Solitude

.Mười sáu tuổi, tôi nằm dưới vòm cây, nghe tiếng hát của những thiên thần và yêu với tình yêu của người mất trí. More...

NN
Saturday, October 13, 2012 Author: Trường An

Toàn bộ vụ án Nguyễn Văn Thuyên, theo Đại Nam thực lục:

-Năm 1815:

Con là Văn Thuyên nhòm biết ý cha, thầm mang lòng phản trắc, bèn giao thông khách khứa, kết riêng bè đảng. Văn
Thành cũng không ngăn cấm. Khi ấy có người Thanh Hoa là Nguyễn Trương Hiệu tự đến xin làm môn khách của Văn Thuyên. ở không bao lâu, Văn Thuyên sai về. Trương Hiệu nói với đồng quận là Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Hựu Nghi rằng Văn Thuyên ngầm muốn nổi loạn, dùng thơ sai Trương Hiệu gọi bọn người trong quận là Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận, lời rất bội nghịch.

Thơ rằng: [Phiên âm]
Văn đạo ái Châu đa tuấn kiệt,
Hư hoài trắc tịch dục cầu ti.
Vô tâm cửu bảo Kinh Sơn phác ;
Thiện tướng phương tri Ký Bắc kỳ.
U cốc hữu hương thiên lý viễn ;
Cao cương minh phượng cửu cao tri.
Thử hồi nhược đắc sơn trung tể,
Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky.

[Dịch] Nghe nói ái Châu nhiều tuấn kiệt
Dành để chiếu bên ta muốn chờ.
Vô tâm ôm mãi ngọc Kinh Sơn
Tay sành mới biết ngựa Ký Bắc.
Thơm nghìn dặm lan trong hang tối ;
Vang chín chằm phượng hót gò cao.
Phen này nếu gặp tể [tướng] trong núi,
Giúp ta kinh luân chuyển hóa cơ.

Nghi sai Trương Hiệu đem thơ ấy cáo với Lê Văn Duyệt. Duyệt với Văn Thành vốn không ưa nhau, bèn đem thơ phản nghịch của Văn Thuyên dâng lên. Vua cho rằng sự trạng chưa được rõ rệt, hãy để đấy mà trả bài thơ ấy về.

Trương Hiệu nhân thế giữ bài thơ làm bằng cớ, thường đến Văn Thuyên đòi hối lộ. Văn Thuyên cho mãi không vừa. Hiệu bèn lẻn đợi Văn Thành lui chầu, đứng ở bên đường nắm lấy vạt áo mà hỏi mãi. Văn Thành bất đắc dĩ, bắt Trương Hiệu và Văn Thuyên đưa cho Quảng Đức tra hỏi, rồi tự rảo vào chầu, đem việc tâu lên. Vua sai đình thần xét án. Trương Hiệu nói đủ về tình trạng mưu phản của Văn Thuyên và đem môn khách của Văn Thuyên là Đỗ Văn Chương làm chứng. Hỏi thì Văn Chương đã về Gia Định. Vua bèn tha Văn Thuyên ở ngục ra mà hạ lệnh bắt Văn Chương về Kinh để đối chất.

-Năm 1816-

Ký lục Quảng Trị là Nguyễn Duy Hòa vào chầu, dâng sớ hạch Nguyễn Văn Thành rằng: “Con Văn Thành là Văn Thuyên âm mưu làm phản, sự cơ tiết lộ, Thành không biết đến cửa khuyết chịu tội mà còn áo triều , mũ triều nghênh ngang đứng ở trên các đình thần, như thế thì còn thể thống triều đình chi nữa. Vả triều đình là triều đình của liệt thánh, Hoàng thượng ta vâng trời chịu mệnh, giữ đất lên ngôi, chính triều đình để chính bách quan, chính muôn dân để chính bốn phương, khiến thần dân trong nước xem làm khuôn mẫu. Nay Văn Thuyên đã hạ đình nghị mà lại yên ổn ở nhà, pháp luật không được thi hành thì lấy gì mà tỏ bảo cho thiên hạ? Huống chi Văn Thành soạn điều luật, tự tiện bỏ mất điều kết giao cận thị, cử Trần Hựu là người bậy mà giấu tội cưỡng dâm với vợ người, âm kết bè đảng, dối người trên làm việc riêng, xây dựng
mồ mả cho mẹ thì vượt phép phạm phận, xét đạo của người bầy tôi, tội rất lớn vậy. Nay bệ hạ nếu thương là người có công, cũng nên giao cho công luận, lấy phép mà trị, rồi sau lấy ơn mà chu toàn cho, thế thì phép nước được tỏ bày mà kẻ gian thì biết sợ hãi”. Sớ giao xuống đình nghị. Nguyễn Văn Thành chỉ nhận một việc cử nhầm Trần Hựu, dâng sớ chịu tội, còn các khoản khác đều cãi cả. Vua nhân nói đến bài thơ nghịch của Văn Thuyên và dụ bầy tôi rằng: “ý thơ của văn Thuyên sao mà tiếm bội thế! Phàm có Lương Vũ đế làm vua rồi sau mới có tể tướng trong núi chứ. Văn Thuyên là người thế nào mà muốn được tể tướng trong núi?”. Tham tri Hình bộ là Võ Trinh giải theo nghĩa cưỡng ép. Vua nín lặng.

Ngày ất sửu, tế Trời Đất ở đàn Nam giao, trước là bộ Lễ tâu rằng: “Tế Nam giao là đại lễ, Nguyễn Văn Thành là người có tội không nên dự”. Vua nói: “Văn Thành là người trọng thần của nước, con là Văn Thuyên dù có càn bậy, nhưng việc còn mờ tối, há nên nghe thuyết một bên mà vội xa bề tôi huân cựu sao?”. Bèn sai Văn Thành vẫn dự lễ phân hiến. Sau vài ngày vua đương coi chầu, Văn Thành từ cửa Tả túc vào, lên thẳng điện lớn tiếng hô hào, người tả hữu cản lui xuống. Từ đấy mới cấm không được vào chầu nữa.

Bắt trói Tham tri Hình bộ Võ Trinh và Chưởng cơ Tống Phước Ngoạn mà hạ ngục. Đình thần đương họp tra Văn Thuyên. Văn Thuyên cùng Nguyễn Trương Hiệu thanh biện chưa xong. Có viên xá sai hình ty là Trần Ngọc Ngữ làm ngục lại nói với Võ Trinh rằng: “Trương Hiệu trước làm tịch sĩ cho Nguyễn Hựu Nghi, nay nhận là môn khách của Văn Thuyên là không đúng”. Trinh đem lời đó nói với Tống Phước Ngoạn, Ngoạn lòng muốn biện cho Văn Thuyên bị vu, bèn ngầm giục Ngữ đem việc phát giác. Vua sai đình thần nghiêm tra. Ngữ không trả lời được, đổ cho Trinh và Ngoạn mớm lời, hai bên bị tội.

Thu ấn Chưởng Trung quân của Nguyễn Văn Thành và giam Văn Thuyên vào ngục. Trước là Nguyễn Trương Hiệu tố cáo Văn Thuyên mưu phản, Văn Thuyên cho rằng thơ ấy không phải tự tay viết, cố cãi là vu. Kịp Đỗ Văn Chương làm chứng cho lời nói của Hiệu là đúng. Phạm Đăng Hưng tâu lên. Vua nói: “Văn Thuyên đã phục chưa?” Thưa rằng chưa. Vua nói: “Nó có lòng làm phản, sao được già miệng thế?” Đăng Hưng tâu rằng: “Văn Thuyên tự cho mình là con công thần, bệ hạ không nỡ giết và bọn thần ngửa theo lòng thánh, không dám hết phép tra trị, nên mới già miệng là do cậy mình vậy”. Vua nín thinh. Sáng hôm sau bèn sai Lê Văn Duyệt tra hỏi. Văn Thuyên quả phục, do đó Văn Thành sợ hãi xin chịu tội. Vua bèn đưa tờ biểu ra cho bầy tôi xem. Đăng Hưng tâu nói: “Văn Thành dâng biểu này, lời nói úp mở, muốn lấy khôn vặt đánh
lừa triều đình, việc xin chịu tội là không phải thực lòng vậy”. Vua nói: “Lấy tình thực mà nói, Văn Thành không phải là người phản bạn, chỉ có lỗi là không biết con mình là ác, mà lại che lỗi cho, ấy là muốn khêu lòng giận cho mọi người, cũng ngu lắm vậy có gì là khôn đâu?”. Bầy tôi xin hạ ngục Văn Thành.

Vua nói: “Văn Thành vốn là kẻ có tội ; nhưng thể thống đối với đại thần, cũng nên có cách xử trí”. Bèn sai thu ấn và khiến về ở nhà riêng”. Văn Thành mất chức. Vua bảo bầy tôi rằng: “Văn Thành thân làm đại thần mà dung túng cho con kết nạp môn khách, là hiếu danh ư ? Hay ý muốn làm gì ? Có người tôi như thế xử trí thực khó. Nếu không bảo toàn được công thần thì cũng không phải là việc hay của trẫm, thế mới khó chứ!”.

Nguyễn Văn Thành phải tội tự sát. Trước là Bắc Thành xử án Lê Duy Hoán, án làm xong đưa về Kinh, lại sai bộ Hình hỏi lại. Duy Hoán bèn nói Văn Thuyên có âm mưu với hắn gửi thư bảo làm phản. Bộ Hình đem việc tâu. Vua nói: “Văn Thuyên ở trong ngục làm sao bảo người khác vì mình mà làm phản được? Lời ấy lại giống trẻ con nói đùa, vậy sai các nội thần hội bàn xét đến cùng cho rõ tội trạng”. Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đình Đức đều nói: “Bọn kia ngầm mưu làm càn ngay từ ngày Văn Thành còn làm Tổng trấn Bắc Thành, chứ không phải đợi khi đã phải tội rồi sau mới gởi thư”. Vua nhân bảo Phạm Đăng Hưng rằng: “Trẫm từ lúc đất một thành, binh một lữ, gian nan trăm trận để có ngày nay không phải là dễ dàng. Nguyễn Văn Thành ngôi cao nhất trong hàng bầy tôi, con đỗ Hương cống mà lại đi giao thiệp bậy mà kết bè đảng,
toan muốn làm gì? Xưa Hoài Nam vương nhà Hán chiêu nạp nhiều tân khách, sau đến bị tội phải giết. Từ xưa bề tôi gian giảo nhòm ngó ngôi vua, đại khái đều như thế cả. Đăng Hưng tâu rằng: “Kẻ sĩ áo vải còn không nên giao du bậy huống chi là con cháu công thần? Tội vạ ngày nay của Văn Thành là tự làm ra”. Vài ngày sau, đình thần lại tâu rằng: “Xét lại lời cung của Duy Hoán thì tình trạng làm phản của cha con Văn Thành đã rõ. Xin trị tội”.Vua nói: “Trẫm đãi Văn Thành không bạc, nay hắn tự mình làm nên tội, thì phép công của triều đình trẫm cũng không thể làm của riêng được”. Bèn sai bắt Văn Thành và con giam ở nhà quân Thị trung. Bầy tôi họp ở Võ công thự để xét hỏi Văn Thành. Hỏi: “Có làm phản không?” Thành nói: “Không”. Hỏi : “Có dự biết không?” Thành nói: “Không”. Văn Thành trả lời rồi đi ra, sắc mặt bừng bừng, trở về nhà quan, nói với Thống chế Thị trung là Hoàng Công Lý rằng: “án đã xong rồi, vua bắt bề tôi chết, bầy tôi không chết không phải là trung”. Rồi Thành đi nằm hồi lâu, uống thuốc độc chết. Việc tâu lên, vua triệu Hoàng Công Lý hỏi rằng: “Văn Thành khi chết có nói gì không?” Công Lý đem hết lời Thành nói thưa lên. Vua giận nói rằng:
“Văn Thành không biện bạch mà chết, sự nhơ bẩn càng rõ rệt”. Bỗng có quân lại nhặt được tờ di chiếu trần tình của Văn Thành ở nhà quân đem dâng. Vua cầm tờ biểu khóc to lên đưa cho bầy tôi xem mà dụ rằng: “Văn Thành từ lúc trẻ theo trẫm có công lao to. Nay nhất đán đến nỗi chết, trẫm không bảo hộ được ấy là trẫm kém đức”.

Nhân quay hỏi Phạm Đăng Hưng rằng: “Văn Thành chết, nên lấy lễ nào mai táng”. Đăng Hưng thưa: “Táng như thường dân”. Vua yên lặng. Sai một cai đội Trung quân và 30 binh lính làm việc tang, cho 500 quan tiền cấp trả mũ áo, cho thêm ba cây gấm Tống, 10 tấm vải và 10 tấm lụa. Các con Thành bị giam tha ra hết.

Lê Duy Hoán và Nguyễn Văn Thuyên bị giết. Nguyễn Văn Thành chết rồi, đình thần đem án phản nghịch dâng lên. Duy Hoán và Văn Thuyên đều bị xử lăng trì; Võ Trinh bị tội a tòng, xử trảm giam hậu; Tống Phước Ngoạn bị tội kiện điêu, xử trượng và cách chức; Trần Ngọc Nhữ bị tội vu cáo, xử tội lưu tột bậc. Nguyễn Trương Hiệu cáo giác, thưởng 500 quan tiền. Nguyễn Văn Nhân xin đình thưởng, vua không nghe.

Vụ án Đặng Trần Thường:

Đặng Trần Thường và Nguyễn Gia Cát có tội, đều bị bỏ ngục. Trước đây Thanh Nghệ và Bắc Thành tâu sự tích bách thần. Vua sai Gia Cát bàn tâu. Gia Cát ủy cho Thiêm sự Vũ Quý Dĩnh chủ trương việc ấy và sai con là Nguyễn Dục, em vợ là Cống sĩ Tô Văn Dâu ngầm giúp đỡ. Quý Dĩnh làm sắc giả, phong cho ông cha và bố mẹ vợ mình làm phúc thần. Bọn Dục cũng dựa nhau làm gian, khiến điển thờ đảo lộn nhầm lẫn rất nhiều. Đến nay thành thần hạch tâu hơn 560 đạo sắc. Vua sai đình thần tra xét. Bọn Quý Dĩnh đều xin phục tội. Lại có tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc năm Giáp ngọ vào lấn phương Nam, khi về bị chết đường, người Trịnh phong làm phúc thần. Trần Thường trước ở thành tào giấu việc ấy đi, liệt lẫn vào điển thờ, Gia Cát theo mà gia tặng là “Thanh danh văn võ thánh thần đại vương”. Đến khi việc phát, Trần Thường sợ hãi, xin chịu tội. Vua nói: “Đăng trật cho bách thần là điển lễ lớn ở buổi đầu của nhà nước. Bọn ngươi làm gian trá, dối người khinh thần, không tội nào lớn bằng. Vả cuộc biến loạn năm Giáp ngọ Hoàng Ngũ Phúc chính là thủ ác, nay lại cất lên mà cho là thần, thế chẳng phải là bán tước sao? Việc ấy còn nỡ làm thì việc gì lại chẳng nỡ!”. Giao xuống Hình bộ nghị tội. Phạm Như Đăng cho là tội Trần Thường nên cách chức, tội Gia Cát nên xử tử. Lê Bá Phẩm cho rằng Trần Thường và Gia Cát tội cũng như nhau, cùng tội mà phạt khác, thì không đúng hình, đều xử tội chết. Nghị ấy tâu lên, vua sai đình thần xét lại. Nguyễn Văn Thành nói dầu rằng Trần Thường, Gia Cát vẫn là có tội, nhưng lấy công chuẩn lỗi thì còn có bát nghị; bọn Lê Quang Định, Nguyễn Đức Huyên, Nguyễn Hữu Thận đều chủ trương theo lời nghị ấy; bọn Trịnh Hoài Đức, Trần Văn Trạc lại theo lời nghị của Như Đăng. Bàn mãi không quyết định được. Khi tâu lên, vua nói: “Bá Phẩm nói phải”. Vua theo lời Phẩm mà phạt Văn Thành. Quý Dĩnh bị tội trảm; Trần Thường và Gia Cát đều giam hậu; bọn Dục bị tội đồ, những người khác đều giáng và phạt khác nhau. Tham quân Lê Chấn cũng vì nhận riêng một đạo thần sắc phần hoàng bị giáng làm điển quân. Nhân đó hạ chiếu thu lại thần sắc, rồi sai quan Lễ bộ bàn lại việc phong tặng.

Tha tội chết cho Đặng Thần Thường và Nguyễn Gia Cát. Vua xét danh sách thu thẩm, nghĩ thương bọn Đặng Trần Thường có công tha cho. Xóa tên trong quan tịch, cho ở Kinh.

-Năm 1816-

Đặng Trần Thường có tội bị giết. Trước Đặng Trần Thường đã được tha, lưu lại Kinh. Nhân vì trước ở Bắc Thành, ẩn lậu thuế đầm ao đinh điền, Lê Chất phát ra lại bị hạ ngục. Trần Thường uống rượu nói xằng, phần nhiều oán trách. Đình thần thẩm án đều cho rằng nên giết. Bèn xử giảo và tịch thu gia sản.

Nhà Nguyễn chép sử kỹ thế này, cho nên mới thấy... triều đình VN thật ghê gớm. Mà người chép sử VN (vầng, chính bác Trần Trọng Kim chứ ai) có "trình độ" bẻ cong lịch sử tài tình. Nguyễn Văn Thuyên bị xử tội chết vì Lê Duy Hoán chứ có phải vì thơ đâu.

Tính bè phái trong những vụ kiểu này quá rõ luôn. Nhưng dím vụ Hoàng Ngũ Phúc mà nói chung chung "phong thần" làm việc bị hiểu sai đi chục bậc. Đặng Trần Thường cuối cùng bị giết cũng là vì Lê Chất lôi ra vụ tham ô đấy chứ.

Có nhiều vụ như vụ Cao Bá Quát làm sai lè bị xử chả thấy oan nỗi gì (Vầng, bây giờ ai chấm thi thấy "liên tài" mà đi sửa bài thi đi thì có bị mời về vườn không) mà nhiều người nói như đúng rồi. Cho nên việc ăn bớt sử sách cũng chả lạ. Bớt 1 dòng chạy xa trăm dặm.




Văn học là gì
Wednesday, September 19, 2012 Author: Trường An

Cuốn “Văn học là gì?” là một tác phẩm đặc sắc của Jean-Paul Sartre. Cuốn “Văn học là gì?” của J-P. Sartre gồm ba phần được kết nối với nhau bằng những câu hỏi liên hoàn: PHẦN MỘT: VIẾT LÀ GÌ? PHẦN HAI: VIẾT ĐỂ LÀM GÌ? PHẦN BA: VIẾT CHO AI? Sẽ rất khó khăn nếu muốn “tóm lược” những ý tưởng của Sart trong tác phẩm độc đáo này, mà có rất nhiều những kết luận về phương diện triết học và văn học nhưng nó chặt chẽ và đúng đắn như những định lý Toán học. Vì thế, người viết chỉ xin trích lại những đoạn văn tâm đắc. Trước hết, đó là “Nghệ thuật văn xuôi”, qua đó là sự trả lời cho câu hỏi “Viết là gì?”:viết là một cách thức nhất định của khát vọng tự do; nếu anh đã bắt đầu, thuận tình hay bắt buộc, thì tức là anh đã dấn thân” - dấn thân bảo vệ tự do”. Và tiếp đó là sự trả lời cho hai câu hỏi kế tiếp: “Viết để làm gì?” và “Viết cho ai?”. Thực ra, ba câu hỏi trên luôn luôn được đặt ra đồng thời và sự trả lời cũng được thể hiện xen kẽ, đan cài nhằm hướng tới nói về vai trò của nhà văn: “Một trong những động lực của sáng tạo nghệ thuật chắc chắn là cái nhu cầu tự cảm thấy mình có vai trò cốt yếu đối thế giới”:

“Nghệ thuật văn xuôi biểu hiện bằng lời, bản chất tự nhiên của nó là mang ý nghĩa: nghĩa là các từ trước hết không phải là những vật, mà là những tên gọi các vật. Vấn đề trước hết không phải ở chỗ tự chúng khiến ta thích hay không thích, mà là chúng có chỉ ra đúng đắn một sự vật nào đó trên thế giới hay một khái niệm nào đó. Nên nhiều khi ta có một ý tưởng nào đó từng được biết đến do được nghe bằng lời nhưng chẳng làm sao nhớ ra lấy một từ trong những từ đã truyền đạt nó đến cho ta. Văn xuôi trước hết là một tư thế trí tuệ: sẽ là văn xuôi khi, như Valéry nói, từ đi qua cái nhìn của ta như thủy tinh xuyên qua ánh mặt trời. Khi gặp hiểm nguy hay khó khăn, người ta chộp lấy bất kỳ dụng cụ nào. Hiểm nguy qua rồi, thậm chí không còn nhớ đấy là chiếc búa hay khúc củi. Vả chăng người ta cũng chẳng bao giờ biết được là cái gì: người ta cần đúng ngay một sự kéo dài cơ thể mình ra, một phương cách vươn bàn tay mình lên cho đến cái cành cây cao nhất; đấy là một ngón tay thứ sáu, một cái chân thứ ba, tóm lại là một chức năng thuần túy ta đã đồng hóa được. Đối với ngôn ngữ cũng vậy: nó là cái vỏ mai của ta và những cần ăng-ten của ta, nó bảo vệ ta chống lại những kẻ khác và báo cho ta biết về họ, đó là các giác quan của ta được kéo dài ra. Ta ở trong ngôn ngữ như ở trong cơ thể mình; ta cảm nhận nó một cách tự phát khi vượt qua nó nhằm tới những mục tiêu khác, giống như ta cảm nhận bàn tay, bàn chân ta; khi người khác sử dụng nó, ta lại cảm nhận nó như những tứ chi của người khác. Có từ ta sống, và có từ ta gặp. Nhưng trong cả hai trường hợp, đều là trong quá trình một sự xâm phạm, hoặc là của tôi vào những người khác, hoặc là của người khác vào tôi. Lời nói là một khoảnh khắc đặc biệt nhất định của hành động và không thể hiểu nó bên ngoài hành động. Một số người mắc chứng mất ngôn ngữ bị mất khả năng hành động, hiểu các tình huống, quan hệ bình thường với người khác giới. Trong cốt lõi của chứng mất khả năng thực dụng ấy, tình trạng ngôn ngữ bị phá hủy dường như chỉ là sự sụp đổ của một trong những cấu trúc: cấu trúc tinh vi nhất và rõ ràng nhất. Và nếu văn xuôi mãi mãi chỉ là công cụ đặc quyền của một công cuộc nhất định, nếu nhìn ngắm các từ một cách vô tư là việc riêng chỉ của nhà thơ thôi, thì ta có quyền trước hết hỏi nhà văn xuôi: anh viết vì mục đích gì? anh đang lao vào công cuộc gì đây và tại sao công cuộc ấy lại phải vận đến việc viết? Và, bất kể thế nào, công cuộc ấy không thể chỉ nhằm đến một sự nhìn ngắm thuần túy. Bởi trực giác thì im lặng mà cứu cánh của ngôn ngữ lại là truyền đạt. […] Nói tức là hành động: mọi sự vật được gọi tên không còn hoàn toàn nguyên như nó trước đây nữa, nó đã mất đi sự trong trắng vô tư của mình. […] Như vậy, khi nói tôi đã bóc lộ cảnh huống ra bằng chính dự định của tôi muốn biến đổi nó; tôi bóc lộ nó ra cho chính tôi và cho những người khác để mà biến đổi nó, tôi đánh đúng vào tâm nó, tôi xuyên thủng nó và cắm chặt nó lại đấy dưới mắt mọi người; bây giờ tôi tùy nghi với nó, cứ mỗi từ nói ra, tôi dấn mình thêm một chút vào thế giới, và cùng lúc, tôi trồi nhô lên khỏi cái thế giới ấy chút nữa, bởi tôi vượt qua nó hướng về tương lai. Như vậy người viết văn xuôi là một con người đã chọn lấy một phương cách hành động thứ yếu nhất định, có thể gọi là hành động bằng cách bóc lộ. Như vậy sẽ là hợp lý để đặt ra với anh ta câu hỏi thứ hai này: anh muốn bóc lộ ra phương diện nào của thế giới vậy? anh muốn đem lại sự biến đổi nào cho thế giới bằng sự bóc lộ đó? Nhà văn “dấn thân” biết rằng lời nói là hành động: anh biết rằng bóc lộ tức là làm biến đổi và người ta chỉ có thể bóc trần khi có ý đồ biến đổi. Anh ta đã từ bỏ cái mơ ước không thể có được vẽ nên một bức tranh không thiên vị về xã hội và về thân phận con người. Con người là sinh vật chẳng ai có thể giữ sự vô tư với nó, đến cả Thượng đế cũng chịu. Bởi Thượng đế, nếu quả Người có tồn tại, thì như một nhà thần bí đã thấy rất đúng, cũng sẽ phải ở trong tình thế đối với con người. Con người cũng là sinh vật không thể thậm chí nhìn thấy một tình thế mà không biến đổi nó, bởi vì cái nhìn của anh chốt chặt, phá hủy, hay tạo nặn, hay đúng như sự vĩnh hằng, biến đổi đối tượng tự trong chính nó. Chính là bằng tình yêu, hận thù, căm giận, sợ hãi, niềm vui, bất bình, thán phục, hy vọng, tuyệt vọng mà con người và thế giới bộc lộ ra trong tất cả sự thật của nó. Dĩ nhiên nhà văn dấn thân có thể xoàng xĩnh, thậm chí anh ta tự ý thức được điều đó, nhưng không ai có thể cầm bút viết mà không có ý đồ hoàn toàn thành công, nên sự khiêm tốn của anh ta khi dự tính tác phẩm không thể khiến anh không muốn xây dựng nó như là nó sẽ gây chấn động lớn. […] ở phần sau chúng tôi sẽ cố xác định mục đích của văn học có thể là gì. Nhưng ngay từ bây giờ đã có thể kết luận rằng nhà văn đã chọn lấy nhiệm vụ bóc trần thế giới và đặc biệt là con người cho những người khác để họ nhận lấy hoàn toàn trách nhiệm của mình trước những vật đã được bóc trần ra như vậy. Không ai được coi như là không biết luật bởi vì đã có một quy tắc và luật là thứ đã được viết ra, sau đó anh cứ tha hồ mà vi phạm, nhưng phải biết anh có thể gặp những nguy cơ gì. Cũng như vậy chức trách của nhà văn là làm sao cho không ai không biết rõ thế giới và không ai có thể nói là mình ngây thơ trong đó. Và bởi vì anh đã từng một lần dấn mình vào thế giới của ngôn ngữ, anh không thể vờ là anh không biết nói: nếu anh đã đi vào thế giới các ý nghĩa, thì còn làm gì được để mà thoát ra; hãy để cho các từ cứ tự do mà tổ chức lại với nhau, chúng sẽ làm thành các câu và một câu chứa toàn bộ ngôn ngữ và phản chiếu toàn bộ thế giới; ngay cả sự im lặng cũng mang ý nghĩa trong tương quan với các từ, cũng giống như quãng nghỉ trong âm nhạc, nhận lấy ý nghĩa của nó từ các nốt bao bọc quanh nó. Cái im lặng đó là một khoảnh khắc của ngôn từ; nín thinh không phải là câm, mà là từ chối nói, tức cũng là vẫn nói đấy. Cho nên nếu nhà văn đã chọn nín lặng về một phương diện nào đó của thế giới, hoặc nói như một thành ngữ diễn đạt r
ất đúng: lờ tịt đi, thì ta có quyền đặt ra cho anh ta câu hỏi thứ ba: tại sao anh lại nói cái này chứ không phải cái kia, và - bởi vì anh nói để mà biến đổi - tại sao anh muốn thay đổi cái này chứ không thay đổi cái kia?”.

“Như vậy, viết vừa là bóc lộ thế giới ra vừa đề xuất cái thế giới ấy như một nhiệm vụ đối với tính hào hiệp của con người. Là cầu viện đến ý thức của người khác để tự mình được xác nhận là cốt yếu đối với sự toàn vẹn của tồn tại; là muốn trải nghiệm sự cốt yếu ấy qua những con người trung gian; song mặt khác vì thế giới thực chỉ biểu lộ ra trong hành động, vì ta chỉ có thể cảm thấy mình đang hiện diện ở đó bằng cách vượt qua nó để mà biến đổi nó, thế giới của nhà tiểu thuyết sẽ thiếu mất bề dày nếu ta không khám phá ra nó trong một động tác để siêu nghiệm hóa nó. Ta vẫn thường nhận thấy điều này: tỷ trọng tồn tại của một sự vật, trong một truyện kể, không do số lượng và độ dài của những mô tả giành cho nó, mà do độ phức tạp của các mối liên hệ với các nhân vật khác nhau; càng bị nhào trộn, nhặt lên rồi lại đặt xuống nhiều hơn, tóm lại càng bị các nhân vật vượt qua trên con đường tiến tới các mục đích của họ nhiều hơn, thì nó càng có vẻ sống thực hơn. Thế giới tiểu thuyết, tức tổng thể sự vật và con người, là vậy: muốn cho nó đạt tới độ đậm đặc cao nhất, thì việc người đọc khám phá ra nó bằng bóc lộ - sáng tạo cũng phải là một sự dấn thân tưởng tượng vào hành động; nói cách khác, ta càng ham muốn biến đổi nó bao nhiêu, nó sẽ càng sống động bấy nhiêu. Sai lầm của chủ nghĩa hiện thực là đã tưởng rằng sự chiêm ngưỡng làm phát lộ thực tại và do đó có thể vẽ ra một bức tranh vô tư về thực tại đó. Làm sao có thể như vậy được, bởi vì ngay cảm nhận đã là thiên vị rồi, bởi vì chỉ việc gọi tên ra thôi cũng đã làm biến đổi đối tượng rồi? Và làm sao nhà văn muốn mình thành cốt yếu đối với thế giới, lại có thể cũng muốn thành cốt yếu với cả những bất công chứa đựng trong thế giới ấy? Vậy mà anh ta lại phải hành động như thế đấy: song nếu anh ta chấp nhận là người sáng tạo nên những bất công, thì đấy là trong một chuyển động vượt qua chúng hướng đến xóa bỏ chúng đi. Còn về phần tôi là người đọc, nếu tôi sáng tạo ra và duy trì một thế giới bất công, tôi chỉ có thể làm điều đó nếu tôi không phải chịu trách nhiệm về việc ấy. Và toàn bộ nghệ thuật của tác giả là nhằm buộc tôi phải sáng tạo ra cái mà anh bóc lộ, tức là, buộc tôi phải liên lụy.[…]… không thể làm nên những tác phẩm hay bằng những tình cảm tốt đẹp, nhưng đấy phải là cái nền của tác phẩm, cái chất dệt nên những con người và những sự vật: dẫu đề tài là gì đi nữa, thì một vẻ thanh thoát cốt yếu vẫn phải bàng bạc trong từng trang và nhắc nhở rằng tác phẩm không bao giờ là một dữ liệu tự nhiên, mà là một đòi hỏi và một hiến tặng. Và nếu người ta trao cho tôi cái thế giới ấy với những điều bất công của nó, thì không phải để tôi ngắm nhìn những bất công đó một cách lạnh lùng, mà để tôi đem nỗi bất bình của mình đến đánh thức chúng dậy, để tôi bóc lộ chúng ra và sáng tạo chúng với đúng cái bản chất bất công của chúng, nghĩa là như những lầm-lỗi-phải-tiêu-diệt-đi. Như vậy thế giới của nhà văn chỉ bộc lộ ra trong tất cả chiều sâu của nó dưới sự xem xét, thán phục, bất bình của người đọc; và tình yêu hào hiệp là thề nguyện gìn giữ, bất bình là thề nguyện biến cải, còn thán phục là thề nguyện noi gương; dẫu văn học là một chuyện, luân lý là chuyện khác, song ở tận cùng của đòi hỏi thẩm mỹ ta vẫn nhận ra đòi hỏi đạo đức. Bởi vì người cầm bút, ngay từ việc anh bỏ công cầm bút, đã thừa nhận tự do của những người đọc của mình, và bởi vì người đọc, chỉ riêng từ việc anh ta mở trang sách ra, đã thừa nhận tự do của nhà văn, cho nên tác phẩm nghệ thuật, dẫu được xem xét từ góc độ nào, vẫn là một hành vi tin cậy ở niềm tự do của con người. Và bởi vì người đọc cũng như tác giả chỉ thừa nhận niềm tự do ấy để mà đòi hỏi nó phải biểu lộ ra, cho nên có thể coi tác phẩm là một sự trình bày tưởng tượng về thế giới như một đòi hỏi tự do của con người. Từ đó, trước hết, không làm gì có văn học đen, bởi dù người ta có mô tả thế giới tăm tối đến đâu, thì vẫn là mô tả để cho những con người tự do cảm thấy niềm tự do của mình ở trước mặt mình. Cho nên chỉ có những cuốn tiểu thuyết hay và những cuốn tiểu thuyết tồi. Và tiểu thuyết tồi là tiểu thuyết toan gây thích thú bằng phỉnh nịnh trong khi tiểu thuyết hay là một đòi hỏi và một tin cậy. Song, quan trọng hơn nữa, là: cái dáng vẻ duy nhất của thế giới mà người nghệ sĩ có thể trình bày với những niềm tự do kia để cùng chúng tạo nên được hòa hợp là dáng vẻ của một thế giới ngày càng thấm đẫm tự do. Không thể quan niệm được rằng công cuộc khởi động dây chuyền lòng hào hiệp đó của nhà văn lại là để nhằm tôn vinh một bất công và người đọc tận hưởng được niềm tự do của mình khi trong một tác phẩm tán thưởng, chấp nhận hay chỉ đơn giản né tránh lên án việc con người nô lệ hóa con người.[..] Bởi không thể đòi hỏi tôi, trong khi tôi biết tự do của tôi gắn bó máu thịt với tự do của những người khác, lại sử dụng tự do ấy để tán dương việc nô lệ hóa một ai đó trong số những người ấy. Vậy nên, dù anh là người viết tiểu luận, viết đả kích, châm biếm hay tiểu thuyết, dù anh chỉ nói về những niềm say mê cá nhân hay anh công kích cả chế độ xã hội, nhà văn, là con người tự do nói với những con người tự do, chỉ có một đề tài: tự do.

Do đó, mọi ý định nô lệ hóa người đọc tác hại chính ngay đến nghệ thuật của nhà văn. […] Đúng vào lúc những người khác, may thay là số đông, hiểu rằng tự do cầm bút bao hàm tự do công dân. Người ta không viết cho những người nô lệ. Nghệ thuật văn xuôi liên đới với cái chế độ duy nhất ở đó văn xuôi còn giữ được một ý nghĩa: dân chủ. Khi cái này bị uy hiếp, thì cái kia cũng bị uy hiếp. Và chỉ bảo vệ nó bằng ngòi bút thôi thì chưa đủ. Đến một ngày nào đó ngòi bút buộc phải dừng lại và lúc đó nhà văn phải cầm súng. Vậy đó, dẫu anh đến đây bằng cách nào, dẫu anh đã truyền bá những chủ kiến gì, thì văn học vẫn ném anh vào cuộc chiến; viết là một cách thức nhất định của khát vọng tự do; nếu anh đã bắt đầu, thuận tình hay bắt buộc, thì tức là anh đã dấn thân.

Người ta sẽ hỏi: dấn thân vào cái gì? Đơn giản thôi, dấn thân bảo vệ tự do. Làm người canh giữ những giá trị lý tưởng chăng, như người tăng lữ Benda trước vụ phản bội, hay là bảo vệ niềm tự do cụ thể và thường nhật, bằng cách tham gia các cuộc đấu tranh chính trị và xã hội? Câu hỏi này liên quan đến một câu hỏi khác, có vẻ thật đơn giản, nhưng người ta chẳng bao giờ đặt ra: “Viết cho ai?”.

Và ta có thể tìm thấy phần nào lời giải đáp trong đoạn văn sau: “Bởi vì đề tài của văn học xưa nay luôn luôn là con người ở trong thế giới. Chỉ có điều, khi nào cái công chúng tiềm tàng còn giống như một vùng biển tối bao quanh cái bãi cát nhỏ sáng rực là công chúng thực, thì nhà văn dễ nhầm những lợi ích và những nỗi lo toan của con người với những lợi ích, lo toan của một nhóm nhỏ được ưu đãi hơn. Song nếu công chúng đồng nhất với cái phổ biến cụ thể, thì nhà văn sẽ viết thực sự về toàn thể nhân quần. Không phải về con người trừu tượng của mọi thời đại và cho một người đọc không có năm tháng, mà về toàn vẹn con người của thời đại mình và về những người cùng thời của mình. Chính vì thế sự tương phản văn học giữa tính chủ quan trữ tình và vai trò chứng nhân khách quan sẽ được vượt qua. Cùng dấn thân vào cuộc phiêu lưu chung với những người đọc của mình và cũng như họ nằm chung trong một tập đoàn không có kẽ nứt, trong khi nói về họ nhà văn sẽ nói về chính mình, trong khi nói về chính mình, anh sẽ nói về họ. Vì chẳng còn một thứ kiêu ngạo quý tộc nào buộc anh phải phủ nhận rằng anh nằm trong tình thế, anh sẽ không còn tìm cách bay lượn bên trên thời đại của mình và chứng thực điều đó trước vĩnh hằng; mà vì tình thế của anh sẽ là phổ biến, anh diễn đạt những niềm hy vọng và những nỗi căm giận của mọi con người, và qua đó, bày tỏ toàn vẹn, nghĩa là không như một sinh linh siêu hình, theo kiểu người tăng lữ trung cổ, cũng không như một sinh vật tâm lý, theo kiểu các nhà cổ điển của chúng ta, mà như một toàn thể từ thế giới nổi lên giữa khoảng không và chứa đựng trong mình tất cả các cấu trúc ấy trong một sự thống nhất không thể phân rã của thân phận con người; văn học sẽ thực sự mang tính nhân loại học, trong ý nghĩa toàn vẹn của từ này”.

Sự trả lời câu hỏi “Viết cho ai?” dường như lại đưa ta trở về câu hỏi ban đầu “Viết là gì?”, hay nói cách khác, đưa ta hướng vào vấn đề trung tâm “Văn học là gì?”: “Vì sự sáng tạo chỉ có thể hoàn tất trong việc đọc, vì người nghệ sĩ phải giao phó cho một người khác hoàn tất cái anh ta đã bắt đầu, vì chỉ thông qua ý thức của người đọc anh ta mới có thể trở thành cốt yếu đối với tác phẩm của mình, nên mỗi tác phẩm văn học là một tiếng gọi. Viết, tức là gọi người độc giả để họ chuyển thành sinh tồn khách quan cái tôi đã thực hiện việc bóc lộ ra bằng phương cách ngôn ngữ. Như vậy tác giả viết để mời gọi tự do của người đọc và anh trưng tập nó để làm cho tác phẩm của mình hiện tồn. Nhưng anh không chỉ dừng lại ở đó, anh còn đòi người đọc trả lại cho anh niềm tin mà anh đã cho họ, đòi họ công nhận sự tự do sáng tạo của anh và đến lượt họ khêu gợi nó dậy bằng một tiếng gọi đối xứng và đảo nghịch. Quả thật ở đây xuất hiện một nghịch lý biện chứng khác của việc đọc: ta càng cảm thấy rõ tự do của ta bao nhiêu, thì ta cũng công nhận tự do của người khác bấy nhiêu; họ càng đòi hỏi ở ta bao nhiêu, thì ta càng đòi hỏi ở họ bấy nhiêu”.

 

Link




Văn tế vong hồn Đa Giá Thượng
Thursday, September 6, 2012 Author: Trường An

Về sự kiện bọn hung đồ giết hại dân lành ở xã Đa Giá Thượng huyện Gia Viễn phủ Trường Yên, các bộ chính sử như Đại Việt sử ký tục biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt sử cương mục tiết yếu v.v... đều ghi chép tương đối giống nhau. Chẳng hạn sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn chép:

“Tháng 5 mùa hạ (năm Chính Hòa 15-1694) bắt giết 52 người dân hung ác ở xã Đa Giá Thượng.

Xã Đa Giá Thượng đường núi nhỏ hẹp hiểm trở, lại có nhiều hang hốc. Dân xã ấy đặt riêng khoán ước với nhau, dựng điếm canh đón người qua lại hoặc ngủ trọ tại xã, đến đêm bắt giết đi quăng xác xuống vực rồi cướp lấy của cải. Việc này kéo dài hơn 20 năm, xương trắng chất thành đống.

Đến nay việc bị phát giác, triều đình sai Thạc Quận công Lê Hải đem quân đi khám xét, bắt được đảng ác gồm 290 tên, đem chém 52 tên đầu xỏ hung ác bêu đầu ở chợ. Những tên còn lại bắt chặt ngón tay rồi đưa đi đày ở châu xa, xóa bỏ tên làng của xã này”.

Sự việc xảy ra từ những năm đầu thập kỷ bảy mươi của thế kỷ XVII, kéo dài suốt 20 năm. Triều đình cử quan quân đi đánh dẹp, mãi đến năm 1694 Thạc Quận công Lê Hải mới dẹp yên được. Các tư liệu lịch sử chỉ cho biết số lượng bọn gian ác bị bắt là 290 tên, còn về số người bị nạn là bao nhiêu thì không thấy đề cập tới. Gần đây, tìm trong kho sách Hán Nôm ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi thấy có bài Văn tế xót thương u hồn ở xã Đa Giá Thượng (Chuẩn tuất u hồn tại Đa Giá Thượng xã tế văn). Nguyên bản viết bằng chữ Hán chép trong sách Quốc âm văn tế sao lục, ký hiệu VNv.256. Bài văn viết vào tháng 5 năm Giáp Tuất (1694), không ghi tên người soạn, có thể là môn khách của Thạc Quận công Lê Hải giúp ông soạn thảo để tế các vong hồn, lời văn rất thống thiết, cảm động lòng người. Nội dung bài văn cho biết, số người tử nạn cả thảy là 318 người, gồm lái buôn tinh nghệ công thương, nghệ sĩ ở giáo phường hát hay đàn giỏi, người đi hành dịch, có cả những hành khách đi ngao du thưởng ngoạn thắng cảnh non nước. Họ là những người khác quê khác quán, do công việc cần thiết phải đi qua vùng này nên ngộ hại. Một khi triều đình biết đến liền thẳng tay trừng trị:

“Theo phép xử nghiêm diệt lũ ác, trừ bỏ bọn độc dữ gian hung;

Dùng lễ nghi tống táng thưởng khao, an ủi u hồn nơi giá lạnh”.

Đó cũng là lý do mà Thạc Quận công Lê Hải đọc văn tế gửi đến an ủi các u hồn bị hại ở Đa Giá Thượng. Nhận thấy đây là tư liệu lịch sử quý, có thể bổ sung thêm cho chính sử về một sự kiện xảy ra cách đây đã đến 310 năm rồi, chúng tôi xin phiên âm dịch nghĩa giới thiệu toàn văn.

Phiên âm:

"Chính Hòa thập ngũ niên Giáp Tuất ngũ nguyệt nhật.

CHẨN TUẤT U HỒN TẠI ĐA GIÁ THƯỢNG XÃ TẾ VĂN

Trí tế vu chư oan hồn chi linh viết:

Ô hô !

Vật chi vinh khô hữu thời hĩ nhi bất vi dị giả hiển kỳ thời;
Nhân chi tử sinh hữu mệnh yên nhi thậm khả ai giả phi kỳ mệnh.

Y hi ! Nhĩ bối hề !

Thiên lý thù hương;
Ngũ phương dị tính.
Hữu hiệp nghệ tinh trí túc khứ xu sự ư công thương;
Hữu tương âm nhã điệu cao đầu phó ư ca vịnh.
Hữu hành lữ nhi yết tức quán xá ư tạm thời;
Hữu tòng dịch nhi vãng lai đạo lộ ư nhất khoảnh.
Ưu du vô sự, duy tri bất bế hộ vi an;
Xưng tụng thái bình, vô phục hữu trì binh tự cảnh.
Khởi kỳ Đa Giá Thượng chi hung đồ;
Cảm tác khang cù trung chi hãm tỉnh.

Kiếp vu đồ, sát vu túc, bạo tàn há thì sài lang;
Lưu vu thủy, phao vu sơn, hung ác thực phù cưu kính.
Ai thử vô cô;
Li thử bất hạnh.

Nhĩ phụ mẫu huynh đệ chi hào vọng, bàn hoàn mộng hậu tưởng dung;
Nhĩ phu thê nhi tử chi ai cầu, hoảng hốt đăng tiền điếu ảnh.
Tung trầm tích một nhi nan tri;
Vật hoán tinh di nhi dũ quạnh.
Tán lạc tha hương khách tứ, hà xứ quy y;
Hoang lương tịch địa cô hồn, vô nhân đảo thỉnh.
Hàm oan thậm nhật tiêu ma;
Ẩm hận hà thời cùng kính.

Khánh kim:

Thượng hữu thánh minh;
Bàng thi nhân chính.
Thông quách nhật lâm nguyệt chiếu, củ đàn tài lãm thốn tiên;
Uy dương điện xiết phong phi, bộ tróc tuyền ban mệnh lệnh.

Ngô đẳng:

Tấu mệnh hành tra;
Chấp ngôn hành chính.
Cứu kỳ do, cật kỳ nặc, hung đồ võng độc ư nhiên tê;
Trích kỳ phục, phát kỳ gian, ác đảng vô đào ư huyền kính.
Đại chương tội trạng chi tham tàn;
Tận đắc sự tình chi bao hoạnh.
Thuyết đắc tam bách thập bát nhân chi bị hại, thùy năng vô lệ hạ nhi thống tâm;
Ngôn cập nhị thập dư niên chi xúc gian, thục bất dục cưu đầu nhi hệ cảnh.
Chương sớ phu văn;
Cao minh thùy thính.

án pháp nhi hình tru lưu thoán, trừ bỉ xú loại chi gian hung;
Dĩ lễ nhi liễm táng tế khao, uý nhĩ u hồn chi liêu lãnh.

Nhĩ bối đãn đương;
Giải nhĩ cựu oan;
Hoàn kỳ nguyên tính.
Lai hâm lai hưởng, cộng ngưỡng thụ ư hồng ân;
Dĩ phụ dĩ du, đồng siêu thăng ư tịnh cảnh.

Kim tắc:

Đàn soạn cụ trần;
úy bi giao tịnh.
Đổ di hài chi hữu mộ, cảm xâm dã thảo nhàn hoa;
Tưởng bạch cốt chi vô, hận phó trường giang cao lĩnh.
Ô hô ! Ai tai !
Nhĩ bối hưởng chi."

Dịch nghĩa:

Ngày tháng 5 Giáp Tuất (1694) niên hiệu Chính Hòa 15

VĂN TẾ XÓT THƯƠNG U HỒN Ở XÃ

ĐA GIÁ THƯợNG

Gửi lời tế đến vong linh các u hồn rằng:

Ô hô !

Vật có héo tươi tùy thời, song có khác chi nhau bởi đều làm tỏ chữ thời;
Người ta sống chết có mệnh, vậy nên thật đáng thương cho kẻ thác không phải mệnh.

Hỡi ôi lũ các ngươi:

Muôn dặm xa quê;
Năm phương khác tính.
Kẻ thì nghề tinh trí sáng bôn ba theo việc công thương;
Kẻ thì tốt giọng hay đàn náo nức theo nghề ca vịnh.
Có khi hành lữ rồi nghỉ ngơi, quán xá cốt chỉ tạm thời;
Có khi lao dịch mà lai vãng, đường xa dừng chân chốc lát.
Vô sự nhàn du, đâu có biết cài cửa hưởng vui;
Thái bình vịnh cảnh, chẳng hề mang giáo gươm tự vệ.
Nào ngờ Đa Giá Thượng lắm kẻ hung đồ;
Dám giữa buổi thái bình gây ra trọng án.
Cướp ở đường, giết ở cửa, bạo tàn nào kém sài lang;
Ném xuống nước, vứt lên non, hung ác thực hơn hổ báo.

Thương kẻ hiền lành;
Xót người bất hạnh.

Cha mẹ anh em ngươi khổ ngóng, miên man trong mộng tưởng đến dung nhan;
Vợ chồng con cái ngươi mỏi trông, hoảng hốt trước đèn ngỡ là bóng ảnh.
Tích dấu tung chìm thật khôn lường;
Sao dời vật đổi đành hưu quạnh.
Tan tác tha hương quán khách, nào biết về đâu;
Thê hương đất lạnh hồn cô, ai người cầu đảo.
Hàm oan nào thuở tiêu ma;
Ôm hận khi nao cho hết.

Mừng nay:

Trên có thánh minh;
Ban ra nhân chính.
Khắp nơi nhật chiếu nguyệt soi, tấu đàn hặc vừa được vua xem;
Uy đức sấm vang chớp giật, lệnh tiễu trừ ban ngay lập tức.

Bọn ta:

Tâu xin ban mệnh khám tra;
Nhận lệnh thi hành chính sự.
Xét duyên do, tìm trốn tránh, lũ hung đồ trốn lẩn vào đâu;
Tóm lũ ẩn, truy bọn gian, bày đảng ác đừng hòng chạy thoát.
Vạch rõ tội trạng tham tàn;
Có đủ sự tình ngang ngạnh.

Nói đến ba trăm mười tám người bị hại, ai mà chẳng rơi lệ xót thương;
Kể về hai chục năm chứa chất ác gian, ai không muốn bêu đầu lũ ác.
Biểu tấu vừa đệ lên;
Đấng cao minh đã biết.
Theo pháp xử nghiêm diệt lũ ác, trừ bỏ bọn độc dữ gian hung.
Dùng lễ nghi tống táng thưởng khao, an ủi hồn nơi giá lạnh.

Lũ các ngươi hãy nên:

Giải bỏ oan khiên;
Trở về bản tính.
Về hâm về hưởng, cùng nhau đón nhận ơn vua;
Vừa hiểu vừa tin, cùng siêu thăng nơi tịnh cảnh.

Bữa nay thì:

Cỗ đã đặt bày
Bảo nhau đến hưởng.
Ngắm di hài đã có mộ, cảm thông cỏ nội hoa đồng;
Tưởng xương trắng hề rơi, hận gửi sông dài núi thẳm.
Hỡi ôi thương thay
Lũ người về hưởng.



Tài liệu tham khảo

1. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH, H. 1993.

2. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, 1998.

3. Việt sử cương mục tiết yếu, Nxb. KHXH, H. 2000.

4. Di sản Hán Nôm - Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa (Đồng chủ biên), Nxb. KHXH, H. 1993.

5. Lược truyện các tác gia Việt Nam, Trần Văn Giáp, Nxb. KHXH, H. 1972.

6. Ninh Bình tỉnh chí, A.1268.

7. Quốc âm tế văn sao, VNv.256.




Kinh sách
Sunday, September 2, 2012 Author: Trường An

"Việc học không có gì trước hơn biện biệt nghĩa với lợi."
Thẩm Tử Mân - đời Minh.

Việc học của quân tử biện biệt chí hướng là việc trước nhất. Bởi chỉ có công và tư mà chia làm hai đường nghĩa và lợi. Cái vi cơ bắt nguồn ở chỗ sâu phút chốc, mà sau thành ra xa cách nhau quá không thể so sánh được. Đối với chỗ sâu nhỏ phút chốc mà không biện biệt, thì tất nhiên đi ra ngoài cái nghĩa mà đi vào trong cái lợi. Hoặc tự cho là nghĩa mà không biết rằng cuối cùng lại sa vào trong cái lợi. Dẫu biết rằng làm việc về học cũng là vô ích, ví dụ như người đi sang Yên thì đến nước Yên, người đi sang Việt thì đến nước Việt, đều xa ngàn dặm cả. Nhưng gốc không ở nghìn dặm, mà ở một lúc bước chân đi. Lại không ở lúc cất một bước chân đi mà ở chí mình muốn đi đằng nào mà nghìn dặm xa cách nhau tự đấy. Cho nên nói rằng biện biệt chí hướng là việc trước nhất. Đời xưa Mạnh Tử có nói, muốn biết Ngu Thuấn cùng Đạo Chích khác nhau ở chỗ nào, thì chỉ ở chỗ nghĩa và lợi mà thôi. Ôi, gọi một đứa trẻ 7 tuổi bảo rằng mày là Thuấn thì nó mừng, gọi khác đi bảo rằng mày là Chích, thì nó tức giận. Thuấn và Chích khác nhau như thế, một đằng nghĩ về nghĩa, một đằng nghĩ về lợi thì gốc là ở lòng người. Lòng người ta chẳng lợi thì là nghĩa, chẳng nghĩa thì là lợi, chưa có ai hai thứ đều không cả. Đấy là chí người ta. Cái chí ấy không biện biệt được thì cái cơ nghĩa lợi suốt đời mơ màng cả. Nhưng mà chí có dễ biện biệt đâu? Ôi, nghĩa với lợi là hai đầu mối, nghĩa là nghĩa mà lợi là lợi, hai cái đó khác hẳn nhau. Đáng lẽ người thường cũng biện biệt được. Thế mà người đời hám lợi quên nghĩa lại rất nhiều mà biện biệt rõ nghĩa và lợi lại ít. Thế là bởi cớ gì? Bởi có cái lợi của lợi thì ai cũng biết, trừ ra người làm việc bất nghĩa tự cam tâm làm tiểu nhân, ai chẳng biết chọn xem mà lại làm như thế? Còn cái lợi của nghĩa, có việc không phải lợi mà thực là lợi. Có việc giả danh là nghĩa mà ngầm thu lấy lợi. Hình tích nghĩa và lợi đã lẫn lộn mà ta không biện được rõ được danh, thực thế nào, và không có định kiến làm chủ trương trong lòng, chẳng theo lợi quên nghĩa, thì cũng là rất ít. Bởi thế biện biệt chí hướng là khó đấy. Vì chỗ khoảng cách về nghĩa và lợi là rất nhỏ.

Nay xem kẻ chính ngày thường biện biệt tà, chính dễ như chỉ bàn tay, phân biệt đạo vương bá rõ như đen với trắng, chẳng phải là biện biệt rõ ràng làm sao. Đến lúc lâm sự thì những lời nói trước biến đi đâu mất cả. Tại sao không làm được như thế, bởibiện biệt ở chỗ sâu nhỏ trong phút chốc mà thôi. Mình đã biết đích là phải mà mình làm thì là nghĩa. Nếu vì mọi người cho là phải mà mình theo thì thành ra lợi. Ngay đến mình thì không phải là nghĩa. Mình biết rõ là trái mà mình không liên can thì là nghĩa. Nếu vì mọi người cho là trái rồi, mình không làm thì là lợi thôi. Ngay đến mình biết là trái mà không muốn thiên hạ chê mình thì cũng không phải là nghĩa. Sao thế? Càng phân tích mà càng tin cậy là nghĩa, cho nên không cứ lợi cho riêng mình mới là lợi, cả đến có một chút không hoàn toàn vì nghĩa thì cũng là lợi. Không cứ có một chút nào vì lợi mới là nghĩa, cả đến biết nghĩa mà không thể không làm, rồi mới làm để cho hợp với nghĩa, cũng không phải là người rõ nghĩa. Ôi, nghiêm ngặt đến thế! Đó là điều mà Khổng Tử đinh ninh dặn bảo phải biết phân biệt rõ ở chỗ vì mình vì người. Điều gọi là vì người, không cứ ở chỗ mua chuộc danh dự, cần được tước lộc đâu, ngay đến mình học rộng nhớ nhiều, ra lời nói sửa nết, cầu hợp đạo tiên vương, mà trong lòng không khỏi có ý a dua thì cũng là vì người cả thôi. Đó là cái học biện biệt chí hướng, kẻ học giả không thể không lấy nó làm đầu. Nhưng muốn biện biệt thì ở chỗ có vì mình, không vì mình mà thôi. Có vì mình mà làm thì là lợi. Dẫu việc làm gần với nghĩa, ta cũng không cho là nghĩa. Không vì mình mà làm thì là nghĩa, dẫu việc làm đó gần với lợi thì ta cũng cho là lợi. Cho nên nói rằng: "Thánh học không vì mình mà làm". Người theo học lấy thánh làm đích thì có chí định, chí định thì có nền vào cõi đạo được. Đó là đúng như câu Mạnh Tử bảo bạn là Ngu Thuấn đấy.

Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ




Đại từ
Saturday, June 9, 2012 Author: Trường An

Tôi (and Tớ): thường có một biến dạng của Tôi là TUI - đặc biệt trong tiếng Nam bộ, theo luật hoán chuyển âm giữa [u][ô], như trong ‘Kung-Fu’Công Phu: Quan thoại Gong/Cung (bow), Quảng Đông Ung/Ông, tùng/tong = tùng chinh/tòng chinh, thúi/thối..

Nhiều tự điển, đặc biệt vài cuốn đầu tiên, như cuốn Annamite-Portuguese-Latin của Alexandre de Rhodes [3], cho rằng ‘tôi đòi’, ‘đầy tớ’, ‘tôi tớ’, xuất phát từ Tôi và Tớ. Điều này hoàn toàn phù hợp với phát âm ngày nay trong tiếng Hẹ và Quảng Đông từ [Toi] {儓}. Phiên âm Quan Thoại cho [toi] có 2 cách: [tai-2] và [dai-4], có nghĩa ‘tôi đòi’, hay ‘đầy tớ’, rất giống với Quan thoại [tai dai]. Thật ra ’Tớ’ có âm rất gần với từ [tsut] hay [su] trong tiếng Hẹ, và [zeot] hay [syu] Quảng Đông viết là豎 hay 卒, cả hai có nghiã ‘tôi đòi’. Tuy vậy, nguồn gốc gần hơn là từ [Tub] trong tiếng Hmong có nghiã ’Tớ’, “b’ là dấu chỉ âm cao giống như với dấu sắc trong tiếng Việt. Trong tiếng Tày-Nùng, “Khỏi” tương đương với ‘Tôi” với cả hai nghĩa: Tôi và đầy tớ.

Tự điển Alexandre de Rhodes có ghi chú là ‘Tớ’ thường được dùng khi giận dữ: ‘Tớ đã làm chi ngươi’. Ngươi chỉ một người có địa vị hay quan hệ thấp hơn người phát biểu câu trên, Tớ, nói trong trạng thái giận dữ.

[tseoi] 余 trong tiếng Quảng Đông hiện nay có thể có cùng nguồn gốc với ‘Tôi’, dùng phát biểu chính thức trong quan hệ hàng ngày. Phát âm [tseoi] trong tiếng Hẹ và Ngô (Triết Giang) đọc [Y] {[I]}, rầt gần với đại từ đơn âm cho ngôi thứ ba trong tiếng Phổ thông và tiếng Việt (coi bảng I). Để ý trong tiếng Mường, ‘Tôi’ đọc như ‘Thôi’ với âm hơi.

Mỗ: ngày nay Mỗ ít được dùng thay cho tôi như trước.. Mỗ có thể liên hệ với [mau] trong tiếng Quảng Đông. Tự điển Huình Tịnh Paulus Của [4] liệt kê某 [mou] có nghĩa là ‘min, tôi’ (I), hoặc ‘tên nọ, tên kia’ chỉ trống khi không rõ tên họ. Âm [mou] Quan thoại có nghĩa “nào đó, một vài”. Chữ kép [mo lian] 磨 练, với [mo] rầt gần với âm [mỗ] có nghĩa rèn, luyện sắt/tính tình, thường dịch qua tiếng Việt là ‘tôi luyện’, cho thấy có lúc trong quá khứ ‘Mỗ’ và ‘Tôi’ được dùng thay đổi qua lại lẫn nhau

Để ý có nhiều chữ mới được tái tạo vào thế kỷ 20, thí dụ [ma luyện] chữ này được cho rằng có nguồn gốc Hán Việt, tương đương với từ Quan Thoại [mo lian] mà không biết đến liên hệ Quảng Đông-Việt giữa ‘Tôi’ và ‘Mỗ. Trong đoạn ‘những tương đồng qua khoảng cách' trong bài [2], chúng tôi có nói về những từ ngữ giống nhau dù ở hai địa điểm rất xa nhau, Mỗ cũng gần với chữ ‘Moi’ trong tiếng Pháp.

Mình: trong tiếng Mường và vài nơi ở miền Trung, đọc là [Miềnh]. Hồi thế kỷ 17, đọc là [Mềnh] hay [Min] [3]. Mình cũng gần với [mi] 微 của Hẹ, [mei] Quảng Đông, và cả tiếng Anh [me]. Cơ bản, Mình dùng cho (thân mình) [23]. Dần dần, cách dùng thay đổi. Trong Tự điển Alexandre de Rhodes [3], Mình được cho là cách xưng hô của người có điạ vị cao hơn người kia.

Ngày nay, có vẻ như Mình được dùng cho những liên hệ thân mật. Đôi khi nó được dùng như đại danh từ ngôi thứ hai, chẳng hạn như giữa vợ chồng: Mình ơi, mình ở đâu.

Mình cũng có cùng nguồn gốc với [Ming] và [*minqu] trong tiếng Mon-Khmer.

Ta/Tao: Rất chắc chắn là cả hai ‘Ta’ và ‘Tao’ có liên hệ mật thiết với những phương ngữ trong ngữ hệ Mon-Khmer. Người Miến Điện gọi 'tôi' bằng [Tjano] hoặc [Tjama], tuỳ theo người nói là nam hay nữ. [Tjano] và [Tjama] cũng khá gần với ‘Ta‘. Chữ chính trong tiếng Champa cho đại danh từ ngôi thứ nhất là [Tahlă]. Cũng vậy, ‘Ta‘ có âm tương đương với Hẹ [Tsa] 咱 , Quảng Đông [Zaa] và [Saa] [5], Phúc Kiến [Sa] 洒, đều có nghĩa là Ta/Tao. Trong một tiểu chi Quảng Đông, [Zaa] 咱 đọc là [gau] tương ứng với âm [Câu] của Tày-Nùng chỉ ‘Ta‘ hoặc ‘Tao‘, Boong Câu = Bọn Tao.

Theo Hayes [6], ‘tao’ rất gần với tiếng Mon-Khmer [saqu]. Rất có thể ‘Tao’ là một tiếng bao gồm cả hai âm ‘Ta’ (hay Tôi) và tiếng Đa Đảo ‘Au’ cho Ta/Tao” (coi bảng I).

Qua: ‘Qua’ có thể là một đại danh từ ít được biết trong tiếng Việt, từ này thường bị hiểu lầm như là một từ Nam Bộ. Thật ra, có nhiều từ cùng gốc ở nhiều nơi cách xa nhau. Trước nhất trong tiếng Mưòng là ‘Qua’ hay ‘Wa’ cho đại danh từ ngôi thứ nhất ‘Tôi/chúng tôi/Ta‘, nhưng thông thường hơn là dùng để chỉ ‘Chúng tôi/chúng ta‘

Tương tự tiếng Phúc Kiến/Hải Nam, [gua] để chỉ ‘Tôi‘. Tiếng Nhật có vẻ hợp cả 2 “Wa” và ‘Ta’ = Watashi vào một chữ dùng cho đại danh từ ngôi thứ nhất. Và cuối cùng ‘Qua’ cũng có các từ cùng gốc trong hệ ngôn ngữ Mon-Khmer [6]: *aku, *nqua, *iqua, *inquan, vv…

Một đại danh từ ngôi thứ nhất khá phổ thông trong tiếng Việt là ‘Anh’, thường dùng khi người nói là anh lớn hay người lớn tuổi, có thể có liên hệ nguồn gốc với từ [?ənh] hay [ănh] hay [?inh] trong Mon-Khmer để chỉ ‘Tôi‘, [enh] trong tiếng Mường, ‘Ani’ trong tiếng Nhật, hay xa hơn nữa, ‘aîné’ trong tiếng Pháp.

Trong tiếng Mường, từ thường dùng cho Ta/Tao là [Ho], có cùng nguồn gốc với tiếng Phúc Kiến là [Hou] 予, Tày-Nùng là [Hây]. [Ho] Mường có cùng âm với tiếng [o] Quảng Đông, cũng là một phát âm khác của [ngo] 我 mà tiếng Phổ Thông (Trung Hoa) là [Wo] cho ‘Ta/Tao’ [15]. ‘O’ trong tiếng Việt có hai nghĩa ‘bà cô’ (aunt) hay cô gái (miss), cũng có thể từ chữ [o] này của Quảng Đông.

... Đại từ ngôi thứ hai cho thấy ảnh hưởng văn hóa rất mạnh trong liên hệ bà con thân thuộc và hệ thống xưng hô theo nguyên tắc kính trọng trên dưới, in hệt như trong tiếng Môn-Khmer hay những ngôn ngữ khác trong vùng. Giống như đại danh từ Ta/Tao, có thể dùng bất cứ danh từ nào chỉ người bà con hay người khác với người nói, như đã trình bày ở trên: Anh/Em, Ông/Bà, Cô/Chú, ông Nội/ông Ngoại, bà Nội/bà Ngoại [8] v.v….

Theo Gilbert và Hang [7], tiếng Khmer có tới 17 chữ dùng cho ngôi thứ hai, tuỳ theo liên hệ gia đình, họ hàng và vị trí trong xã hội. Trong số các từ, tiếng dành cho cha là [bpaa], cho chú là [bpuu]. Cả hai tiếng Khmer và tiếng Việt giống nhau, không những về nghĩa mà còn được dùng rất rộng [2], [Bhpaa] nghĩa là cha và [Bpuu] nghĩa là ‘Chú' theo nghĩa rộng không chỉ để gọi em ruột của cha, còn chỉ một người đàn ông (có liên hệ họ hàng hay không) lớn tuổi gần bằng cha mình.

Anh trai của cha gọi là bác, có thể từ chữ ‘Ba’. Cha và Chú cũng có liên hệ như vậy, hoặc [Bpaa] và [Bpuu] như trong tiếng Khmer. Để ý Bác và Cậu rất giống với [Baak] và [Kau] trong tiếng Quảng Đông, trong khi ‘Chú’ có thể là do sự gộp chung các âm [Bpuu] Cambodia, [chek] Phuc Kien và [shu] Quan Thoai. (shu] 叔 (tương đương với ‘Thúc’ trong tiếng Nôm, và [suk] trong tiếng Quảng Đông và Hẹ.)

Vợ của Chú, gọi là ‘Thím’ tuơng đương với âm [tsim] Hẹ, và [chim] 嬸Mân Nam. ‘Cô’ bắt nguồn từ [ku] Chiết Giang, hay [kou] {姑} Phúc Kiến, trong khi ‘Dì’ laị bắt nguồn từ [yi] 姨 Quan thoại, Hẹ, Quảng Đông và Phúc Kiến [I]. Vợ của cậu, ‘Mợ’, có nguồn gốc từ [kau-mou] [13].
Hệ xưng hô dựa vào liên hệ gia đình và vị trí trong xã hội của tiếng Việt cũng có vài sự giống nhau với các đại danh từ trong tiếng Quảng Đông cũng như tiếng Mường. Có một ngoại lệ, đó là [Nei] (Ni) Quảng Đông, hay [Da] Mường, dùng rất … thoải mái cho ngôi thứ hai, dù lớn hay nhỏ, địa vị cao hay thấp cũng đều dùng được cả.

Có lẽ các từ phổ thông nhất để gọi trong tiếng Việt, dùng để chỉ sự kình trọng là “Ông/Bà”. Ông, có hai nghĩa: Một nguời đàn ông, hay ông nội/ngoại, có liên hệ gốc với tiếng Champa [Ông], [Ù] trong tiếng Miến Điện, hay trong tiếng Thái [Ong] để tôn kính các địa vị tuyệt đối như nhà vua hay các bậc tu hành. Trái lại, Bà, để gọi Mẹ, phụ nữ trọng tuổi, hoặc tỏ sự kính trọng, ví dụ như trong [iBu] (Indonesian), [poo ying] Thai, [Ba] Miến Điện, [Bawng] Khmer, và rất nhiều phưong ngữ ở Hoa Nam có cùng âm [Pu] hay [Bu], hay thừong thấy nhất, [Bo] (ví dụ [lao bo] để gọi vợ).

Tiếng Việt cổ có đại danh từ chung cho cả nam hay nữ, [Bạu] [3] sau này biến từ thành ‘bậu bạn’ hay ‘bạn’ ngày nay dùng cho bạn bè hay người quen biết sàn sàn bằng tuổi nhau. Bạn, thật ra có liên hệ với tiếng Khmer [bouung] và Quảng Đông [pang] 朋. Từ đôi ‘Anh em’ (như trong ‘người anh em’), bắt nguồn từ tiếng Trung Hoa [xiong di] (huynh đệ), nghĩa là anh hay em ruột [8].

Một đại danh từ ngôi thứ hai dùng cho nguời kém hơn trong địa vị xã hội là ‘Mày', có thể bắt nguồn từ ‘Bây’ (Bay, [3]), vì cả hai [M] và [B] đều là âm môi. Tự điển Alexandre de Rhodes [3] ghi chú là từ ‘Bay’ không được dùng so với từ ‘Anh em'. ‘Mày’ rất gần với ‘Mi’, có thể là biến dạng của [Mi] của tiếng Hẹ hay tiếng Việt [Min/Mình] vốn dùng để chỉ ngôi thứ nhất (Bảng I)

Về âm, EM [21], rất gần về âm với ‘Ủn’ Mường, và ‘Imoto’ Nhật cho em gái. ‘Em’ cũng có thể liên hệ với ‘Enh’ (Mường) chỉ người nam lớn tuổi hơn, hay [?ənh] trong tiếng Mon-Khmer. Về nghĩa, ‘Em’ bắt nguồn từ ‘em bé’ hay ngừoi còn trẻ, tương đưong với tiếng Thái [awn]. ‘Em’ cũng cùng gốc với [eN] trong tiếng Mân Nam (Phúc Kiến), [ei] Hán-Nhật, [er] Quan Thoại [5] [11] [12]. Chị, cùng gốc với [*tsi] hay [*ci(q)] hay [*ji(q)] trong tiếng Mon-Khmer [6], và [tsi] Ngô-Triết Giang, [chia] hay [che] trong tiếng Mân Nam (Phúc Kiến) [5].

... Đại danh từ ngôi thứ ba được dùng nhiều và phổ thông nhất có lẽ là từ Nó, được dùng cho cả người (mọi giới tính) và thú vật, như chim, cá. Nó có cùng gốc với từ [Nả] Mường, [Nws] Hmong {đọc như [Neu]}, [Ne] Tongan, and [Nong] trong tiếng Hoa Phổ thông. Chữ [Nong] có thể là “tôi, anh/chị, anh ấy, chị ấy” trong tiếng Thượng Hải. Người P’u-Noi sống gần biên giới Lào-Việt, cũng dùng [No] [2] như tiếng Thượng Hải [Nong] và giống hệt âm tiếng Việt [Nó].

Hắn, có thể dùng gọi người không được mấy cảm tình hay chế nhạo. ‘Hắn’ có thể từ [Hang] 牼Quảng Đông, có nghĩa ‘đàn ông’. [Hang] rất gần với vài phương ngữ Việt như [Héng]. Hắn cũng gần với tiếng Quảng Đông [Heoi], và cũng có liên hệ với ‘Họ’, ngôi thứ ba số nhiều trong tiếng Viêt. Tiếng Muờng, trái lại, dùng ‘Ho’ (không có dấu Nặng) [16] cho Tôi/Tao. Môt tiếng Mường khác rất phổ thông để chỉ đại danh từ ngôi thứ ba là ‘Lũ’, giống như tiếng Việt ‘Bọn/Chúng’. ‘Lũ’ cũng có cùng âm với [lei] [5] 娌, tiếng Ngô (Triết Giang), có nghĩa cô ấy/cậu ấy, ph át âm nh ư [lei] trong ti ếng Qu ảng Đông [5]. Cũng là điều thú vị, vì ‘Lũ’ cũng giống âm tiếng Pháp ‘lui’, (bảng [1]), trong khi ‘Y’ và Hắn (hoặc [heoi] tiếng Quảng Đông) giống ‘Il’ trong tiếng Pháp hoặc He/Him trong tiếng Anh.

Kẻ và Gã có âm giống [Ke] và [Goat] trong tiếng Cambodian, và cùng gốc với [Kei], [Keoi] and [Gei] (其 渠) Quảng Đông. ‘Kẻ’ đồng thời cũng liên hệ với [Koj] Hmong (ngôi thứ hai) và [kow] Champa (ngôi thứ nhất). Kẻ, đọc là Ké trong tiếng Mường có âm giống [Ko ia] Rapanui (sắc dân Đa Đảo ở vùng đảo Easter Island) và [O KOya] Phúc Kiến, cùng dùng cho ngôi thứ ba ‘Ya’.

Thường Kẻ và Gã có ấy/đó đi kèm: Kẻ ấy, Gã đó. Tiếng Mường tương đương với ‘ấy’, hay ‘đấy’, là [đỉ]: Ông đấy (Việt)=> Ông đỉ (Mường); Bà ấy (Việt)=> Mễ đỉ (Mường). Xin lưu ý, âm Hỏi bên tiếng Mường là âm dấu Sắc bên tiếng Việt: đấy=> đỉ, tiếng => thiểng, nó=> nả, chúng=> chủng, đột phá=> đôt phả. Âm dấu Sắc tiếng Việt cũng tương đương với âm dấu Hỏi bên Tày-Nùng: đỏ chói => ‘đeng chỏi’ (Tày-Nùng), chúng => chủng.

Y và Va đọc là [Ya], rất phổ biến trong miền Nam. Cả hai có âm giống nhiều ngôn ngữ trong vùng. ‘Y’ từ: [yi] 伊, Quan thoại, [Y] Hẹ, [I] Phúc Kiến, [Ee] Hải Nam, [I] Hán- Hàn, [I] Mon-Khmer. ‘Y’ trong Quan thoại cũng có nghĩa là ‘ấy'.

‘Va’ thật ra là chữ quốc ngữ đánh vần sai vì muốn gộp cả 3 âm [W], [V], [Y] (hoặc [By] {[b]}) của các miền vào làm một chữ [V] duy nhất. ‘Bya’ rất thông dụng ở miền Nam, phát âm [Ya] hay [Bya] ([ba]). Phát âm [Ya] hay [ba] cho đại danh từ ngôi thứ ba tương ứng giống với [za] Hẹ, [Dia] hay [Ia], Mã Lai, [niya], Tagalog (Phi Luật Tân), [Eya], Sinhalese và [Ia], Đa đảo (Polynesian).

[Ta] 他 phổ biến nhất trong tiếng Trung Hoa theo nghĩa “bà ấy/ông ấy”, không có trong tiếng Việt, ngoại trừ ‘Tha Nhân’ với chữ ‘Tha’ thường bị tưởng lầm là chữ Hán-Việt, nhưng thật ra, có phát âm Phúc Kiến [tha], hoặc Ngô (Triết Giang) [Tha]. Tiếng Tày-Nùng có âm [Te] [14] [15], xuất phát từ [Ta] để chỉ “bà ấy/ông ấy”.

Cái, Kia, Ấy, Nầy, Nọ, Nớ: Cái thường được dùng trong tiếng Việt như mạo từ đếm [13]. Ví dụ: 1 cái bàn, 6 cái ghế…‘Cái’ thường được cho là chữ Nôm mượn từ Hán-Việt ‘Cá‘ có nguồn gốc từ tiếng Quan Thoại [Ge] 個. Thật ra, cả hai ‘Cá’ và ‘Cái’ có âm giống hệt từ tiếng Hẹ: [Ka] và [Kai], tương đương với Quan Thoại [Ge] [5] và Hán-Hàn [Kay] [5], là từ đếm bổ xung cho (này, ni) hay (nọ, kia, ấy).

Kia, Ấy, Nầy, Ni, Nọ, Nớ… đều có cùng môt âm với các phương ngữ Hoa Nam. Kia rất gần với其 [kia] Hẹ - cùng chữ giống như Kẻ và Gã. Ấy tương đương với ‘Y’ 伊, có cả hai nghĩa ‘ấy’ và ‘ông ấy/bà ấy’. (Ấy tương đương với Ái trong Tày/Nùng [15] [18]). Ấy cũng cùng âm và gốc vói Mon-Khmer [?a:y].

Nầy, Ni, Nọ, Nớ v.v... có cùng âm với nhiều từ Nam Trung Hoa mang nghĩa Nầy, Nọ. Thí dụ [nei] Quảng Đông & [ni] 呢 Hẹ nghĩa là cái này; và那 Hẹ & Quảng Đông [no], [naa] {cái kia}. Ngoài ra “Nầy (Ni)” and “Nọ (Nớ)” cũng giống như [nih] và [nuh] tiếng Cambodian cho cái này và cái kia.

... Như đã thấy, trong tiếng Việt không đại từ nào đứng một mình mà không có liên hệ với từ của các tiếng khác. Tất cả đều có ít nhất một liên hệ với từ trong ngôn ngữ khác hoặc có nguồn gốc giữa các ngôn ngữ và thổ ngữ tạo thành tiếng Việt ngày nay.

So sánh với các phương ngữ Trung Hoa, kể cả Quan thoại, đại danh từ cho ngôi thứ hai tiếng Việt - không có từ gọi chung chung như Ni/Nimen (you như trong tiếng Anh)- luôn có liên hệ gia tộc hay địa vị xã hội. Trong tiếng Việt, đại danh từ nhất là ngôi thứ nhất và thứ hai, luôn để ý đến vai vế trong gia đình hay ngoài xã hội, phản ảnh cấu trúc văn hoá sâu đậm và là di sản từ văn hóa cổ Mon-Khmer vốn không khác bao nhiêu với văn hoá của người Bách Việt ở miền mà bây-giờ-là-Nam-Trung-Hoa. Để ý là văn hóa Mon-Khmer đã hiện diện ở Trung quốc từ lâu đời, Mon-Khmer thường được biết dưới tên Địch-Khương (một trong bốn nhóm Trung Hoa gọi là Man-Di-Nhung-Địch), và truyền thuyết ghi lại vua Đại Vũ - nổi tiếng về trị thuỷ ở sông Hoàng Hà - người thành lập ra nhà Hạ, là người gốc Bách Việt, được coi là từ bộ tộc Khương [2].

 

Đại Danh Từ Tiếng Việt
Vietsciences-Nguyễn Đức Hiệp, Trần Thị Vĩnh Tường

(Chuyển ngữ từ bài tiếng Anh của V. U Nguyen)




Nguồn gốc tiếng Việt
Monday, June 4, 2012 Author: Trường An

Tiếng nói là nhịp cầu cảm thông để trao đổi tư tưởng trong sinh hoạt xã hội giữa con người cùng dòng giống xứ sở. Có con người là có ngôn ngữ. Ngôn ngữ văn tự có ảnh hưởng rất lớn và quan hệ mật thiết đến sự hưng vong của giống nòi. Dân tộc có một trình độ văn hóa cao, càng văn minh thì họ lại càng chú trọng đến ngôn ngữ văn tự.

Dân tộc ta, ngót năm ngàn năm lịch sử, có cùng chung một gốc, cùng chung một tiếng nói. Từ Bắc chí Nam, ngoại trừ một số dân thiểu số còn dùng thổ âm và một số địa phương dùng phương ngữ hay phát âm có đôi chút sai biệt, chúng ta đều nói, nghe và hiểu một thứ tiếng, đó là tiếng Việt Nam.

Vậy tiếng Việt có tự bao giờ!?

Tiếng Việt bắt nguồn từ đâu!?

Tiếng Việt có phải tự ngàn xưa đã là một tiếng nói thật sự thuần Việt hay là một kết quả của sự hỗn hợp trại lẫn của nhiều tiếng nói khác nhau?!

Trước khi tìm về cội nguồn tiếng Việt, việc phải làm đầu tiên là ta phải đi ngược dòng thời gian để tìm ra gốc tích của tổ tiên Việt Nam. Qua đó, ta mới có thể truy nguyên được tiếng nói của dân tộc. Vì thời gian lịch sử xa xăm mù mịt, vấn đề nguồn gốc Việt Nam, cũng như nguồn gốc tiếng Việt thật khó mà khẳng định một cách chính xác. Kê cứu theo sử ký, truyền thuyết, giả thuyết và nhất là những ý kiến, lập luận, ức thuyết của các học giả, sử gia Việt, Pháp, Tàu thì vấn đề này càng rẽ ra trăm mối, bất nhất và mâu thuẫn. Tuy nhiên, tôi cũng ghi chép lại những điều đã đọc để các bạn rộng đường thảo luận và kính xin các bậc thức giả sửa sai hoặc góp ý giùm cho.

Nguồn gốc dân tộc Việt

Tiếng Việt vào thời đại sơ cổ:

    Kể từ trời mở viêm bang
    Sơ đầu có họ Hồng Bàng mới ra
    Cháu đời Viêm Ðế thứ ba
    Nối dòng Hỏa Ðức gọi là Ðế minh
    Quan phong khi giá Nam hành
    Hay đâu Mai Lĩnh duyên sinh Lam Kiều
    Vụ Tiên vừa nở đào yêu
    Xe Loan nối gót, tơ điều kết duyên
    Dòng thần sánh với người tiên
    Tinh anh nhóm lại, thánh hiền nối ra
    Phong làm quân trưởng nước ta
    Tên là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương
    Hóa Cơ dựng mối luân thường
    Ðộng Ðình sớm kết với nàng Thần Long
    Bến hoa ứng vẻ lưu hồng
    Sinh con là hiệu Lạc Long trị vì(1)

Theo truyền thuyết (tục truyền) thì khai mở họ Hồng Bàng (2879 - 258 tr. CN) là Lộc Tục, con trai vua Ðế Minh. Sau Ðế Minh nhường ngôi lại cho con trưởng là Ðế Nghi làm vua phương Bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Bờ cõi nước Xích Quỷ phía bắc giáp Ðộng Ðình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Ðông hải. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào khoảng năm Nhâm tuất (2879 tr. CN) và lấy con gái Ðộng Ðình Quân là Long Nữ đẻ ra Lạc Long Quân Sùng Lãm.

Lạc Long Quân lấy con gái vua Ðế Lai tên Âu Cơ, sanh được 100 con trai. Chia 50 đứa con theo mẹ lên núi, 50 đứa con theo cha xuống bể Nam Hải. Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương, tức Quốc tổ của dân tộc Việt Nam ngày nay. (2)

Tuy nhiên, theo sách Ðại Việt Sử Lược do Tiền Hi Tộ đời nhà Thanh hiệu đính, có ghi một đoạn rất quan trọng như sau:

"Ðến đời Trang Vương nhà Chu, năm 696-682 tr. CN, ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật, áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu nước là Văn Lang... Truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương."(3)

Như vậy là Hùng Vương đã xuất hiện ở thế kỷ thứ 7 tr. CN. Từ đó cho tới năm 257 tr. CN thì nước Văn Lang bị Thục An Dương Vương thôn tính. Tính ra họ Hùng trị vì được 439 năm, nếu đem ra 18 đời, thì mỗi đời trung bình từ 25 tới 30 năm. Như thế có phần xác thực hơn là nói họ Hồng Bàng và họ Hùng cai trị cả mấy nghìn năm như truyền thuyết ghi chép.

Thế nhưng trong truyện số 10 của Lĩnh Nam Chích Quái nói về chim Bạch trĩ, lại thấy ghi rằng: về đời vua Thành Vương nhà Chu, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là họ Việt Thường đem chim trĩ sang cống hiến. Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu công phải dùng ba lần thông ngôn mới hiểu nhau được. Căn cứ vào sử ký của Tư Mã Thiên, bộ sử xa xưa nhất của Trung Hoa có ghi chép như sau:

"Năm Tân Mão thứ 6 (nhằm năm 1110 tr. CN) đời Thành Vương nhà Chu, phía nam bộ Giao Chỉ có họ Việt Thường, qua ba lần sứ dịch, dâng chim trĩ trắng."(4)

Nếu đúng như vậy thì họ Hùng Vương đã trị vì ít nhất là trên 800 năm. Không đúng theo sử ký của Tiền Hi Tộ, trong Tứ Khố Toàn Thư của nhà Thanh. Lại càng không đúng với Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim hoặc của truyền thuyết.

Ðó là chiếu theo sử ký và tục truyền để tìm ngọn ngành tổ tiên dân Việt, mà chúng ta cũng đã thấy nhiều điều không trùng khớp hoặc bất đồng kiến với nhau. Nhưng cũng nhờ qua tài liệu quan trọng nêu trên, ta có thể chắc rằng dân tộc Việt bấy giờ có một ngôn ngữ riêng biệt. Chính vì thế mà vua Chu đã phải ba lần kiếm tìm người thông ngôn mới có thể hiểu nhau được.

Về gốc tích của dân Việt, theo sự ghi chép của ông Trần Trọng Kim, dựa vào lập luận của các nhà nghiên cứu nước Pháp, viết rằng:

"Theo ý kiến của những nhà kê cứu của nước Pháp, thì người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt theo sông Hồng Hà lần xuống đông nam, lập ra nước Việt Nam ta bây giờ. Còn người Thái thì theo sông Mê kông, lập ra nước Tiêm La (Thái Lan) và các nước Lào."

Lại có nhiều người Tàu và người Việt cho rằng, nguyên khi xưa đất nước Tàu có giống dân Tam Miêu ở, sau đó giống Hán tộc ở phía Tây bắc đến đánh đuổi, chiếm giữ vùng sông Hoành hà lập ra nước Tàu, rồi lấn dần xuống phương nam. Người Tam miêu phải lẩn tránh vào rừng núi hoặc đào tị xuống miền Việt Nam ta bây giờ. (5) Tuy nhiên, ngay chính ông Trần Trọng Kim cũng không tin vào giả thuyết này.

Trong quyển Văn Phạm Việt Nam của Bùi Ðức Tịnh (tr. 171 - 188) khi viết về lịch sử tiếng Việt, ngay câu đầu tiên ông Bùi Ðức Tịnh tán thành thuyết của các học giả cho rằng Việt ngữ là một thứ tiếng thuộc về dòng Thái. Vì dòng tiếng Thái có hai đặc điểm: giọng trầm bổng như tiếng Trung Hoa, vừa có ngữ pháp đặt xuôi của loại tiếng Ấn độ - Mã Lai. Nhà bác học Schmidt cho rằng dòng tiếng Thái thuộc về tông-chi rộng-rãi bao trùm các ngôn ngữ của những thị tộc Ðông Nam Á và Ðại dương châu thời sơ cổ, và đề nghị đặt tên cho tông chi ngôn ngữ này là ''tông chi Úc - Á''. Nhưng thuyết của ông không được chứng minh một cách đầy đủ. Bác sĩ Rivet, trong đại hội các nhà tiền sử học họp tại Hà Nội vào năm 1932 cũng có đưa ra một ức thuyết: Từ miền nam châu Á hoặc từ Nam dương quần đảo, vào một thời đại tối cổ, đã có những đoàn di dân tản mác đi theo hình rẻ quạt, vượt trùng dương đến ở những đảo rải rác trên Thái bình dương và Ðại tây dương ... Người ta thường gọi chung họ là các giống Ðại dương nhân (Océaniens). Ðó là những người Ne'gritos, Me'lane'sien (Australien), Indone'sien và Mông cổ. Theo các nhà nhân chủng học, có lẽ trước tiên, tại bán đảo Ðông dương có hai giống người Me'lane'sien và Indone'sien. Do đó, có thể ức đoán rằng vào thời sơ cổ, đã có những thị tộc người Indone'sien ở vùng trung châu Bắc Việt và miền bắc Trung Việt. Một mặt khác, trước đời nhà Chu (khoảng 1050 đến 771 tr. CN) khắp vùng lưu vực sông Dương Tử, từ miền Vạn Huyện tỉnh Tứ Xuyên cho đến dọc miền biển cũng đã có chi nhánh của chủng tộc Indone'sien, mà sử gia Tàu gọi họ là giống Man di. Những phần tử Việt tộc này đã di cư lần xuống miền Nam theo đường sông hoặc đường biển.

Theo Ðào Duy Anh, có lẽ nhóm Việt tộc ở miền bờ biển Phước Kiến, hằng năm dùng thuyền gỗ hoặc mảng tre giăng buồm, nhân gió bấc vượt biển đến các miền duyên hải phương nam, đại khái vùng Hải nam, vùng trung châu sông Nhị và sông Mã phía Bắc Việt ngày nay. Ðến mùa gió Nồm, họ lại vượt biển trở về nguyên quán. Thế là ngay từ những ngày rất xưa, đã có sự tiếp xúc người Indonesian ở dọc theo bờ biển nước Bắc Việt với những người Indonesian, chi nhánh Việt tộc, ở vùng Phước Kiến. Khi nước Việt bị nước Sở diệt (333 tr. CN) làn sóng Việt tộc tràn xuống miền nam càng nhiều. Nhóm Việt tộc vùng Phước Kiến di cư vào miền bắc Việt nam, là nơi đã quen biết trước. Họ đem theo cái thị tộc cũ là Lạc, và một nền văn hóa tuy có chỗ tương đồng với thổ dân trước nhưng đã chịu ít nhiều ảnh hưởng của giống Mongolic ở phương Bắc. Sở dĩ có tên Lạc Việt ấy là vì trong các cuộc vượt biển hàng năm, nhóm Việt tộc vùng Phước Kiến đi và về đồng thời với một giống hậu điểu thuộc loại ngỗng trời gọi là chim Lạc. Có lẽ họ đã nhận giống chim ấy là vật tổ .(6)

Theo nhà sử học người Pháp, ông Léonard Aurousseau, căn cứ vào tài liệu sử sách Trung Hoa, thì dân tộc Việt Nam chính là một trong các dân Bách Việt gốc ở tỉnh Chiết Giang (Trung Hoa) vào khoảng thế kỷ thứ 5 tr. CN, rồi lần xuống phía nam, hợp với dân bản xứ, nhờ vào điều kiện địa dư thuận tiện, đã chống lại sự xâm lăng của Tần Thủy Hoàng. Dưới đời Triệu Ðà, nhờ chế độ cai trị dễ dãi mà Triệu Ðà khôn khéo biệt lập, tự củng cố địa vị ở phía nam xứ Trung Hoa, tránh được ảnh hưởng của người Tàu .(7)

Nhưng lập luận này đã không đứng vững khi ông Phạm Quỳnh xét về phương diện ngôn ngữ đã chất vấn trong bài '' Xét về cội rễ tiếng Việt Nam'' như sau: (8)

"Bọn dân Việt hồi đó, rợ Bách Việt là thủy tổ cho dân Việt Nam đó, nói tiếng gì? Nếu là tiếng Trung Hoa thì không hiểu làm sao mà biến mất hẳn đi mà xuất hiện ra một thứ tiếng khác hẳn tiếng Trung Hoa. Nếu không phải là tiếng Trung Hoa, thì các rợ Bách Việt ấy tất phải có một hay nhiều thứ tiếng thổ âm riêng. Như vậy thì sao trong suốt các rợ Bách Việt ấy duy có người Việt Nam, tuy sau này còn phụ thuộc Trung Hoa đến ngàn năm nữa mà vẫn giữ được tiếng nguyên âm, còn thời các rợ khác ở Nam Phương nước Tàu bỏ mất hết đi để nói tiếng Trung Hoa cả? Nếu ta thừa nhận cái thuyết của ông Léonard Aurousseau, thì cái vấn đề tiếng nói tưởng cũng khó giải quyết vậy".

Theo ông Lê Ngọc Trụ (9) thì dân tộc Việt Nam đã có từ lâu đời sinh sống tại đồng bằng Bắc Việt. Còn nhóm người Việt (Câu Tiễn) miền Chiết Giang, sau thời loạn Xuân Thu bị nhà Sở thôn tính (333 tr. CN) đã di cư xuống miền nam theo đất liền đến chung sống với các dân tộc khác như Việt-Ðông-Hải vùng Ô Châu, Mân-Việt vùng Phúc Châu, Nam-Việt vùng Quảng Ðông, Âu-Lạc-Việt vùng phía nam tỉnh Quảng Tây và Bắc Việt Nam, một lớp vào tới cả Thanh Hoá (Cửu Chân). Nhưng họ chỉ là nhóm người thiểu số và bị đồng hóa, chứ họ chẳng phải là gốc tích tổ tiên Việt Nam như ông Léonard Aurousseau đã nêu ra. Ngoài ra, ông Lê Ngọc Trụ còn cho rằng(10), tổ tiên dân tộc Việt đã cư trú ở những vùng triền núi từ sông Ðà (Hắc giang) tới Quảng Bình, sống chung hoà với dân tộc Mường. Cho nên đến ngày nay, tiếng nói ở những vùng này có nhiều chỗ tương tợ tiếng Mường. Dân Mường là dân miền núi, cho nên họ rút lần rải rác vào sâu dãy Hoành Sơn, do đó họ không bị ảnh hưởng văn hoá của các đại cường quốc Ấn Tàu, và chính vì thế họ vẫn giữ được các cổ tục và tiếng nói của họ cũng không bị thay đổi nhiều. Nên khi so sánh hai thứ tiếng Mường Việt, ông cho rằng tiếng Việt và tiếng Mường có lẽ từ một nguồn gốc mà ra. Thí dụ:

Mường Thạch Bi Hà Tĩnh Hà Nội
ka Ga Gà
kảy Gái Gái
kốk kộk Gốc
ka?w Ga.w Gạo

Tiến sĩ Hương Giang Thái Văn Kiểm cũng có cùng quan điểm lập luận như giáo sư Lê Ngọc Trụ và cho rằng, dân Bách Việt phát xuất từ miền Duyên hải miền nam Trung Hoa và giống dân Lạc Việt sinh sống lâu đời tại đồng bằng miền Bắc Việt Nam hoàn toàn không cùng chủng tộc. Sau nhiều cuộc xung đột, hai giống tộc này đã chịu hòa đồng chung sống với nhau như một đại tộc. Về sau, người Mường, cũng là sắc dân Lạc, đã chạy vào ẩn núp trong núi rừng, cao nguyên, để tránh sự xâm lăng đô hộ của người Tàu. Nhờ đó, họ vẫn giữ nguyên được ngôn ngữ, phong tục tập quán và kỹ thuật đúc trống đồng mà trước thời kỳ Bắc thuộc đã được đúc tại miền duyên hải Bắc việt và lưu vực sông Mã (nền văn hoá thạch khí Hòa Bình và Bắc Sơn với nền văn hoá đồng đen Ðông Sơn). Do đó các nhà nhân chủng học cho rằng: '' người Mường là Tiền-Việt'' (proto Vietnamiens)(11) , vì trong ngôn ngữ, tục lệ có nhiều điểm tương đồng với người Lạc. Ông có tìm được bản văn Mường-Việt nói về sự tích của sông Pờ (sông Bờ, tức sông Hồng ngày nay) trong quyển Cours de Langue Annamite của A. Cheon, do nhà in F-h Schneider, xuất bản tại Hà Nội năm 1899-1901 (nguyên văn):

"Khây khước măng pâu pô. Khi trước nghe người ta nói rằng cỏ mống ông, thên hốp là rằng có một ông tên gọi là ông Tùng, mà cở hai bợ chồng; ông Ðồng, mà cở hai bợ chồng nã rú ra tế nã lấp cải nó rủ nhau để nó lập cái ksông Pơ. Nã tan lẽ ksông sông Bờ. Nó toan lấy sông Pờ pao tất Thạch Bi. Bơ nã Bờ vào đất Thạch Bi. Vợ nó mê, ti lê ksú tê, nã lấp mới đi lấy đá, để nó lấp ksông. Lòng klởi skinh tha sông. Lòng trời sinh ra mốch ông hốp là ông Sách; một ông gọi là ông Sắt; me thuỗng mê thếch pât bởi mói xuống mới thách vật với ông Tùng. Nã me pao lò, nã ông Ðồng. Nó mới vào lò; nó tỏ ming nã pât ông Tùng đỏ mình nó mới vật ông Ðồng. Ông Tùng mê chẩi hết mìng, ông Ðồng mới cháy hết mình, mê chết. Cho đên cải ksông mới chết. Cho đến cái sông dỉ chăng lấp ản, mê dênh cải cấy chẳng lấp được, mới nên cái Thác pờ dỉ. Thác bờ ấy."

Ðọc đoạn văn trên, ta thấy tiếng Việt được chuyển dịch xen kẽ lẫn vào bản văn tiếng Mường, rất tối nghĩa. Cho nên tôi mạo muội viết ra hai bản Mường và Việt rõ ràng để quí vị dễ đọc và so sánh:

Bản văn tiếng Mường:

"Khây khước măng pâu pô, cỏ mống ông thên hốp ông Ðồng, mà cở hai bợ chồng nã rú ra tế nã lấp cải ksông Pơ. Nã tan lẽ ksông Pờ pao tất Thạch Bi. Bơ nã mê, ti lê ksú tê nã lấp ksông. Lòng klởi skinh tha mốch ông hốp là ông Sách me thuỗng mê thếch pât bởi ông Ðồng. Nã me pao lò, nã tỏ ming nã pât ông Ðồng. Ông Ðồng mê chẩi hết mìng, mê chết. Cho đên cải ksông dỉ chăng lấp ản, mê dênh cải cấy cái Thác pờ dỉ."

Bản văn dịch sang tiếng Việt:

"Khi trước nghe người ta nói rằng, có một ông tên gọi là ông Tùng, mà cả hai vợ chồng nó rủ nhau để nó lấp cái sông Bờ. Nó toan lấy sông Bờ vào đất Thạch Bi. Vợ nó mới đi lấy đá, để nó lấp sông. Lòng trời sinh ra một ông gọi là ông Sắt mới xuống mới thách vật với ông Tùng. Nó mới vào lò, nó đỏ mình nó vật ông Tùng. Ông Tùng mới cháy hết mình, mới chết. Cho nên cái sông ấy chẳng lấp được, mới nên cái Thác bờ ấy."

Khi nhắc đến nguồn gốc của Việt ngữ, ông Phạm Thế Ngũ cũng có nêu giả thuyết là người Việt có cùng tông tổ với người Mường, vì các nhà khảo cổ, khi xét về phong tục, lịch sử cũng như ngôn ngữ của người Việt, đã thấy có rất nhiều điểm giống với người Mường. Hiện nay, trong tiếng Việt có rất nhiều tiếng tương tự với tiếng Mường, và có thể xem đó là hình thức tối cổ của tiếng Việt tương đương, thí dụ :(12)

một Hai ba trời đất núi sông trâu gà tằm ăn lá dâu

móc Hai pa tlòy tất nủy không tlu kà thảm ăn lá tô

Thứ tiếng cổ ấy, về sau, trong ngôn ngữ người Việt, thâu nhận thêm những yếu tố vay mượn của các chủng tộc lân cận mà trở thành tiếng Việt. Và ông kết luận rằng: "dân tộc Việt Nam là kết quả tạp chủng và lai lẫn với các dân tộc đã sinh sống trên bán đảo Ðông dương, và tiếng Việt là kết quả trại lẫn của nhiều thứ tiếng của các dân tộc ấy." (13)

Trong quyển Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam(14), ông Bình Nguyên Lộc đã có một số nhận định và chứng minh khoa học cụ thể về vấn đề nan giải nêu trên.

Theo ông, viết thượng cổ sử khác xa với viết sử. Vì viết sử chỉ cần sử liệu, còn viết thượng cổ sử thì cần phải chứng minh bằng khoa học, do đó muốn tìm tòi về các chủng tộc ta phải vận dụng kiến thức khoa học chính xác của ngành Chủng Tộc Học (Anthropologie physique). Riêng về nguồn gốc của một chủng tộc thì khoa học chỉ nhìn nhận 3 chứng tích sau:

Khoa Chủng Tộc Học

Khoa KhảoTiền Sử

Khoa Ngôn Ngữ Tỷ Hiệu (Études comparatives des Langues)

Theo ông trên thế giới ngày nay không còn chủng tộc nào là thuần chủng. Ngay cả trên cao nguyên của nước ta có người Thượng mà ta cứ ngỡ là thuần chủng, nhưng thực sự họ đã lai giống đến nhiều lần rồi. Về vấn đề nguồn gốc dân Việt, ngôn ngữ Việt, từ lâu đã có những nhà bác học Pháp thuộc viện Bác Cổ Viễn Ðông, các sử gia, ngữ học gia, giáo sư Việt Pháp khổ công tìm tòi nghiên cứu, nhưng vẫn chưa tìm được một giải đáp thoả đáng. Và họ đã đưa ra một số ức thuyết khá hỗn loạn:

Ông Kari Himy cho rằng tiếng ta có bà con với tiếng Môn

Ông H. Maspe'so bỏ Việt Ngữ vào chung với Thái ngữ

Ông E. Souvignet cho rằng tiếng Việt có liên hệ với Mã Lai

Bs. Reynand nhấn mạnh về ngữ vựng Miên Việt giống nhau quá nhiều

Gs. Lê Ngọc Trụ và Sử gia Nguyễn Phương khẳng định tiếng ta là tiếng Tàu

Sg. Phạm Văn Sơn kết luận Việt ngữ + Việt chủng là một chủng tộc, một ngôn ngữ riêng biệt

Từ năm 1920 nhờ những cuộc phát kiến ngẫu nhiên của dân chúng vùng Ðông Sơn tỉnh Thanh Hóa đã khai quật được một số cổ vật đồng pha kế tiếp nhau ở cách lưu vực sông Nhật Lệ, sông Gianh, sông Cả, sông Mã, sông Ðà, sông Nhị, sông Lệ. Nghiên cứu sơ khởi cổ mộ Ðông Sơn, người ta tìm thấy người chết có đồ tùy táng, trong đó có trống bằng đồng thau khá rực rỡ. Ước tính theo số tuổi cổ vật, mộ này ắt đã được chôn trước thời Hai Bà Trưng (40- 43) đến 32 năm. Nhưng qua đó vẫn chưa xác định được người dưới mồ là người bản xứ, vì rất có thể họ là dân tộc khác sang nước ta rồi sau khi chết được mai táng tại đó. Mãi về sau, khi khai quật được nhà bằng gỗ và tre đã hoá thạch, các nhà nghiên cứu khảo cổ đưa ra được một kết luận quan trọng. Nhà ấy có lối kiến trúc giống như hình nhà khắc trên trống đồng trong cổ mộ. Bấy giờ mới chắc chắn được là người có trống chôn theo là người bản xứ. Hợp kim của trống khai quật được phân chất và kết quả đưa ra đó là hợp kim đặc biệt, khác hẳn với hợp kim của Tàu, Ấn Ðộ hay của Tây phương thời đó. Các nhà bác học gọi người trong mộ táng được khai quật thuộc chủng tộc Indone'sien. Indone'sien, thuật ngữ của ngành Chủng Tộc học có nghĩa là Cổ Mã Lai, chứ không thuần nghĩa thông thường được chú giải trong các tự điển ngôn ngữ hiện nay là người dân của xứ Nam Dương quần đảo. Mặc dù các dân tộc Nam Dương, Mã Lai Á đều từ gốc chủng tộc Cổ Mã Lai mà ra nhưng đã không còn thuần giống.

Chủng Cổ Mã Lai phát tích từ Tây Tạng, hay nói rõ hơn là tại chân cao nguyên Tây Tạng, vùng đất quanh chân núi Himalaya (Hi-Malaya có nghĩa là núi của người Malaya).

Từ 6000 năm trở về xưa hơn, dân Cổ Mã Lai từ quanh cao nguyên Tây Tạng xuống chiếm đất Ấn Ðộ, đẩy lui thổ dân kém cỏi nơi đó lên vùng đồi núi và hợp chủng với chủng tộc Melane'sien đã có mặt từ lâu trên đất Ấn (Chủng Melane'sien chẳng những là thổ trước trên đất Ấn mà còn tìm thấy di tích ở khắp đất Trung Hoa và Ðông Nam Á). Nền văn minh của họ tồn tại được một ngàn năm thì bị dân Aryen xâm lăng đánh đuổi. Vì vậy, một mặt giống dân Indone'sien di cư về hướng Nam, đến bán đảo Mã Lai Á, sang Nam Dương quần đảo, rồi từ đó sang Madagascar đến tận Phi Luật Tân. Mặt khác họ di dân sang Ðông Ấn, rồi từ Ðông Ấn họ đi sang Hoa Nam (Trung Hoa), hoặc đi bằng đường biển sang Ðông Pháp (danh từ cổ chỉ các nước Cổ Việt Nam, Ai-Lao, Cao Miên).

Vào khoảng 2500 năm sau, dân từ các vùng đất quanh núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya) dưới sự thống lãnh của Xy Vưu tới Hoa Bắc (Trung Hoa). Nhóm dân này được gọi là Cửu Lê gồm 9 nhóm, làm bá chủ Hoa Bắc không được bao lâu thì bị người Tàu từ Tây Bắc dưới quyền của Hiên Viên xâm nhập. Dân Cửu Lê thua và bị đánh đuổi, chia làm hai: chi Âu và chi Lạc. Toàn thể chi Âu vượt Hoàng Hà để nam thiên, còn chi Lạc thì lại chia hai, một số cũng vượt Hoàng Hà, số kia theo đường biển sang Ðại Hàn, Nhựt Bổn, Ðài Loan và Ðông Nam Á. Rời đồng bằng Hoa Bắc thì dân chi Âu chiếm địa bàn núi rừng ở Hoa Nam , còn dân chi Lạc thì chiếm địa bàn sông ngòi ở Hoa Nam và ở các vùng đất mới. Nơi đây, họ đã gặp các dân thổ trước nhưng đồng chủng cho nên đã sống chung hòa không gây chiến tranh lấn đất. Người Tàu dùng danh từ Việt để chỉ bất kỳ thổ dân nào từ sông Dương Tử đổ xuống, tức nhiều nhóm dân gốc Cổ Mã Lai nhưng khác chi. Theo sử Tàu thì có ba nhóm Lạc: Lạc bộ Trãi bị gọi là rợ Ðông Di, có địa bàn ở sông Bộc, tỉnh Sơn Ðông lên đến Hà Bắc; Lạc bộ Chuy bị gọi là rợ Khuyển Nhung, có địa bàn vùng sông Lạc (Thiểm Tây Ba Thục, ngày nay con sông Lạc này được đổi viết thành bộ Thủy); và Lạc bộ Mã, bị gọi là rợ Nam Man chỉ dân Việt ở Hoa Nam. Về phía Nam, đất Ngũ Lĩnh là địa bàn của các quốc gia Bách Việt trong đó có Ðông Âu, Mân Việt và Tây Âu nhưng không có Cổ Việt. Mặc dù về mặt chủng học tộc, ta thuộc về Bách Việt nhưng không phải là dân của ba nước kể trên. Trong ba nước này, Tây Âu là một quốc gia cường mạnh nhất, gồm ba quận Nam Hải (Quãng Ðông), Quế Lâm (Quãng Tây) và Tượng Quận (phần đất giữa Quãng Tây và Vân Nam). Theo bức dư đồ ngôn ngữ Ethnolinguistico Groups of Mainland Southeast Asia do Human Relations Area Files Yale University xuất bản thì Tây Âu là địa bàn của người Thái, một dân tộc thuộc chủng Mã Lai mà người Tàu xưa gọi là dân Âu. Thái là một danh tự xưng của họ khi bị Hoa tộc lấn đất dữ dội. Nhà Tần tiêu diệt cả ba quốc gia Bách Việt này và họ lại phải nam thiên xuống thượng du Bắc Việt và Thái Lan ngày nay. Thái có nghĩa là '' tự do, thoái khỏí'. Trước đó họ xưng là Ngu hoặc Ngê-U. Tiếng Quan thoại phiên âm danh tự đó cũng là Ngê-U. Duy chỉ các nhà nho đọc sai ra là Âu, chứ người Mường họ vẫn đọc đúng là Ngu. Người Thái ở miền thượng du Bắc Việt ngày nay đã khác hẳn với người Thái Lan, vì ngưởi Thái Lan đến bờ biển lập quốc cả hàng trăm năm và theo văn hóa của Ấn Ðộ và Phật giáo. Còn người Thái thượng du Bắc Việt còn giữ nguyên văn minh cổ thời của họ. Theo như trên thì truyền thuyết Âu Cơ và Lạc Long Quân rất tương đồng với bối cảnh lịch sử của dân Cửu Lê, khi bị Hiên Viên xâm lăng thì phải chia hai, chi Âu chiếm địa bàn núi rừng (Âu Cơ là Tiên đem con lên núi) và chi Lạc chiếm địa bàn sông ngòi, ven biển (Lạc Long Quân đem con xuống biển). Cả ba Lạc này đều có mặt tại Cổ Việt Nam nên ngôn ngữ của ta mới hỗn hợp tiếng Mã Lai nhiều đợt. Ðịa bàn phương đông của chủng dân Cổ Mã Lai bị dân Tàu lấn đất, họ đành phải nam thiên. Tới vùng đất mới, họ lại bị Tàu xâm lăng lần nữa, chẳng hạn như ở Cổ Việt bị nhà Hán chinh phục. Lần bị chiếm đất này, họ không còn đất lánh thân, nên một số ở lại chịu văn hóa Tàu, còn một số khác rút lên rừng núi, rồi vì khí hậu và phong thổ không ưu đãi, thiếu thốn phương tiện canh tân nên nhóm người này bị thái hóa. Do đó người Thượng trên cao nguyên vẫn còn giữ nhiều phong tục văn hóa của chủng Cổ Mã Lai hơn dân ta, kẻ ở lại đồng bằng đã khác xa, nhất là khi bị ảnh hưởng văn hóa mới và hợp chủng với dân xâm lược.

Sau đây là những dấu vết Mã Lai còn sót lại trong xã hội Việt Nam ngày nay:

    1. Trống Ðồng:

Dân ta vẫn duy trì phong tục của Lạc Việt, như tả nhậm, xâm mình, nhuộm răng, búi tóc, chít khăn, tục thờ thần Âm Dương Vật và cả tục thờ Thần Trống Ðồng.

Sau thời gian dài nghiên cứu về thời đại đồng thau xưa ở Bắc phần Việt nam các nhà khảo cổ cho thấy rằng người Việt Nam thời xưa đã đạt được một trình độ luyện kim và chế tác kim loại khá cao để đúc được nhiều loại trống đồng. Do số lượng trống đồng tìm thấy được tại miền Bắc Việt Nam quá nhiều và đủ loại cho nên các nhà khảo cổ đã nghĩ rằng Việt nam phải là quê hương của trống đồng. Tuy rằng cũng có tìm được một vài trống đồng rải rác tại vài nước Ðông Nam Á hoặc vùng Nam Trung Hoa giáp ranh giới Việt Nam nhưng số lượng ít ỏi và kém mỹ thuật, nhất là các tầm vật này nằm trên những lộ trình xuyên biên giới Việt-Hoa, nên đã làm các nhà khảo cổ nghĩ rằng đó có thể là những trống thâu lượm từ Việt Nam đem về.

Trong sách Ðại Nam Nhất Thống Chí(15) ghi: "Núi Ðồng Cổ: có tên nữa là núi Khả Lao ở cách huyện Yên Ðịnh 16 dặm về phía tây .... Phía tả núi có đền thần, trong đền có một cái trống bằng đồng, nặng chừng 100 cân, đường kính phỏng 2 thước một tấc, chiều cao phỏng 1 thước 5 tấc, một mặt trống rỗng, một mặt có chín vòng tròn, ở giữa mặt trống có rốn tròn, chung quanh lưng trống là hình hồi văn chữ 'vạn', bên cạnh có văn chữ như hình văn tự khoa đẩu. Tương truyền cái trống này chế từ đời Hùng Vương."

Trong tác phẩm Kiến văn Tiểu Lục, Lê Quí Ðôn đã viết như sau: "Nước nhà, vua Thái Tông nhà Lý dựng miếu thờ Thần Ðồng Cổ Sơn ở đằng sau chùa Thành Thọ. Hằng năm cứ đến ngày mồng bốn tháng tư lập một đàn ở trước miếu này, rồi dàn binh lính, đọc lời thề để quần thần cùng thề... ".

Nhiều thư tịch Trung Hoa xưa cũng có nói đến trống đồng có nguồn gốc ở Việt Nam như: (16)

Sách Bách Việt Nguyên Lưu Dư Văn Hóa, Lã Hương Lân ghi: "Thời cổ, văn hoá Việt rất đáng được lưu ý là sự chế tạo trống đồng và cách sử dụng. Trống đồng Lạc Việt rất nổi tiếng nên thường được gọi là Lạc Việt đồng cổ.

Sách Hậu Hán Thư quyển 54 thời Hậu Hán có ghi ở mục Mã Viện:

"Mã Viện thích cưỡi ngựa. Lúc sang đánh Giao Chỉ, ra lệnh tịch thâu trống đồng để đúc ngựa kiểu."

Sách Chu Phiên Chí, Triệu Như Quát cũng có kể về Mã Viện như trên.

Sách Lĩnh Ngoại Ðai Ðáp, Chu Khứ Phi, một học giả đời Tống, có thừa nhận rằng trống đồng không thuộc về văn hóa Hán.

Trong các sách Quảng Châu Ký, Tán Thư Trấn Thủ, Thủy Kinh Chú, Linh Biểu Lục Di đều có ghi: "Man, Di là chủ nhân của trống đồng Lạc Việt."

Ông V. Goloubew đã kể lại trong tập kỷ yếu B.E.F.E.O vol XXXIII, năm 1933 như sau: "Làng An-Nê, huyện An Ðịnh, tỉnh Thanh Hóa, là một vùng hoàn toàn Việt Nam, và gần đó không có dân Mường. Trong đền thờ trên đường Phủ Quãng, gần bến đò An Ðịnh đưa sang sông Mã, có trống đồng cùng loại với trống đồng Hoà Bình để ở Bảo tàng viện Hà Nội. Mặt trống rộng 0,85 và cao 0,58th. Trống này chỉ để thờ chứ không được đánh, bằng vào lớp bụi dày trên mặt trống..."

Ông R. Mercier thì đối chiếu cách chế tạo trống đồng của dân Ðông Sơn với cách chế tạo đồng đồng của dân Việt Nam ngày nay ở Thanh Hóa, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hà Ðông, Nam Ðịnh và thấy cả hai dân tộc đều dùng kỹ thuật và dụng cụ thô sơ y như nhau. Ông nghiên cứu chiếc trống lớn nhất ở bảo tàng viện L. Finot. Ðó là một cái trống đúc nguyên khối, không có ráp mối. Bên hông trống đếm được cả thảy 280 vết đen hình vuông, một phân tây mỗi cạnh. Nhờ đó ông khám phá được kỹ thuật đúc trống thợ Ðông Sơn xa xưa. Họ làm hai cái khuôn, một lớn một nhỏ, cái nhỏ nằm trong cái lớn, hai cái cách nhau khoảng 1/2 một phân tây, khoảng trống ấy được chêm bằng các khúc gỗ. Khi đổ đồng pha vào khoảng trống ấy, gỗ chêm bị cháy và để lại dấu vết bên hông trống. Ông Mercier nói rằng chỉ có dân Việt Nam các tỉnh cao nguyên mới đúc bằng kỹ thuật và dụng cụ thô sơ như thế mà thôi.

Về vấn đề vật tổ biểu tượng của dân Việt là chim Lạc (theo ông Ðào Duy Anh đưa ra) thì ông Bình Nguyên Lộc không đồng ý, vì chữ Lạc được viết với dạng bộ Trãi, bộ Chuy và bộ Mã chứ không hề viết theo dạng bộ Ðiểu, chỉ loài chim. Theo ông thì vật tổ biểu tượng của dân ta ngàn xưa là cây cau, nai, mặt trời, giao long bằng cứ vào những hình chạm khắc trong các đền đài chùa chiền, trên các cổ vật Ðông Sơn, phong tục, cổ tích vv... Danh hiệu Văn Lang cũng từ đó mà ra, có nghĩa là một loại cau có sọc trắng, chứ không thuần nghĩa là người con trai xâm mình.

    2. Kiến trúc:

Ngôi nhà cổ Việt độc nhất, do ông Pajot nhân viên của viện Viễn Ðông Bác Cổ tìm được tại bờ sông Mã năm 1927, nhưng mãi đến 17 tháng Giêng 1938, nhà khảo cổ V. Goboulew mới báo cáo trong một buổi thuyết trình. Có sự chậm trễ đó cũng bởi vì ông gặp khó khăn trong việc định tuổi cho các vật liệu dùng làm căn nhà. Và căn nhà đó được định cùng tuổi với ngôi mộ cổ đã khai quật.

Ðó là một nhà sàn có cột cái cao 4,50 thước, sàn cao 1 thước. Mái nhà dài xuống tới sàn, và vì thế mà cửa phải trổ ra ở góc hồi. Sàn bằng tre sặt, một loại tre giống tầm vong ở miền Nam. Sườn nhà không có trính ( loại sườn nhà mà miền Nam gọi là nọc ngựa, miền Trung gọi là nhà chữ Ðinh). Hình dáng ngôi nhà này giống nhà khắc trên trống đồng có mái cong quớt lên và đó là lối kiến trúc của tất cả các nhóm dân Cổ Mã Lai và Kim Mã Lai.

Ngày nay nông dân ở nhiều đảo Nam Dương vẫn còn cất nhà như vậy, và người Chàm, cũng gốc Mã Lai, giữ lối kiến trúc đó cả đến trong những xây cất bằng gạch. Loại nhà đó người Chàm gọi là nhà Thang-giơ. Danh từ Thang-giơ do tiếng Mã Lai Nam Dương Tanga mà ra, có nghĩa là cái thang. Dân Việt gọi đó là nhà sàn.

    3. Tín ngưỡng

Có rất nhiều nhóm Mã Lai thờ mặt trời hoặc ông trời. Ngay cả Mã Lai Nhật Bản cũng thờ nữ thần Thái Dương. Tất cả đều ăn khớp với hình trên mặt trống đồng. Tục thờ dương vật và âm vật của chủng Mã Lai vẫn còn tồn tại ở vài làng Bắc Việt (báo Ngày Nay, tác phẩm của Toan Ánh và Lê Quang Nghiêm). Tôn giáo ấy chẳng những được thấy ở Bắc Việt mà còn có cả ở Trung Việt. Ngay cả bên Nhật ngày nay vẫn còn giữ tín ngưỡng này.

    4. Ðối chiếu chỉ số sọ

Dựa theo chỉ số sọ rút từ quyển État actuel de la crânologie indochinoise của các bác sĩ P. Huard, F. Saurin, Nguyễn Xuân Nguyên, Nguyễn Văn Ðức - Hà Nội 1938 - thì các dân tộc gốc Mã Lai đều có chỉ số sọ trên 80, như Mã Lai, Thái, BắcViệt, Cao Miên và Ðại Hàn, ngoại trừ Nhật Bản, Mường và người Thục. Chỉ số sọ của người Tàu thì luôn luôn dưới 80.

Người Nhật có chỉ số sọ thấp nhất trong các nhóm Mã Lai Bách Việt chỉ vì họ bị lai giống với Tàu quá nhiều.

Người Mường mặc dù họ là Cổ Mã Lai như tất cả các phụ nữ và bần dân lại thuộc chủng Melanesien, chỉ trừ các đàn ông cấp lãnh đạo, do đó chỉ số sọ trung bình của họ không giống chỉ số sọ trung bình của người Bắc Việt Nam.

Người Thục có chỉ số sọ rất giống chỉ số sọ Trung Hoa, mặc dù họ thuộc chủng Thái. Cũng chỉ vì họ đã lai giống với Tàu trên cả hai ngàn năm rồi.

Chỉ số sọ của người Việt miền Nam thấp hơn chỉ số sọ của người Việt miền Bắc, chứng tỏ rằng người Việt miền Nam lai Tàu nhiều hơn người Việt miền Bắc.

    5. Ngôn ngữ tỷ hiệu

Theo ông Bình Nguyên Lộc thì một số danh từ Mã Lai trong ngôn ngữ Việt không phải là vay mượn hiển nhiên của các dân tộc khác như Chàm, Miên, Mường, Thái mà do từ gốc Cổ Mã Lai mà ra. Ông thẳng thừng bài bác lập luận cho là tiếng Việt là tiếng Tàu của sử gia Nguyễn Phương. Trong quyển Việt Nam Thời Khai Sinh, trang 230, sử gia Nguyễn Phương viết: "Hầu như có thể nói được rằng tiếng Việt Nam ngày nay, sau 10 thế kỷ độc lập, vẫn còn chính là tiếng Tàu, nhưng chỉ đọc lên một cách hơi khác với cách đọc của những tiếng địa phương ở Trung Quốc. Cố nhiên, trong Việt ngữ, đôi khi có xen vào đôi số những tiếng không phải gốc Tàu, như tiếng Mọi, tiếng Chàm, những hiện tượng đó không nói lên gì khác ngoài sự người Việt Nam trên đường bành trướng, đã có gặp người Mọi người Chàm, cũng một cách như họ đã gặp người Pháp trong thế kỷ qua và họ đã thâu nhận một số tiếng Pháp trong kho ngôn ngữ của họ".

Nhưng theo ông Bình Nguyên Lộc thì nếu đã phải vay mượn của Tàu thì tựu chung ta chỉ vay mượn những tiếng chỉ những ý niệm phức tạp, những dụng cụ lạ, vật dụng lạ. Như danh từ nước là một danh từ tối quan trọng để chỉ chất mà ta dùng hàng ngày để sống đã được sử dụng để gọi từ ngàn xưa, vậy thì sao ta không dùng chữ thủy của Tàu.

Vả lại với thiên kiến của một nước luôn tự hào là văn minh và xem cái gì của họ đều hơn của Man di cả, nhất là vấn đề ngôn ngữ, thì tất nhiên những danh từ như Lá, Trăng, Ngựa, Chòi, Túp, Cơm, Trâu, Cá, Bông, Chim, Vua, Cây dừa vv... ta phải nhất nhất dùng chữ Tàu, không nên vay mượn chữ của Mọi làm chi. Do đó chỉ có một cách trả lời là nó xảy ra thời thượng cổ, lúc hai dân tộc còn là một, tức ta với họ đồng chủng với nhau.

Ðiều này ông đã chứng minh khi đối chiếu các danh từ Việt với các dân tộc chủng Cổ Mã Lai, nếu ta không giống Chàm thì cũng giống Khơ Me, không giống Khơ Me thì cũng Thái, không giống Thái thì cũng giống người Thượng. Tóm lại danh từ Việt thế nào cũng giống danh từ của nhóm dân cùng chủng Cổ Mã Lai nào đó.

Sau đây là một số bản đối chiếu ngôn ngữ rút ra tưø quyển NGMLCDTVN của ông:

Việt Nam : Cá
Sơ Ðăng : Kaa
Mạ : Ká
Chàm : Kán
Mã Lai : Aka

Việt Nam : Cột
Sơ Ðăng : Kơt
Bà Na : Kơơt
Chàm : Kaat
Mã Lai : Ikaat

Việt Nam : Mắt
Sơ Ðăng : Mat
Mạ : Maht
Chàm : Kán
Mã Lai : Mata

Việt Nam : Mặt trăng
Bà Na : Mạt tlăng
Mạ : Maht kăn
Chàm : Blaăng
Mã Lai : Bulăng

Việt Nam : Sông
Chàm : Krong
Mường : Không
Bà Na : Krông
Mã Lai : Sôngai

Việt Nam : Trái (blái)
Mường : Blái
Bà Na : Plây
Sơ Ðăng : Plây
Thai : Pho la

Việt Nam : Cháu
Bà Na : Saò
Mạ : Sáu
Mường : Cau
Mã Lai : Chu

Việt Nam : Chim
Sơ Ðăng : Chim
Mường : Chim
Bà Na : Sêêm
Kha?La'Vàng : Tiêm

Việt Nam : Con (cái)
Mường : Kon
Bà Na : Koon
Sơ Ðăng : Kooon
Cao Miên : Kôn

Việt Nam : Con (vật)
Bà Na : Ko
Mạ : Ko
Cao Miên : Ko
Mường : Ko

Việt Nam : Ngày
Cao Miên : Thngay
Mường : Ngai
Sơ Ðăng : Haai
Môn : Tngay

Việt Nam : Con ruồi
Mạ : Ko Rhai
Bà Na : Ko Rooi
Mường : Ko Ruuêi
Cao Miên : Ko Ruy

Ngoài ra, ông cũng khám phá ra khá nhiều điều lý thú trong ngôn ngữ như:

Người Mường có danh từ Khai để chỉ con chó, đồng thời lại có nghĩa là con cọp. Theo cố đạo L. Cadière thì tiếng Việt xưa cũng gọi con chó là Khai, hình thức cổ sơ của danh từ con Cầy. Danh từ Bố Cái Ðại Vương, Cái là danh từ Mã Lai, có nghĩa là ông cha hùng mạnh, ông cha thủ lãnh. Hiện nay Mã Lai vẫn còn có danh từ Ibu La'ki, đúng nghĩa Bố Cái, vì Ibu=bố, La'ki=Cái, Ibu La'ki có nghĩa là nhà lãnh đạo.

Danh từ La'ki của Mã Lai biến thành Lìcáy của Chàm và Cái của Việt. Danh từ riêng của miền Nam "người lại cái", có nghĩa là bán nam bán nữ, chắc chắn là do danh từ Chàm mà ra, đó là "Càmay lagi lìcáy" dịch ra là "đàn bà lại còn đàn ông". Ta nuốt mất chữ Càmay lagi, chỉ còn Lìcáy biến thành Lại Cái. Hiện nay người miền Nam vẫn thường nói sai là "đàn ông lại cái", chỉ vì họ không rõ căn nguyên và lại hiểu sai chữ Cái là Ðàn bà. Ngay cả danh từ Thợ Cái, Sông Cái, hoặc trong lúc chơi bài bị bắt làm Cái cũng đồng nghĩa nêu trên.

Người Việt miền Nam thường dùng chữ Tía để chỉ người cha. Ðó là danh từ Tia của dân Thất Mân, Mã Lai đợt II. Các đảo Mã Lai đều nói là Tưa, có nghĩa là cha vợ, chứ không phải là Cha như người Việt miền Nam đã dùng sai.

    6. Ðồng bào Mường

Gọi là đồng bào, bởi vì theo ông Bình Nguyên Lộc rằng khoa học đã nhìn nhận rằng dân tộc Mường là Indonesien (Cổ Mã Lai) từ hơn thế kỷ nay, và ông đã chứng minh là dân ta cũng là gốc Mã Lai thì họ và ta là đồng bào rồi vậy.

Ðể viết về dân Mường, ông đã chọn tài liệu chủ lực cho sự nghiên cứu của ông, một cuốn sách mà ông thấy là đầy đủ nhất về dân tộc này, đó là quyển Les Mường, Géographie humaine et Sociologie của cô Jeanne Cuisinier do Viện Dân Tộc Học, Bảo Tàng Viện về Con Người xuất bản tại Paris năm 1946.

Như trong phần đo chỉ số của các giống tộc ở trên, người Mường không thuộc chủng Mã Lai mà lại thuộc chủng Thái, trong khi họ có ngôn ngữ rất gần với ta. Cô J. Cuisinier cho biết rằng quí tộc Mường, gia đình và họ hàng của các quan Lang, các thổ đạo, các hương chức hội tề thì xinh đẹp như người Việt. Còn bần dân và tất cả phụ nữ, kể cả phụ nữ thuộc hàng quí phái cũng bé choắt và xấu xí.

Ông Bình Nguyên Lộc giải thích rằng người Mường là quí tộc Lạc Việt từ Hoa Nam nam thiên cho nên không mang đàn bà theo kịp, họ đến đây hợp chủng với dân Melane'siens da đen xấu xí và lãnh đạo dân Melane'sien cho đến ngày nay. Vào thời thượng cổ, khi mà một cuộc di cư lớn lao xảy ra thì đa số phụ nữ bị bỏ rơi, hoặc yếu sức chết dọc đường. Cho nên khi đến địa bàn định cư, đàn ông goá vợ hay thanh niên thì lấy dân thổ trước làm vợ. Chính vì thế mà phụ nữ của họ mới không đồng chủng với họ.

Xét về ngôn ngữ thì văn phạm của hai dân tộc Mường và Việt giống hệt nhau:

Tiếng Việt Tiếng Mường

Ba hồn bảy vía con đùa (con trai), con gái, đâu đi về cùng bố, cùng mẹ, ăn cơm, ăn cá
Pa hồn pải piái on tứa, on kai, no tỉ vên kung pô, kung mè, ăn kơm ăn ka

Bố ơi chết bỏ ta làm sao vậy, thân mình ăn đâu ở đâu bố ơi
Pô ơi keát bô ta la no pò, thân hò ăn no ở no pô ơi!

Ăn ra khói nói ra lửa
Ăn za khuê nói za lửa

Ðể cho quỉ xa ma sợ
Tê co kwi sa ma đượi

Vía lúa ơi, về đụn về nhà mà ở
Piái ló ơi, vên tun vên nhà ma ở!

Cơm như vàng ròng
Kơm như yang rong

Danh từ Vua, thì họ nói là Bua. Trời, thì họ nói là Blời. Các cố đạo ngày xưa tại Việt Nam cũng viết là Bua, Blời, không phải vì các ông không biết âm Tr, mà bởi vì thuở đó ta cũng giống dân Mường đều không có âm Tr. Trái cây họ đọc là Tlai kây, Trái ngang họ nói là Plái ngang, Trâu họ kêu là Tlu vv...

Ngoài ra, trên mặt các trống đồng khai quật có khắc bộ hình một số người cầm gậy thọc xuống một vật mà đa số các nhà bác học Âu Châu cho rằng đó là động tác giã gạo. Nhưng nhà khảo cổ Lê Văn Lan đã lên xứ Mường và đã thấy người Mường ngày nay vẫn còn đánh trống như vậy, tức dùng gậy thọc xuống mặt trống.

Cô J. cuisinier còn viết rằng cô đã thấy toàn thể người Mường nhuộm răng đen, một số xâm mình, toàn thể ăn trầu, họ có đồng bóng và có sử dụng trống đồng loại lớn. Loại trống này chỉ có các quan Lang mới có và số tia của ngôi sao trên mặt trống càng nhiều thì tỏ rõ thế lực của ông quan Lang ấy, thông thường chỉ có 7,8 tia mà thôi.

Nói tóm lại, những giả thuyết, những lý luận mà các nhà ngữ học, bác học, sử học, nhân chủng học ngoại quốc cũng như người Việt nêu trên đã cho ta nhiều điều lý thú về nguồn gốc dân tộc cũng như nguồn gốc tiếng Việt. Qua đó, quí vị có thể tự suy ra kết luận hay ít nhiều cũng tạo hứng khởi trong việc tìm về nguồn cội văn hóa nước ta.

Tĩnh Túc
thanh.nguyen@student.uni-ulm.de



Chú thích:

    (1) Việt Nam Quốc Sử Diễn Ca, Lê Ngô Cát và Phạm Ðình Toái, tr.48

    (2) Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, tr. 11-12, Anh hùng nước tôi, MTQGTNGPVN, tr. 43

    (3) Việt Nam Tinh Hoa, Thái văn Kiểm, tr. 36

    (4) Việt Nam Tinh Hoa, Thái văn Kiểm, tr. 146 - 147

    (5) Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, tr. 5

    (6) Nguồn gốc dân tộc Việt Nam, Ðào Duy Anh, 1950.

    (7) Tầm Nguyên Tự Ðiển, Lê Ngọc Trụ, tr. 11

    (8) Nam Phong, số 110, tháng 10 năm 1926

    (9) Tầm Nguyên Tự Ðiển VN, tr. 12

    (10) Chánh tả Việt Ngữ, tr. 19

    (11) Việt Nam Tinh Hoa, tr. 100-101, tr. 155-158

    (12) Mượn của A. Chéon trong Note linguistique sur les Muong, BEFFEO, T5, tr, 338-339

    (13) Tầm Nguyên Tự Ðiển, Lê Ngọc Trụ, tr. 13

    (14) Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam - Xuân Thu xuất bản

    (15) Ðại Nam Nhất Thống Chí - Quốc Sứ Quán Triều Nguyễn, quyển 2, tr. 255, 288

    (16) Mượn của Phan Hưng nhơn, Diễn Ðàn Phụ Nữ 183 - 1999, trong bài "Nhìn lại nền văn hoá Ðông Sơn để nhó lại nguồn gốc của Trống Ðồng".





Copyright © Trường An. All rights reserved.