chiếm ưu thế. Nhưng khi đối diện với một đối thủ đã thua trận liên tục nhưng luôn đứng dậy, một đối thủ có tầm nhìn chiến dịch lâu dài chứ không chỉ một trận đánh, một đối thủ xem thành công không phải nhờ giao tranh mà là kết quả của tổ chức, rèn luyện, huy động tài nguyên, chuẩn bị, hoạch định và chờ đợi, chờ đợi, chờ đợi, thiên tài Tây Sơn, đứng trước một đối thủ như thế, bỗng chỉ trở thành một sự gan dạ cấp tỉnh. Và đối thủ này xuất hiện từ đâu? Từ Nam Bộ.

... Không giống như thiên nhiên mang tính chất như vườn, chịu ở dưới nỗ lực của con người như trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhiều nhà thơ xứ Bắc, không giống sự ca tụng niềm vui con người giữa thiên nhiên hoang sơ trong thơ Ðào Duy Từ ở Ðàng Trong, Mạc Thiên Tích xem thiên nhiên như một tác nhân động vừa khơi hứng vừa hạn chế nỗ lực con người. Dòng thứ nhất ở trên cho thấy các thói quen văn chương chắc chắn thay đổi khi chuyển vào Nam Bộ; không cần phải xin lỗi cho tính không chính thống. Dòng thứ hai ngụ ý những kế hoạch thống nhất của người có tham vọng làm vua thường xuyên bị ngăn trở và buộc phải thay đổi ở Nam Bộ; không cần phải xin lỗi cho sự đa dạng. Trong hai dòng cuối, có thể đọc như một ẩn dụ cho Nam Bộ, một nơi có những khí sắc riêng, một nơi mà những lựa chọn chỉ dành cho những ai “tự do theo gió”, dấu hiệu của việc đi theo khát vọng cá nhân, và xem những khả năng “trên chót vót thượng từng”. Tôi đã dừng lại ở thơ của Mạc Thiên Tích bởi vì Nguyễn Ánh có thể đã là người Việt Nam đầu tiên “theo gió” ở Nam Bộ và nhìn về phía Bắc từ “chót vót” của Nam Bộ.

... Tôi ngờ rằng, trong các thế kỷ được đề cập ở tiểu luận này, ý niệm hòa bình có nghĩa là tồn tại bên trong quỹ đạo của một lãnh tụ có khả năng thực thi sự độc quyền vũ lực. Sống trong hòa bình có nghĩa là sống dưới sự bảo vệ của một người có quyền uy. Những cố gắng mở rộng quỹ đạo hòa bình ấy để bao gộp toàn bộ các dân tộc nói tiếng Việt tất yếu dẫn đến chiến tranh khi những quỹ đạo này chen lấn nhau. Vì thế trong khi chiến tranh xảy ra ở vùng biên, hòa bình lại được củng cố ở trung tâm. Khái niệm đương đại của chúng ta về “hòa bình” liên quan đến những ý niệm về nhà nước hiện đại và tính chất bắt buộc tuân theo hành vi thống nhất mà nhà nước đòi hỏi. Nhưng trong thời gian trước khi có các nhà nước hiện đại, khi sự lãnh đạo chính trị được thực hiện bởi các lãnh tụ và các nhóm đối với các vùng lân cận tùy thuộc sự thay đổi của tính cách và quan hệ con người, thì “hòa bình” không phải là thành tựu của sự thống nhất pháp luật mà là tập hợp các tình huống gần như luôn luôn bao hàm cả chiến tranh.

... Việc xây dựng một “lịch sử chung” nằm trong địa hạt thần thoại."

 

 

---

Lần trước đọc đã mơ hồ nghĩ K.W.Taylor không rành sử thời Nguyễn, mà đúng thật. :))))) Nên ông nhầm 1 cái hố hơi to là hầu hết xung đột ở miền Bắc với triều đình thời Nguyễn nằm ở... Thanh Nghệ chứ (rất ít) quanh Đông Kinh.

Âu cũng do nếu người nghiên cứu quá "lậm" giả thuyết của chính mình mà không uyển chuyển thì lọt hố như chơi.

Mà đọc bài này xao chỉ chú ý đến cách Taylor... bình luận văn học. :v Còn thì là việc... ai cũng thấy mà hông hiểu xao hông ai thèm công nhựn.

---

Cho nên thiệt ra cái đống rối nùi ở phần cuối Nhật mộ là mềnh (cố gắng) nói đến vị trí then chốt của vùng Quy Ninh - Phú Yên - Phan Rang đó. TT^TT Chả lẽ mềnh phải trích dẫn mấy bài viết lịch sử song song để "dễ hiểu" hơn? TT^TT Đơn cử như này:

"Trong thế kỷ 18, những nhà cai trị ở Thuận Quảng ngày càng quan tâm đến Bình Ðịnh, xem nó như một điểm nối uy quyền của họ với vùng biên giới phía xa. Một nghiên cứu gần đây đã phân tích buổi khởi nghiệp của phong trào Tây Sơn (Tây Sơn nằm ở lưu vực sông giữa Qui Nhơn và An Khê) những năm 1770, xem đó là một sự phản ứng vùng trước những yêu sách của các nhà cai trị Thuận Quảng áp đặt lên vùng này."




History of Tonquin
Friday, March 13, 2015 Author: Trường An

Đàng Ngoài rất đông đúc: Nó có vài thành thị, nhưng phần lớn là thị trấn và làng mạc san sát bên nhau trong những vùng không bị bao phủ bởi nước. Họ dường như dựng lên một dãy các ngôi nhà, tất cả đều thuộc về một cộng đồng, nên không thể phân biệt nổi trong lần thấy đầu tiên. Người ta nói rằng không hiếm gặp những thị trấn chứa 30-40 hay thậm chí 100 ngàn người, tương đương với dân số các thành phố lớn nhất châu Âu.

Độ lớn của Kẻ Chợ có thể tương đương với các thành phố nổi tiếng ở châu Á, chu vi của nó có thể ngang bằng với Paris, nhưng không có thành phố nào đông dân số như nó. Đặc biệt vào ngày 1 và 15 âm lịch, phiên chợ lớn nhất được mở, thu hút gần như tất cả cư dân của làng và thị trấn gần đó... Đột nhiên có hàng triệu người đến, đến mức khó mà tiến 1 bước trong vòng nửa giờ dù con đường rất rộng.

Đường phố ở Kẻ Chợ lớn đẹp, được lát gạch, trừ những nơi voi, ngựa và kiệu của nhà vua và gia súc đi qua. 2/3 nhà làm bằng gỗ, phần còn lại bằng gạch. Xen giữa là cửa hàng của các thương nhân nước ngoài, có thể dễ dàng phân biệt giữa vô số chòi nhỏ dựng từ tre và đất sét.

Các cung phủ của quan lại và dinh thự công cộng chiếm những vùng lớn, không có gì đáng chú ý ngoại trừ một tòa nhà gỗ lớn trong chúng được coi là gian nhà chính, phần này được dựng vững chắc hơn phần còn lại của ngôi nhà, được trang trí bằng điêu khắc và hội họa, nội thất được chia thành nhiều phòng nhỏ, nền hiên và sàn nhà gọn gàng, và mái ngói có nhiều màu được tạo tác tốt.

Những nhà thường dân được tạo thành từ gỗ dựng trên đất, phần chung được lợp bằng rơm, lau sậy, lá to có thể tồn tại khoảng 30-40 năm nếu không có tai nạn nào xảy ra. Chúng không có trần nhà hay kho, chúng chỉ được chia bởi những miếng gỗ lớn cho người dùng khác nhau. Tất cả đều có nền bằng đất. Không có kính trên cửa sổ, và kính hiếm được biết đến trong quốc gia này, được thay thế bằng màn vải lanh và màn tre, cũng gần như có thể nhìn xuyên qua.

Cung điện của vua chiếm một phần của thành phố. Nó có tường bao quanh, hoàn toàn bị che khuất bởi những ngôi nhà xung quanh. Tường thành cao khoảng 1,8-2m, chu vi 3 giải, có độ dày gần như độ cao, tạo thành một đường đi dành cho mọi người. Khu nhà này đẹp và tốt nhất trong thành, là nơi sinh sống của những người nổi bật nhất: Các quý tộc của thành phố, tòa án. Kiến trúc của cung điện không khác với những dinh thự chính trong thành. Cổng của nó không hề cho biết gì về sự hùng vĩ của nhà vua sống trong đó hay sự giàu có của nó. Nội thất của nó cũng ít được biết tới, ngoại trừ những tác phẩm điêu khắc và hội họa theo phong cách xứ sở này. Các tòa nhà dựng bằng gỗ tốt nhất và gạch, dùng vàng bạc phong phú xuyên suốt. Có vườn và công viên, kênh rạch, ao...

Ba bức tường thành của thành cũ và cung điện cổ xưa, tòa án được lát bằng cẩm thạch, tàn tích của cửa và nhà gợi nhắc chút ít về sự lộng lẫy mà nó đã có.

Hiện tại hoàng thành không có tường thành, cũng như không có bất cứ sự phòng thủ nào bên ngoài giống như các thành thị khác - hoặc phần lớn vương quốc này. Nó chỉ được bao quanh bởi hàng rào sống bằng tre - Trên thực tế thì nó là sự bảo vệ tốt hơn với những kẻ trộm hay thậm chí một cuộc tấn công bất ngờ của quân đội, hơn là bất cứ tường thành nào được xây trong đất nước này.

---

Thường dân không mang vớ, giày hoặc quần đùi. Đàn ông có thói quen quấn một mảnh vải dài quanh thắt lưng chỉ đủ che phần kín đáo nhất, và theo thói quen mặc áo rất rộng, có 2 vạt chéo buộc về phía bên phải để che toàn bộ thân người. Khi làm việc hoặc đi dạo, họ chỉ mặc phần quấn quanh thắt lưng.

Phụ nữ ăn mặc kín đáo. Họ mặc váy áo dài, và một hay vài thứ quen thuộc - như của đàn ông, nhưng ngắn hơn - họ che ngực bằng một miếng vải hay lụa có hình trái tim.

Những người giàu hay trang trọng mặc quần rất dài và rộng, cùng 1 áo dạng gilê có tay áo chật và ngắn theo dạng quen thuộc của họ, và áo choàng dài ở ngoài.





Copyright © Trường An. All rights reserved.