Solitude

.Trong mưa và cánh đồng, dấu chân người biến mất. More...

Nhà Lê
Sunday, January 25, 2015 Author: Trường An

Nhìn qua nhìn lại thì có thể tóm tắt nhà Lê bằng một câu tràn đầy tinh thần "bi hùng": Quá trình mâu thuẫn của 2 miền. Đây là nguyên nhân hệ quả của mọi thứ, thành cũng vì nó mà bại cũng vì nó, mà cuộc chiến Nam Bắc triều chỉ là hệ quả của nó (Sử ghi Nam Bắc triều là cuộc chiến Lê Mạc, hông phải như nhiều người tưởng lầm là Trịnh Nguyễn đâu. Chỉ nội cái tên cũng cho thấy kha khá tính chất của nó).

Lê Thái Tông chết bởi vì sao? Diệt Lê Ngân, Lê Sát, phục chức cho Trịnh Khắc Phục, Trịnh Khả - đây cũng là 2 phe phái của Thanh Hóa, và hậu quả của nó có thể thấy ở đời Lê Nhân Tông. Nhất là dùng Nguyễn Trãi - người "phương Bắc". Sự "cô lập" của Nguyễn Trãi trong triều đình Lê sơ có thể chẳng phải vì là lương thần giữa đám gian thần gì ráo (nếu là gian thần thì Lê Sát, Lê Ngân đã chẳng được minh oan, mà cái ngôi Lê Thái Tông ngồi vững cũng chỉ vì bọn họ), mà chỉ là mâu thuẫn giữa một ông quan "người Bắc" với một triều đình "người Nam". Mà khi cần hạ bệ quyền lực của Lê Sát, Lê Thái Tông "dụ dỗ" Lê Ngân rồi lại phế Lê Ngân. Rồi ta thấy một Thái phi họ Phạm theo Lê Lợi từ lâu, nghĩa là có căn cơ quan hệ với Thanh Hóa, bày mưu phế lập. Rồi ta thấy thái giám trong cung khuyên răn Nguyễn Trãi gì đó mà bị giết theo. Sự trừ diệt của Lê Thái Tông không chỉ đụng chạm đến Lê Sát, Lê Ngân mà là toàn bộ lực lượng quân sự địa phương làm chỗ dựa cho triều đình nhà Lê. Điều này sẽ thấy rõ trong quá trình lập Lê Thánh Tông, và ngày càng rõ trong quá trình suy vọng.

Triều đình nhà Lê, nói theo cách "hơi xa", là 1 triều đình "quân phiệt" - quyền lực tập trung trong tay các tướng. Lê Nghi Dân, Lê Uy Mục chết theo cùng một dạng - dựa vào các lực lượng "phương Bắc" để cướp ngôi, lấy "phương Bắc" làm chỗ dựa chống lực lượng "phương Nam", nhưng cuối cùng đều không đủ sức. Ngay cả Lê Chiêu Tông cũng thế - dựa vào Mạc Đăng Dung "phương Bắc" và bị cướp ngôi luôn.

Mà thật ra, ngoại trừ Lê Túc Tông chết quá sớm, tất cả các ông vua có họ ngoại không liên quan đến Thanh Hóa hay không dựa vào Thanh Hóa đều bị trừ diệt hết sạch.

Nên "mầm họa" có thể chẳng phải từ chuyện xây cất của Lê Tương Dực - chẳng qua người ta cần cách lý giải "truyền thống" thì mà rằng là vua ăn chơi để dân gian đói kém nên nảy mầm họa. Thề, đời Lê Thánh Tông cũng đói đầy ra, xây cất cũng đầy ra, người viết Cương mục còn móc mỉa LTT "mới dòng trước sử ghi đói to, dòng sau vua phát hành tập thơ ca ngợi dân gian được mùa".

Mà "mầm họa" có thể bắt nguồn từ trong chính đời Lê Thánh Tông, hay xa hơn nữa là Lê Thái Tông. Để chống lại sự thao túng của quyền thần, vua bắt đầu lập nên lực lượng quan lại mới qua con đường khoa cử, tiến cử... Kết quả là... các phi tần của Lê Hiến Tông không có ai xuất thân từ Thanh Hóa, và Lê Túc Tông nối ngôi dưới sự phò tá của các viên quan "người Bắc" chỉ được 6 tháng, Lê Uy Mục bị trừ diệt, đưa Lê Tương Dực "xuất thân Thanh Hóa" lên ngôi. Mẹ của Lê Tương Dực, là cháu của Trịnh Khắc Phục.

Mạc Đăng Dung "len lỏi" vào triều Lê trong đời Lê Uy Mục. Và khi các triều thần Thanh Hóa mâu thuẫn đánh nhau, Mạc Đăng Dung một đằng câu kết, một đằng trừ khử, Chiêu Tông lại đi trừ diệt người "phương Nam" hỗ trợ mình, cuối cùng bị Mạc bắt về giết chết.

Cũng phải nói, lực lượng của Trần Cảo mạnh như vậy là do lời tiên đoán về một "vị vua sinh ở phía Đông". Và sử Lê Trịnh dù gọi Mạc là ngụy triều vẫn phải thừa nhận người phía Bắc ủng hộ Mạc đến cùng, Mạc chạy đến đâu người dân theo đến đấy. Nhà Lê dù đến lúc này đã được 100 năm nhưng có vẻ vẫn chưa "thấm sâu lan rộng" khiến dân chúng phương Bắc tôn thờ gì hết, chỉ chực hất đi lập ông vua họ khác. So sánh với những vua mạt Lý, mạt Trần khiến quyền thần trăm phương ngàn kế trừ khử êm thấm vì sợ quần chúng nổi loạn, các vua Lê hễ cục cựa là bị giết chả thèm nể mặt ai, cũng chả ai hành động ngoài các ông Thanh Hóa - đưa số vua bị giết trong triều Lê nhiều nhất lịch sử. '_'

Cho nên, ngay cả Lê Trịnh cũng chỉ là một kết quả nhãn tiền.




1847
Sunday, November 2, 2014 Author: Trường An

Sự thật là trong thời Thiệu Trị, các nhà truyền giáo Pháp bị bắt giữ hay trục xuất - nhưng không bị tử hình - trước sự kiện tháng 3 năm 1847 tại Đà Nẵng. Chỉ sau đó, vì hậu quả cuộc tấn công của Pháp, những nhà truyền giáo Pháp mới bị triều đình VN xử tử.

Trong thời Thiệu Trị (1841-1847), Pháp vẫn chưa quyết định áp đặt một nền thống trị thuộc địa tại VN. Nhưng vai trò của Pháp tại Trung Hoa, từ 1840 về sau, dần phát triển thành quan trọng. Trong sự cạnh tranh mở rộng thị trường của các đế quốc tại TQ, Pháp là kẻ tiến rất gần với Anh. Cuộc chiến tranh thuốc phiện lần 1 chứng tỏ cho những chiến lược gia người Pháp sự quan trọng trong việc chiếm giữ sự hiện diện trong vùng biển Đông, thứ nhất là để bảo vệ những quyền lợi của Pháp, sau nữa là để ngăn chặn sức mạnh của những nước phương Tây khác chiếm mất các đặc quyền ở những nước châu Á lân cận. Theo đó, sự hiện diện thủy quân của Pháp đã được tăng cường vào 1840, với sự xuất hiện thường trực của tàu Pháp ở cảng Manila, Batavia, Singapore, Macao và Hongkong. Vì đội thủy quân tăng cường này, Pháp đã có thể tham dự cùng Mỹ và Anh ép buộc nhà Thanh tiếp tục ký kết một hiệp ước bất bình đẳng nữa vào 1844, khẳng định đặc quyền như quyền buôn bán và bảo vệ các nhà truyền giáo. Đứng vững chân ở quốc gia trung tâm, Pháp đối mặt với yêu cầu giữ vững vị thế trên biển và đất liền. Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Guizot phát biểu công khai rằng Pháp cần phải có căn cứ thủy quân ở biển Đông và một thuộc địa gần với phía Nam TQ. Tuy nhiên, triều đình của vua Louis Philppie đã không giải quyết hành động nào cho đến khi bị lật đổ vào 1848, điều đã làm gián đoạn hành động Pháp ở châu Á cho đến khi Đế chế thứ hai của Napoleon III được thiết lập vào 1852. Nhưng vì lý do đối nội, vua Louis Phillipe đã yêu cầu các đội trưởng thủy quân ở châu Á phải bảo vệ các nhà truyền giáo khỏi bị các triều đình châu Á xâm hại hay tử hình - mà không gây nên thù oán. Sự tự do ở đó lại khiến các quan chức đem các "yếu tố nội bộ" vào phô diễn. Những quan chức thủy quân thường xuyên tìm cách mở rộng vai trò của mình càng nhiều càng tốt. Sự can thiệp của thủy quân Pháp và sự thù địch nó đem lại cuối cùng đã khiến Thiệu Trị phải lập lại lệnh hành quyết nhà truyền giáo nước ngoài, trừng phạt người theo đạo trong nước, và chắc chắn buộc phải đóng cửa các cảng đối với tàu Pháp.

Sự xâm phạm đầu tiên diễn ra vào tháng 3/1843, khi con tàu Heroine dưới quyền Favin Léveque cập cảng Đà Nẵng để yêu cầu thả 5 nhà truyền giáo bị cầm tù gần Huế. Thiệu Trị ưng thuận, thả về cho Léveque 5 người gồm Miche, Duclos, Galey, Bernuex và Charrier. Trong tháng 6/1845, tàu Alemene dưới quyền Fornier Duplan vào cảng Đà Nẵng yêu cầu thả người Pháp khác là Lefebre. Người này sau đó được thả về cho các quan Pháp, được đưa về Singapore. Nhưng Lefebre tiếp tục nhập cảnh bất hợp pháp vào VN và bị bắt lại ở Sài Gòn vào tháng 6/1846. Ông ta tiếp tục được chính quyền VN thả đi, lần này là cho các quan Anh. Năm sau, ông ta tiếp tục nhập cảnh bất hợp pháp vào Gia Định.

Trong tháng 3/1847, tàu Gloire, Victorieuse dưới quyền Rigault de Genouilly cập cảng Đà Nẵng. Nhận biết là Huế đã thả toàn bộ nhà truyền giáo, những quan tướng Pháp thay vì thế yêu cầu Thiệu Trị phải chấp thuận tự do cho toàn bộ nhà truyền giáo và con chiên. Bọn họ cũng yêu cầu Thiệu Trị phải bỏ lệnh hạn chế của nền thương nghiệp VN điều khiển với thương nhân Pháp. Theo ghi chép của Đại Nam thực lục, những yêu cầu này đã tỏ thái độ hung hăng gây gổ ngay từ đầu. Đã cập vào bờ biển với chừng 20 lính vũ trang, Lapierre khiếm nhã với viên quan vùng ấy là Lý Văn Phức, nhục mạ ông ta và nói rằng mình đem theo quốc thư của chính quyền Pháp cho lãnh đạo VN. Vì nhận một thư hàm như thế chỉ có thể thực hiện giữa những phái đoàn chính trị giữa Pháp và VN, Lý Văn Phức từ chối. Khi ông ta làm thế, Lapierre bỏ lại lá thư cho Lý Văn Phức và rời đi. Chắc chắn rằng sẽ bị trừng phạt dù có nhận thứ gì đi chăng nữa, viên quan kém may mắn chỉ có thể gửi lá thư về Huế. Trong thời gian chờ đợi, những thủy thủ Pháp di chuyển tự do trên bờ biển, đi vào những làng ven biển và gặp gỡ chừng 5 hay 6 giáo sĩ Pháp cung cấp tin tức cho họ. Triều đình Huế rốt cuộc đã bị thúc giục phải hành động khi tàu Pháp tịch thu buồm và mái chèo của năm chiếc tàu đồng trong đội thủy quân. Không có khả năng di chuyển, những con tàu này bị đội thủy thủ Pháp bắt làm con tin để tìm kiếm một thỏa thuận vừa ý hơn. Để đối phó, Huế đem tàu chiến khác tới cảng và đặt thành trì bên bờ biển vào báo động. Vua Thiệu Trị liệu có quyết định tấn công bất ngờ để chấm dứt những hành động quấy rối trong lãnh thổ VN? Nhà vua nếu thế thì đã ngăn cản người Pháp vào các làng ven bờ và tiếp xúc với các cố đạo. Hơn thế nữa, nhà vua tin rằng Pháp không chỉ đem tới 2 chiếc thuyền nếu như định tấn công, vì thế, sự biểu diễn phòng ngự của VN chỉ có tác dụng khiến người Pháp rút lui hay đàm phán một giải pháp cho xung đột...

Vì thế, triều đình Huế từ chối đàm phán những điểm mà Pháp yêu cầu, nhưng vẫn hy vọng chấm dứt xung đột mà không phải dùng vũ lực. Vì thế, các tuớng VN được yêu cầu không tấn công trước trừ phi bên Pháp sinh chuyện trước.

Vào ngày 14/4/1847, những viên quan Pháp phát hiện ra sự di chuyển của đội phòng ngự và thuyền chiến vào cảng Đà Nẵng. Nghĩ nhầm rằng sắp bị tấn công, họ khai hỏa, phá thành và đánh chìm 5 tàu chiến đồng. Cuộc đánh phá của người Pháp diễn ra trong hơn 1 tiếng đồng hồ. Lapierre không định đem quân đổ bộ và đội thuyền Pháp rời đi ngay.

Cuộc tấn công khẳng định lại cho Thiệu Trị bản chất "man di" của người Pháp và chứng tỏ cho ông thấy mối nguy hiện diện cho VN. Ông yêu cầu củng cố phòng thủ tất cả bờ biển và đặc biệt cấm tàu thuyền quân sự lẫn thương mại của Pháp cập cảng VN.

The Vietnamese Response to French Intervention, 1862-1874
By Mark W. McLeod

---

(Không trích lại ĐNTL về sự kiện này, vì sách tiếng Việt lại dễ tìm.)

---

Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt thái độ của triều đình Nguyễn và Pháp. Trước đó (như vào những năm 30 Baron còn ghi), người Pháp được ưu tiên trong buôn bán nhập khẩu, nhất là vũ khí. Sự kiện này cùng với hàng trăm sự việc trước và sau đó, đã khiến các cảng VN buộc phải đóng cửa, nhất là với người Pháp.

(Thành thật mà nói, trong các quốc gia Tây, chỉ còn Pháp chưa có thuộc địa trong vùng biển Đông, không cấm cửa Pháp chứ cấm cửa ai?)

(Và người VN sau này, với sự tôn-thờ-Đại-Pháp, hông thèm đọc sử VN lẫn nước ngoài, chỉ đọc mỗi sử Pháp rằng thì mà là tại nó cấm cửa nên ta mới đánh, tại nó tấn công trước, tại nó abc xyz. Đáng xợ hơn là những thành phần lẫn lộn lịch sử với hoang tưởng - vầng, 5 cái tàu gọi là "toàn bộ thủy quân".

Nhắn các bác là "sử Việt hông ghi" tại vì các bác đọc toàn sử của sử gia thân Pháp hay sử-hiện-đại biên lại sử của người Pháp, sự kiện đó trong ngoài đều biết Pháp sai lè lè, ghi cái rì? Ghi rồi thì làm xao mà chứng minh "tại nó bế quan tỏa cảng là sai nên ta mới đánh"? Còn sử nhà Nguyễn ghi chưa đã, nhắc lại mãi đấy. =)))))))))) Vầng, "bí mật".)

---

Điều hại trong việc viết sử quá dài, quá kỹ của nhà Nguyễn là... không ai đọc nổi. Ngay cả trong các tác phẩm nghiên cứu lịch sử, thi thoảng cũng nhận thấy (hay thường xuyên nhận thấy) là tác giả chỉ đọc đúng giai đoạn được nói, còn trước đó thì chỉ lược tóm tắt. Từ đó mới sinh ra những "sai lầm dây chuyền".




Hà Tiên – 1718
Saturday, August 16, 2014 Author: Trường An

Trích "Account of Pegu and the Voyage to Cambodia and Siam in 1718" của Alexander Hamilton. Hà Tiên ở đây được gọi là Cambodia, nhưng chỉ là phần bờ biển thuộc về Nam Hà và có một "vị vua".

Quá lười để dịch, nên tóm tắt thế này: Theo ghi chép này, năm 1717, vua Xiêm La đem 5 vạn quân bộ và 2 vạn thủy quân tiến đánh Lũng Kỳ (đây là nơi Mạc Cửu đến lập phố đầu tiên). Không thể chống lại số quân này, Mạc Cửu cho người ở Lũng Kỳ lui hết về Giang Thành, đốt hết Lũng Kỳ để tạo thế vườn không nhà trống.

Theo ghi chép này, Mạc Cửu đã cho người cầu viện Nam Hà - nhưng sử VN có lẽ ghi nhầm 1718 thành 1708. Sử VN ghi Mạc Cửu đến triều đình Nam Hà sau khi cuộc chiến này kết thúc nhưng không ghi Nam Hà có động binh giúp Hà Tiên - Nếu có, hẳn là lực lượng quân đội ở Gia Định - điều này cũng lý giải được cho mối quan hệ thân thiết của Mạc Cửu và Trần Thượng Xuyên. Quân Nam Hà yểm trợ là 1,5 vạn, cùng với 3000 thủy quân. Tuy nhiên, số quân tổng hợp của cả 2 cũng chỉ bằng nửa quân Xiêm, số thuyền cũng chỉ bằng 1/4.

Quân đội Xiêm La bị mắc kẹt ở Lũng Kỳ, cả người lẫn voi bị nạn đói hoành hành. Trong lúc đó, quân Hà Tiên - Nam Hà vẫn bám sát gót tấn công du kích. Quân Xiêm vào đốt thành phố Lũng Kỳ, bị quân Hà Tiên phục kích đốt thuyền, dẫn dụ các thuyền khác vào đoạn sông cạn, mắc kẹt không ra được, rồi sau đó quân Hà Tiên rút lui, bỏ mặc quân Xiêm sợ bị chết đói mà chạy về.

- Người Hà Tiên (miền Tây) rất đẹp, đặc biệt là phụ nữ. Điều này được lịch sử chứng minh. :))

---

"In anno 1717, the king of Siam made war on his neighbour of Cambodia, and invaded his country with an army of fifty thousand by land, and twenty thousand by sea, and committed the care of his armies to his Barka-long, a Chinese, altogether unacquainted with war. The China Man accepted of he charge with much reluctancy, but the king would not be denied. The war proved unsuccessful, but I'll leave the particulars till I treat of Cambo-dia, and return to Siam, where I had some difficulties to meet with."

Cambodia

The first sea-port to be met with is Cupangsoap, a town in the dominions of Cambodia, It affords elephants teeth, sticklack and the gum Cambouge or Cambodia, but there is no free commerce allowed there, without a licence from the court of Cambodia.

The next place is Ponteamass, a place of pretty good trade for many years, having the conveniency of a pretty deep but narrow river, which, in the rainy seasons of the South-west monsoons, has communication with Bansack or Cambodia River, which conveniency made it draw foreign commerce from the city of Cambodia hither; for the city lying near one hundred leagues up the river, and most part of the way a continual stream running downward, made the navigation to the city so long and trouble-som, that few cared to trade to it, for which reasons foreign commerce chose to come to Ponteamass, and it flourished pretty well till the year 1717, that the Siam fleet destroyed it.

When the Siam army and fleet threatned Cambodia, the king knew his inability to withstand the amers, so the inhabitants that lived on his borders had orders to remove towards the city of Cambodia, and what they could not bring with them, to destroy it, so that for fifty leagues the country was a mere desert. He then addrest the king of Couchin-china for assistance and protection, which he obtained, on condition, that Cambodia should be-come tributary to Couchin-china, which was agreed to, and he had an army of fifteen thousand to assist him by land, and three thousand in nimble gallies well manned and equipt, by sea.

The Siam army by land was above double the number of the Cambodians and Couchin-chinese in conjunc-tion, and their fleet above four times their number. The land army finding all the country desolate, as they marched into the borders of Cambodia, soon began to be in distress for want of provisions, which obliged them to kill their carriage beasts, and their elephants and horses which they could get no sustenance for, and the soldiers being obliged to eat their flesh, it being a diet they had never been used to, an epidemick flux and fever seized the whole army, so that in two months one half was not left, and those were obliged to retreat towards their own country again, with the Cambodian army always at their heels.

Nor had their navy much better success, for they coming to Ponteamass, sent in their small gallies to plun-der and burn the town, which they did effectually, and, of elephants teeth only, they burnt above two hundred tuns. The ships and jonks of burden lying in the road, above four miles from the town, the Couchin-chinese taking hold of that opportunity, attackt the large vessels, and burned some, and forced others ashore, whilst their gallies were in a narrow river, and could not come to their assistance till high-water that they could get out. The Couchin-chinese having done what they came for, retired, not caring to engage such a superior number, and the Siamers fearing famine in their fleet, steered their course for Siam with disgrace. In anno 1720, 1 saw several of the wracks,
and the ruins of the town of Ponteamass.

The City of Cambodia stands on the side of the great river, about fifty or sixty leagues from Ponteamass by land, or by water in the South-west monsoons. The country produces gold of twenty one caracts fine, raw silk at 120 dollars per pecul, elephants teeth at fifty to fifty-five dollars for the largest. The small are of different prices. They have also much sapan-wood, sandal-wood, agala-wood, sticklack, and many sorts of physical drugs, and lack for Japaning. They are very desirous of having a trade with the English; but they will not suffer the Dutch to settle fac-
tories in their country provisions of flesh and fish are plentiful and cheap, and are the only things that may be bought without a permit from the king. I have bought a bullock, that weighed between four and five hundred weight, for a Spanish dollar; and rice is bought at eight pence per pecul, which is about 140 lb. but poultry are scarce, because the country being for the most part woody, when the chickens grow big, they go to the woods, and shift for themselves. Tigers and wild elephants are numerous in the woods, and there are also wild cattle and buffa-loes, and plenty of deer, all which animals every body is free to catch or kill.

There are about two hundred Topasses, or Indian Portugueze settled and married in Cambodia, and some of them have pretty good posts in the government, and live great after the fashion of that country; but they have no priests, nor will any venture to go among them...

When I arrived at Ponteamass, an officer came on board, who could speak a little Portugueze. He brought a present of refreshments along with him, and advised me to send to the king, to give him an account of my arrival, and acquaint him that I designed to trade with his subjects by his permission, which I did, and in twelve days, re-ceived an answer that I might, but desired me to send some person up with musters of my goods, that he and his merchants might see them, and sent two Portugueze for interpreters, one to stay with me on board of my ship, while I staid, and the other to accompany the person I designed to send to him with the musters. On their arrival I dispatcht my second supercargo, with an equippage of twenty-five men, well armed with fuzees and bayonets, with two small bales of musters, and presents for the king, with instructions to let me hear from him once a week by an express, if no other opportunity offered.

After he arrived at the city, he had a large house allowed him for the accommodation of him and his retinue, and had store of provisions sent him, and many folks of distinction visited him, but ten days past before he could see his majesty, who at last received him in great state, sitting on a throne like a pulpit, with his face vailed below his eyes, and after many gracious speeches, some whereof were pertinent to my purpose, but many not, he gave me liberty and encouragement to trade.

... When the king bestows his favour on any person whom he has a mind to honour, which he never does without a considerable present, he presents the person with two swords to be carried always before him when he goes abroad in publick, one is the sword of state, and the other of justice. All people that meet him when those swords are carried before him, must give him place, and salute him by a set form of words, but if he meets with another court minion, then they compare the dates of their patents, and segniority takes place, and must be first saluted. Wherever those mandareens go in the country, they hold courts of justice, both civil and criminal, and they have the power of laying on fines, but they are paid into the king's treasury; but in capital crimes, his sentence is law, and speedy execution follows sentence.

The Cambodians are of a light brown complexion, and very well shaped, their hair long, and beards thin. Their women are very handsom, but not very modest. The men wear a vestment like our night-gowns, but nothing on their heads or feet. The women wear a petticoat reaching below the ancle, and on their bodies a frock made close and meet for their bodies and arms, and both sexes dress their hair."




N
Sunday, May 4, 2014 Author: Trường An

Hum trước nói hổng biết Thần Nông có gì đặc biệt hông, giờ mới đọc thấy người sinh tháng 4, tháng 10 âm lịch đều có mệnh thân Không Kiếp. =-= (Các bạn Song Tử và Nhân Mã sinh khoảng đầu chắc cũng dính chấu.)

Vầng, đừng hỏi tại xao.

Nếu rảnh chắc mềnh đi học cách an sao, chắc từ đó moi ra được kha khá liên hệ của tử vi phương Tây với phương Đông. (*nhấn mạnh* nếu rảnh)

---

Đọc ông Crawfurd có ý nghĩ rất to béo là... quả nhiên người Mỹ là hậu duệ của người Anh. =)) Cái kiểu chọn mục tiêu tấn công "ba con cùng béo vặt lông con nào" mà còn khệnh khạng, nói như chuyện đại nghĩa to nhớn nhắm, người ta toàn là "độc tài" mí lị "cai trị kém", chỉ có người Anh là siêu nhưn. Trong khi nhìn các vị cai trị Ấn Độ với Miến Điện, Nam Phi thiệt... hết ham. Miến Điện từ một nước mạnh gần nhất khối Đông Nam Á bị bần cùng hóa kiệt quệ vì bị vơ vét sạch tài nguyên xuất khẩu về Anh, chia rẽ phân hóa đến thành ra hậu quả như bây giờ. Ấn trở thành chỗ cung cấp bia thịt người lẫn tiền bạc cho Anh đi đánh các nước xung quanh, chết đói mỗi năm cả mấy triệu người. =__= Chỉ có mấy thuộc địa có người TQ sống mới khá lên được, đơn giản chỉ vì dân TQ giỏi thương nghiệp, giỏi biến báo, kiểu gì cũng thích ứng được tuốt. Vầng, nền cai trị siêu nhưn của người Anh thiệt là máy hút máu người chứ chả đùa.

Có 1 điểm mà Crawfurd nhắc đi nhắc lại là dân VN với sự phân công lao động của nhà nước trở nên... quá rảnh, nên chả có giỏi giang về cái gì. Ngay đọc trong sử cũng thấy, có việc là vua bảo quan bắt lính làm, không được đụng đến dân - Dân VN mà làm "khổ sai" kiểu mấy nước khác thì có mà đòi đốt nhà quan chứ đùa. Ngay cả đi đào kênh Vĩnh Tế cũng là bắt dân Chân Lạp đi đấy, theo Crawfurd thì có đến 10.000 người chết vì cái kênh này.

Quan điểm này là nói trên cái nhìn của thực dân, như đã thấy khi Pháp vào là lôi hết dân đi làm cho biết "khổ sai" là thế nào. Nhưng nhìn từ điểm khác thì ngay cả ở châu Âu cũng thế, nếu nhớ đến sự chuyên môn hóa cao độ, các công trường, nông trường thời kỳ đó vắt kiệt sức người như thế nào - Nên mới nảy sinh ra các phong trào bình dân đánh giết nhau như thế. - Vậy thì, Crawfurd cũng đã nói lên một phần sự thật: Sự "phát triển" của tư bản châu Âu phải là bóc lột sức người. - Trong khi đó, quan điểm cai trị của châu Á (đặc biệt là Nho học) là phải hoãn sức dân, là phải coi trọng con người bất kể tầng lớp.

Cho nên cũng không lạ khi NB (hay cả TQ sau này) bắt nhịp được rất mau vào guồng quay này, vì dân chúng... khổ quen rồi, phục tùng lãnh đạo và "hy sinh vì quốc gia" quen rồi. Người NB làm việc điên cuồng từ xưa tới giờ.

Cho nên mới có câu nhận xét "nếu không có đất đai màu mỡ và phụ nữ không làm việc thì đất này nó mới giàu", nghe kiểu ngược đời nhưng nghĩ ra thì hiểu là "phải quất roi vào mông cho chúng nó làm việc hết công suất" kiểu tư bản, một người làm việc bằng hai, gạo bán té le, đứa nào không làm ra tiền thì đói chết ráng chịu, thế mới mong nước giàu dân mạnh.

Xứ người ta đàn ông phải lo tề gia trị quốc, phụ nữ châu Âu thời kỳ này còn lo ăn chơi nhảy múa, có làm việc thì cũng chỉ đi vắt sữa với xén lông cừu, đơm nút cài khuy trong mấy nhà máy, việc nặng việc xa việc lớn đàn ông làm hết. Nên theo quy luật cạnh tranh để tồn tại thì có áp lực mới có phát triển. (Ngay cả ở NB, HQ, TQ bây giờ, áp lực làm việc cũng chỉ đặt lên nam giới, phụ nữ lấy chồng phần lớn bỏ việc ở nhà.)

Các bợn châu Âu đầu óc lạnh lùng là 1, còn đầy dã tính cạnh tranh là 2, nên nó như rứa.

(Mà vầng, đồng chí này là thầy thuốc được cử đi làm lãnh sự, chắc chửa biết nước nông nghiệp là thế nào. Một số nhận xét của Crawfurd là rút tỉa trong vài ghi chép khác trong thời điểm khác nên khá tréo cẳng ngỗng.)

---

Dạo này thích ngồi xem lại mấy phim cũ của ATV. So với phim TVB thường đậm tính giải trí thì phim ATV, đặc biệt là những bộ được đầu tư lớn, có tầm rộng hơn. Nên ngày xưa đài truyền hình thành phố chỉ mua và phát phim ATV. Điện ảnh truyền hình HK ra như bây giờ cũng vì trò mèo của TVB. Trước là mời vài diễn viên tầm trung của ATV về lăng xê thật mạnh, trả lương thật cao để thu hút hết diễn viên bên ATV về bên mình, rồi cho cả loạt diễn viên đó ngồi chơi xơi nước hay dìm hàng bằng mấy vai diễn trời ơi - Thế là 1 đích trúng 2 con chim, vừa lăng xê được diễn viên của mình, vừa hủy hoại được các diễn viên kia, có trở về ATV cũng chẳng còn danh tiếng như xưa. Thế là ATV xong đời.

Mà trên thị trường có cạnh tranh mới có phát triển, TVB một mình một chợ làm ăn như của nợ. =-=

Nói chuyện hông liên quan là dạo này nhìn mấy em diễn viên TQ với kiểu lông mày chữ bát rất là ngứa mắt. =-= Bộ chỉ biết thể hiện tâm trạng bằng cái vẻ mặt đó thôi hử?




NN
Thursday, April 24, 2014 Author: Trường An

Đang quởn nên... nhân ngày quốc tế lao động, hỏi mình cái gì đó đi: ask.fm/meotreocau

Hãy hỏi trước khi mềnh hết hứng xóa đi '_'

---

Đang tự hỏi mình mèo mù vớ cá rán hay khả năng "tiên tri" đã lên cao, hay mình bị theo dõi? =-= Tại xao chỉ vừa nghĩ đến là có người đưa đến nhét vào tay bảo làm?

---

Xiêm ghét VN vì Lào, mà VN bị nghi ngờ trong vụ của Lào là tại... Miến Điện, nói chung thì trách nhiệm là của... LVD. =-=

Gia Long trước khi mất bảo đừng gây chiến ngoài biên ải, xem ra LVD chả coi lời ấy vào đâu. Mà gây chiến được thì có thể không nói, nhưng xui 1 cái là sứ Miến Điện chưa kịp về, Anh đã đánh đến. Xiêm ôm một bung căm hờn lại còn bị Lào quậy thêm. Minh Mạng chắc căm LVD khủng khiếp vì chuyện này. Mà LVD đã cho là Anh đang chuẩn bị đánh Xiêm mà còn định bắt tay với Miến đánh Xiêm "hớt tay trên" Anh thì nguy cơ đánh nhau với Anh cực to.

Ông sứ MĐ bảo MM chủ quan chứ người chủ quan thực sự là LVD. Gì thì gì, tầm nhìn của GL vẫn xa tít mù tắp, dư biết là động quân ngoài ải lúc ấy nó phiền đến mức độ nào, mỗi hành động đều tác động ngược đến nội tình đất nước. Đọc LVD tính toán 1 hồi thì thấy rõ là tầm nhìn của LVD không hề cao.

(Theo những gì ông sứ MĐ ghi thì người viết Đại Nam thực lục thực sự về phe LVD, che giấu cho LVD cực kỳ nhiều thứ.)




N
Friday, April 18, 2014 Author: Trường An

Giới thiệu về "Journal of an embassy from the governor-general of India to the ...,"

John Crawfurd (1783-1868) là người Scotland, làm việc cho công ty Đông Ấn Anh quốc. Ông vốn học nghề y, rồi trở thành nhà quản lý và ngoại giao tại các thuộc địa. Từ năm 1808, Crawfurd được gửi tới châu Á, đầu tiên là Mã Lai, tham chiến chống Hà Lan ở Indonesia và hoạt động tại Java từ 1811 đến 1816. Sau khi Hà Lan lấy lại Java, Crawfurd trở về hoạt động cho Anh, đi lại ở vùng châu Á.

Năm 1821, Crawfurd đến Xiêm La và sau đó là Việt Nam. Cuộc gặp gỡ giữa nhà ngoại giao Anh và Xiêm La được coi là cuộc gặp quan trọng đầu tiên của Xiêm La với những nước đế quốc mạnh nhất thế giới - sau biến cố vào năm 1687. Cuộc gặp này đã đặt mối quan hệ ngoại giao giữa Anh và Xiêm La, dẫn đến việc Xiêm La trở thành đồng minh của Anh khi Anh đánh chiếm Miến Điện vào 1624. Và Hiệp định thương mại - quân sự giữa Anh và Xiêm La cũng được ký kết vào thời gian sau đó (1826).

Cuốn Journal of an Embassy to the Courts of Siam and Cochin-China, exhibiting a view of the actual State of these Kingdoms được Crawfurd xuất bản vào 1830, về những hiểu biết của ông với Xiêm La và Việt Nam trong những năm 1821-1822.

(Ở đây chỉ chuyển dịch phần nói về Việt Nam.)

---

Nói thêm về tình hình Xiêm La, Lào, Anh trong những năm này.

Hiệp định thương mại - quân sự mà Anh ký với Xiêm là hiệp định bất bình đẳng. 5 năm trước đó (1821), khi Anh quốc lần đầu gặp gỡ vua Nangklao, sự phản đối đã nổ ra khắp nơi. Và trong cuộc đụng độ đầu tiên giữa Xiêm La và thủy quân Anh, Xiêm La đã thua trận. Do đó, Xiêm bắt buộc phải trở thành đồng minh hỗ trợ cho Anh đánh chiếm Miến Điện. Xiêm phải đưa quân đội tham chiến ở Miến Điện, nhưng tướng Xiêm phá hỏng một trận đánh, khiến Anh buộc phải yêu cầu họ trở về để đỡ gây rắc rối thêm. Thấy không nắm được Xiêm, Anh bắt họ phải ký hiệp ước. Sau khi Anh đánh thắng Miến Điện vào năm 1826, Xiêm buộc phải ký thêm hiệp ước mở cửa tất cả cảng và để cho người Anh tự do ra vào. Hiệp ước này bắt đầu cho các nước khác nhảy vào, cùng bắt Xiêm ký thêm hiệp ước bất bình đẳng khác. Năm 1833, người Mỹ đến buộc Xiêm ký hiệp ước mở cửa.

Năm 1805, vua Anouvong được Xiêm thả về Lào (phần Vạn Tượng), do quá trình bị Xiêm bắt giữ làm con tin, Anouvong đã có ý định nghiêng về với VN. Năm 1824, nhân lúc Xiêm bị cuốn vào chiến tranh Miến Điện, Anouvong giữ Viêng Chăn, đánh vào Khorat ở Xiêm, tiến gần tới Bangkok. Xiêm đánh trả, Anouvong bị thua, chạy sang Việt Nam cầu cứu. Quân đội Xiêm đánh chiếm Viêng Chăn và san bằng thành thị này. Sau khi Xiêm rút đi, Anouvong trở lại Lào và bị bắt giữ, tra tấn tới chết.

Ở Chân Lạp, năm 1810, những anh em của nhà vua Chân Lạp xung đột, dẫn đến kết quả là 2 người anh em của vua Nặc Chăn chạy sang Xiêm La - trong đó có 1 người là Ang Duong (sử Việt gọi là Nặc Gion), sẽ trở thành vua Chân Lạp sau này. Nhờ có 2 hoàng thân này, Xiêm La nhiều lần tranh chấp với VN quanh ngai vàng Chân Lạp (như đã nói ở dưới). Năm 1847, Ang Duong trở thành vua Chân Lạp. Nhà vua này, trong dự tính thoát khỏi sự khống chế của Xiêm và Việt Nam, đã bí mật trở thành đồng minh với Pháp (Để rồi sau đó, khi Ang Duong qua đời, Cambodia lọt vào tay Pháp.)


Nên ở đây, ta thấy được nguyên do gần nhất cho xung đột Xiêm - Việt tại Chân Lạp là... ở Lào. Vua Lào đánh vào Xiêm, rồi lại được Việt Nam che chở. Tuy thái độ của VN trong chiến cuộc tại Lào cũng khá ngần ngừ, nhưng vì xung đột Xiêm-Lào này, khi Xiêm chiếm Viêng Chăn, vài đầu mục của Lào đã chạy về với VN, VN nhận phần đất họ dâng lập thành những tỉnh huyện Trấn Ninh, Trấn Tĩnh... Lúc này "biên giới" Xiêm và VN đã được đẩy đến sát cạnh nhau. Và xung đột lớn nhỏ đủ kiểu bắt đầu.

Có nhiều nghi ngờ rằng vua Vạn Tượng đánh Xiêm do bên VN xúi giục (dù ta bảo rằng không phải nhưng tất nhiên là người ta nghĩ thế dù phải hay không). Trong mối quan hệ chằng chịt này, nhiều lần các thủ lĩnh tại Lào, Chân Lạp dâng đất cho VN, tuy dưới danh nghĩa "trả ơn, cống nạp", "dâng tặng", thật ra là "nhờ" VN canh giữ phần đất ấy để giúp họ đánh lại Xiêm.

Nên cũng rất nhiều lần, bên VN... không "dám" nhận (Như Gia Long từng nói "Tham một miếng đất để họa ngàn đời"). Nhưng cũng phải nói, là các tướng của VN rất "gấu", hễ thấy là xúi vua nhận (ngay cả Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành vẫn xúi Gia Long nhận đất đánh Xiêm như thường). Xiêm càng ép thì VN càng gấu. Ngay trong năm 1821-1823, khi Lào và Chân Lạp muốn dâng đất, các quan đã đứng ngồi không yên bảo phải lấy đi, làm vùng đệm chống Xiêm, chứ chả lẽ để Xiêm tiến tới cửa nhà.

(Nhưng đã xui thì kiểu gì nó cũng xui. Ta không gây chiến thì cũng mang họa như không.)

---

Xem xét trên "kinh nghiệm" của Thái Lan, thì hành động "chống Pháp" là sai lầm đầu tiên của VN. '__' Thái Lan (cũng như Nhật Bản - hay ngay cả TQ) giữ được nền tự chủ tương đối của mình vì đã thể hiện sự hợp tác tối đa với người Tây. Vua Thái Lan thậm chí còn đặt ra cuộc thay đổi phong tục, xã hội nhưng hầu hết thất bại vì sự chống đối của quan dân, tuy vậy, vẫn chậm chạp đẩy Thái Lan về hướng Tây. Hơn hết, khi "bày tỏ" sự hợp tác, Thái Lan cũng tranh thủ được sự giúp đỡ của người Tây (Như trong cuộc chiến với VN, người Xiêm dùng súng của Anh, và MM phải cho người thám thính xem Anh có tham chiến hay không). Và Thái "sử dụng" người Tây để giành quyền chủ động ở Đông Nam Á, rồi khi những quốc gia châu Á khác lọt vào tay Tây, bị xà xẻo kiểu gì thì Thái vẫn còn... rất to (cái phần bị Pháp và Anh lấy dù chiếm đến 1 nửa nước Thái cổ thì vẫn là thuộc địa =.=).

Như vua Rama III nói trong di chiếu năm 1851: "Chiến tranh của ta với Miến Điện và Việt Nam đã kết thúc, chỉ còn mối đe dọa Tây phương còn lại. Chúng ta phải học sự đổi mới của họ vì lợi ích của chính chúng ta, nhưng không đến mức độ ám ảnh hay tôn thờ." - Và vua Rama IV là 1 người thân Tây nổi tiếng.

Cho nên phái "Chủ hòa" của VN chính là phái sáng suốt hơn hẳn "Chủ chiến". Kết quả của phái "chủ chiến" đại diện bởi Tôn Thất Thuyết và Hàm Nghi chính là VN rơi hẳn vào tay Pháp, mất nốt quyền tự chủ cuối cùng ở triều đình Huế. Càng (chủ động) đánh thì Pháp càng siết chặt, đập lại cho khỏi ngẩng đầu lên. Nhìn lại thì chính thành phần nhóm chủ hòa mới là những người chủ trương cải cách VN.

Vì kinh nghiệm của Thái, Nhật, TQ - và với sự "bạo động" của dân chúng dẫn đến kết quả chả ai nghe ai, trong nhà đánh nhau te tua trước khi đánh địch - mới dẫn đến kết quả thua thảm thiết.

(Ghi chú: Các tướng là thành phần rất nguy hiểm, lúc nào cũng thấy xúi đi đánh nhau. Cái tư tưởng "thà chết không hàng" này đem áp dụng rộng rãi lại cực kỳ có vấn đề. Mấy ổng chết thì chết, tự coi như "đền nợ nước", còn nước bỏ cho ai? Thêm ông vua nóng máu nữa là coi như... xong.)

Cứ chửi là "hông học hỏi nước ngoài" chứ cái kinh-nghiệm "chủ hòa", lót tay mời Tây vào rành rành đó. =))

---

Người làm chính trị, do đó, phải cực kỳ biến báo, ở cái mức độ sẵn sàng đạp đổ - tôn thờ bất cứ thứ gì, miễn là có lợi.

Từ kinh nghiệm của NB, Thái, cũng thấy bước đầu tiên để cải cách phải là sự chuyên chế càng cao càng tốt - hay ít nhất là phải có quyền khống chế, đạp bất cứ đứa nào cãi mình xuống. Có như vậy thì mới mong đi bày trò thay đổi, sửa đổi, xâm phạm tất tật thói quen, phong tục, thứ người ta tôn thờ mà không bị đạp xuống.

Thái thì dùng bạo lực chế người xưa nay, NB thì đi diệt hết phái đối lập rồi muốn làm gì thì làm. Chứ cái trò trống đánh xuôi, kèn thổi ngược chả làm được gì nên hồn hết.

(Ngay cả sự chuyên chế độc đảng cũng đã đào tạo ra tầng lớp ngoan như cún. TQ dùng "vũ khí" này để cải cách đã thành công.)





Copyright © Trường An. All rights reserved.