Solitude

.Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ. Đài mây trôi dạt phách hồn xa. More...

Từ Việt Hán và Từ Hoa Hán
Sunday, November 14, 2010 Author: Trường An

Năm 1977, tôi làm luận văn tốt nghiệp Đại học, thời bấy giờ có mốt dùng danh ngôn đề từ cho các chương, tới một chương dịch chữ Hán, không biết trời đất run rủi hay ma quỷ xui khiến mà tôi lại bịa ra một câu đề từ “Học ngoại ngữ - đó chỉ là một lối nói. Học lại tiếng mẹ đẻ một lần nữa, phải chăng đó mới là thực chất của vấn đề?”. Giáo viên hướng dẫn là thầy Bùi Duy Tân đọc thấy bèn nhẹ nhàng hỏi “Câu này cậu lấy của ai?”. Tôi ấp úng nói là quên mất rồi, Tân sư phụ nheo nheo mắt nói “Trích dẫn thì phải ghi rõ của ai chứ, thế này là thiếu nghiêm túc”. Lúc ấy thấy sư phụ chế nhạo mình học đòi sáng tác danh ngôn, mặt mũi sượng ngắt, về sau nghĩ lại mới ngờ ngợ là trong cái nheo mắt của ông hình như có ẩn chứa một lời khen (?). Mấy vị sư phụ chữ Hán tôi được thụ nghiệp đều tinh thâm Hán học, ai cũng xử sự với đệ tử theo nguyên tắc khích lệ người nhút nhát mà đè nén kẻ hiếu thắng, nên bây giờ nghĩ lại cũng thấy tự hào, hơn 20 tuổi đã chế tạo được danh ngôn (!) được sư phụ khen ngợi kiểu chế nhạo, nhưng bỏ cái bao bì ấy đi thì vẫn là khen, há chẳng vui ru? Cách đây vài năm lại đọc một bài phỏng vấn anh Cao Xuân Hạo, thấy anh nói một câu đại ý Muốn dịch giỏi phải giỏi tiếng Việt, trong lòng quả có cảm giác Bậc trí giả kiến thức thường giống nhau. Nhưng trong bản dịch Vô ảnh đăng (Đèn không hắt bóng) của Nhật qua bản tiếng Nga thì dịch giả Chiến tranh và hòa bình lại quá trung thành với bản tiếng Nga khi cho nhân vật bác sĩ nói với viên cảnh sát “Chữ thương bộ thủ chứ không phải chữ thương bộ nhân” trong khi hoàn toàn có thể dịch là “Tổn thương chứ không phải chấn thương”. Trong một lần uống rượu với anh Hạo tôi có nhắc tới chuyện này, và vì biết tôi từng được học chữ Hán với cụ Cao Xuân Huy, nên anh buồn rầu nói “Tôi không nối nghiệp được ông cụ về chữ Hán”. Thật ra đó chỉ là một sơ suất rất nhỏ trong thao tác dịch thuật nhưng lại khiến một nhà ngữ học nổi tiếng như Cao Xuân Hạo chạnh lòng nghĩ tới cả học nghiệp lẫn gia thế của mình, đủ thấy giỏi tiếng Việt trong đó có mảng từ Việt Hán là rất cần thiết dù không phải dễ.

Mươi năm trước, nhiều người hăng hái bàn tới việc dạy lại chữ Hán cho học sinh phổ thông, nhưng dù sao thì nói vẫn dễ hơn làm, vả lại muốn dạy chữ Hán thì trước hết phải đào tạo được một đội ngũ thầy cô để dạy chữ Hán, mà thứ kiến thức này xem ra lại không dễ dạy thêm như các môn Anh văn toán lý. Cho nên dường như các nhà Về nguồn học đã chán không muốn đeo đuổi mục tiêu ít thực tế và không kinh tế ấy nữa, có điều mảng từ Việt Hán trong tiếng Việt vẫn tồn tại với nhiều vấn đề khiến những người đọc sách phải quan tâm.

Phát triển nhiều năm trong môi trường văn hóa Việt Nam, mảng từ Việt Hán trong tiếng Việt có rất nhiều khác biệt với mảng từ Hoa Hán. Chẳng hạn cái mà người Việt Nam gọi là sức sản xuất thì người Trung Quốc gọi là sinh sản lực, người Việt Nam gọi là sinh sản (sinh đẻ) thì người Trung Quốc gọi là sinh dục, người Việt Nam gọi là sinh dục thì người Trung Quốc gọi là tính dục. Những biến động lịch sử ở Việt Nam còn làm hình thành trong mảng từ Việt Hán những biệt sắc địa phương khác nhau, chẳng hạn người miền Bắc đọc chữ Hán theo Đường âm thế kỷ IX, X thì nói là Hoàng, Phúc, Vũ, Diến Điện còn người miền Nam từ Quảng Nam trở vào chịu ảnh hưởng Minh âm, Thanh âm theo chân các di thần phản Thanh phục Minh Hoa Nam qua Đàng Trong tỵ nạn chính trị thế kỷ XVII, XVIII thì nói là Huỳnh, Phước, Võ, Miến Điện. Đây là chưa nói tới mảng từ Hoa Hán du nhập theo con đường khẩu ngữ loại lạp xưởng (lạp trường), há cảo (hà giảo), xào (sao), ké (ký), xỉu (hưu)... đặc biệt phổ biến trong phương ngữ Nam Bộ, cách đọc quen thuộc này đã xóa nhòa ranh giới Hoa Hán - Việt Hán trong trường hợp tên nữ diễn viên điện ảnh Hương Cảng Trịnh Bội Bội bị đọc thành Trịnh Phối Phối ở miền Nam trước 1975. Tương tự, nếu so sánh mảng từ Việt Hán ở hai miền Nam Bắc trước 1975 cũng có thể tìm thấy nhiều nét khác biệt như miền Nam nói là hoàn tất còn miền Bắc nói là kết thúc, hay quân đội Sài Gòn có sắc lính biệt kích thì quân đội miền Bắc có binh chủng đặc công, mỗi bên lấy một nửa trong các cặp từ đặc biệt và công kích để tạo từ. Ngoài ra qua thực tế sử dụng nhiều từ Việt Hán cũng dần dần được gán thêm những ý nghĩa trang trọng như trường kỷ nghe sang hơn ghế dài cũng như các sắc thái tình cảm - tâm lý riêng biệt, chẳng hạn thương thì khen là kiên trì còn ghét thì chê là cố chấp, hoặc địch thì ngoan cố chứ ta thì nhất định phải là kiên cường... mặc dù các cặp kiên trì - cố chấp, kiên cường - ngoan cố có nghĩa đen hoàn toàn giống nhau.

Nhiều người vẫn nghĩ nếu biết chữ Hán thì sẽ sử dụng các từ Việt Hán tốt hơn, ví dụ sẽ không lầm yếu điểm ra điểm yếu nhưng thật ra không hẳn như thế hay không chỉ như thế. Phía sau chữ Hán là cả một nền văn hóa phong phú về nội dung và đa dạng về phong cách, nên để nói và viết đúng mảng từ Việt Hán trong tiếng Việt hiện nay thì phải chú ý tới vấn đề từ pháp (cách cấu tạo từ). Chẳng hạn vô, bất, phi có vẻ gần nhau nhưng vô nghĩa, bất nghĩa, phi nghĩa thì hoàn toàn khác nhau. Từ trước 1975, người miền Nam đã quen với câu “Không biết thì không có tội” phổ biến trong các truyện võ hiệp. Nhưng các dịch giả đương thời vì sơ suất đã dịch sai, chứ đó vốn là thành ngữ “Bất tri giả bất tội” (Kẻ không biết thì không bắt tội). Vô tội mới là không có tội, chứ Bất tội là Không bắt tội, vì chữ tội trong Bất tội là một động từ (theo phương thức ý động pháp trong Hán ngữ), không phải danh từ như trong Vô tội. Hay cô = độc nhưng cô + lập thì khác độc + lập, hai từ này không ai dùng sai nhưng hỏi tại sao chúng khác nhau thì ngay cả nhiều vị làm tự điển chữ Hán cũng ú ớ. Bởi cô và độc ở đây có chức năng ngữ pháp khác nhau, độc là tính từ còn cô là động từ, từ pháp khác nhau dẫn tới ngữ nghĩa khác nhau (động từ cô lập cũng có hai thể bị động và chủ động, như bị kẻ khác cô lập và làm cho kẻ khác bị cô lập).

Theo với những thay đổi trong sinh hoạt xã hội, tiếng Việt trong đó có mảng từ Việt Hán hiện nay cũng có những nét mới. Khoảng đầu những năm 80 của thế kỷ trước, Giáo sư Trần Quốc Vượng có một bài viết về văn hóa Việt Nam trên báo Đại đoàn kết, nội dung thì hay nhưng có người chê anh Vượng dùng những từ như Nội lực văn hóa, đó là từ ngữ của truyện võ hiệp. Nhưng hiện nay thì người ta dùng tuốt cả Trưởng lão (cách mạng), Độc chiêu (quảng cáo) mà không ai thấy chướng tai. Có điều trên cái nền đổi mớI ấy vẫn có nhiều người không hiểu hay hiểu không rõ ý nghĩa các từ Việt Hán mà cứ sử dụng bừa đi nên trong rất nhiều trường hợp lại trở thành lố lăng, thậm chí còn là sai trái. Cách đây khoảng hai ba tháng, không nhớ Tuổi trẻ hay Sài Gòn giải phóng gì đó đưa một cái tin làm tôi giật nảy mình, đại khái là bắt được một nhóm sát thủ 12 – 13 tuổi. Đến khi đọc xong mới biết mấy đứa nhỏ ấy giết người. Trời ạ, sao không viết là giết người hay sát nhân, mà lại viết là sát thủ? Sát thủ là kẻ giết mướn, là một yếu tố trong dây chuyền công nghệ tội ác hiện đại, Việt Nam hiện nay cũng có đám đánh mướn chém mướn và có thể cả giết mướn, nhưng trẻ em 12 – 13 tuổi mà giết mướn thì nước ta đang trong tình trạng xã hội nào vậy, các vị làm báo sao không cân nhắc? Nhiều vị làm báo thích nói chữ Hán cho sang nhưng dốt nên thành nói bậy, nghe rất chướng tai, chẳng hạn đường ống nước ở phố X bị vỡ, nước chảy lênh láng ra đường, nhân dân địa phương đã báo hai ba hôm mà đến nay Công ty cấp nước vẫn chưa có động thái gì. Sao không viết là động tác hay hành động mà lại viết là động thái? Động thái là dáng vẻ của sự vận động, là một ý niệm trừu tượng giống như Hình thái, mà có ai viết Một cô gái có hình thái bên ngoài dễ nhìn không? Đây là chưa nói tới lối tạo từ Việt Hán vô nguyên tắc dẫn tới những vụ phi luân phi loại kiểu tôn Âu Cơ là Quốc mẫu còn gọi Hùng Vương là Quốc tổ, tức mẹ sinh ra ông nội, thật chẳng biết những người đầu tiên chế tác ra cặp từ Quốc mẫu - Quốc tổ ấy thờ cúng ông bà cha mẹ của họ ra sao mà bắt nhân dân phải gánh cái tội điên đảo luân thường tày đình thế này!

Có lần anh Cao Xuân Hạo nói với tôi là đi một đám cưới thấy người ta giới thiệu nhau kiểu “Vị này là hôn phu của cô kia”, nghĩ một lúc mới biết họ muốn nói anh này là vị hôn phu của cô kia. Vị ở đây là chưa, vị hôn phu tức chồng chưa cưới, họ lại tưởng là vị trong ngôi vị, kiểu các vị khách quý, các vị lãnh đạo nên mới ăn nói tréo ngoe như thế, nghĩ mà buồn cười. Cái chữ vị này còn lắm chuyện hay, ví dụ gần đây lại có người lẫn lộn vị tất (chưa nhất định, tức chưa chắc) với hà tất (tại sao phải nhất định, tức cần gì). Dĩ nhiên dùng từ sai cũng chẳng chết ai, có điều nếu thấy người ta toan nổi giận lại can bằng câu Tiên sinh vị tất nổi giận, ai nghe xong mà không nổi giận thật luôn thì đúng là chuyện lạ.

Cao Tự Thanh (1999 - 2007)




Những vần thơ hội ngộ
Wednesday, November 3, 2010 Author: Trường An

Thiền sư Ryokan

Túp lều của tôi cheo leo trên đỉnh một ngọn núi cô đơn
Thân xác tôi lang thang giữa mây trời
Trong ngôi làng buổi tối, gió, trăng.
Thật bình thản nhưng rồi đây tôi sẽ dùng chiếc gậy này
để gõ cửa vào nhà anh đấy.
Lòng tôi chẳng một tham vọng nào của mưu toan thế tục.
Cạnh giường, mùi hương trà bốc cao,
Chậm chạp đêm thu đang cạn dần.
Vẫn còn cháy, ngọn nến đặt bên thềm cửa sổ mở vào phương Nam.

Tháng thứ nhất khi vào hạ là mùa gieo trồng,
Tôi chống gậy lang thang.
Một người nông dân già bắt gặp tôi và lôi tôi đi đánh chén.
Lau sậy và cỏ khô làm ghế,
Lấy lá cây đồng làm đĩa.
Giữa cánh đồng, sau khi uống và đã uống không biết bao nhiêu chén,
Hả hê tôi nằm ngủ, gối đầu lên vệ đường.

Thu tàn, bầu trời tháng chín xanh biếc,
Một mình, hai tay ôm bình bát,
Tuy không báo trước, nhưng tôi sẽ đến gõ cửa nhà anh đấy.
Tôi à, tôi là một người tu hành đã trút bỏ mọi thèm khát thế tục.
Còn anh, một người lười biếng, sống trong một thời đại an bình,
Suốt ngày chẳng biết làm gì,
Chỉ uống rượu Sa-kê rồi nhìn núi non mà cười.

Đầu tháng hai xuân lại về,
Màu sắc của thiên nhiên đều đổi mới.
Đi xuống phố, chiếc bình bát trên tay,
Một đứa trẻ trông thấy, chúng gọi nhau đến hàng đàn và vui vẻ đứng nhìn tôi.
Lại rủ tôi cùng nhau đến cổng chùa,
Chúng chậm rãi bước theo tôi.
Đặt bình bát lên một tảng đá trắng,
Tay nải treo lên một cành cây xanh.
Nào, chúng ta vật nhau trên cỏ.
Này, chúng ta chơi ném bóng.
Tôi chơi thì chúng hát,
Tôi hát chúng lại chơi.
Cứ thế và cứ thế,
Tôi quên cả thời gian đang trôi,
Một người đi đường quay cổ lại và cười:
"Tại sao lại chơi đùa như thế?"
Tôi cúi đầu nhưng không trả lời gì cả
Thực ra nếu tôi có đủ sức đi nữa, thì tại sao phải giải thích?
Nếu ai muốn hiểu chốn tận cùng của tâm hồn tôi
Thì nó chỉ là như thế, không có lý do gì cả.

"Bên cạnh chùa
Trong khu rừng mùa xuân
Tôi chơi ném bóng với đàn trẻ con
Và ước mong rằng
Ngày hôm nay
Chẳng bao giờ sụp tối"




The Aeneid
Friday, January 22, 2010 Author: Trường An

By Virgil
Translated by John Dryden

----------------------------------------------------------------------

For I shall sing of battles, blood, and rage,
Which princes and their people did engage;
And haughty souls, that, mov'd with mutual hate,
In fighting fields pursued and found their fate;

BOOK I

Arms, and the man I sing, who, forc'd by fate,
And haughty Juno's unrelenting hate,
Expell'd and exil'd, left the Trojan shore.
Long labors, both by sea and land, he bore,
And in the doubtful war, before he won
The Latian realm, and built the destin'd town;
His banish'd gods restor'd to rites divine,
And settled sure succession in his line,
From whence the race of Alban fathers come,
And the long glories of majestic Rome.
O Muse! the causes and the crimes relate;
What goddess was provok'd, and whence her hate;
For what offense the Queen of Heav'n began
To persecute so brave, so just a man;
Involv'd his anxious life in endless cares,
Expos'd to wants, and hurried into wars!
Can heav'nly minds such high resentment show,
Or exercise their spite in human woe?
Against the Tiber's mouth, but far away,
An ancient town was seated on the sea;
A Tyrian colony; the people made
Stout for the war, and studious of their trade:
Carthage the name; belov'd by Juno more
Than her own Argos, or the Samian shore.
Here stood her chariot; here, if Heav'n were kind,
The seat of awful empire she design'd.
Yet she had heard an ancient rumor fly,
(Long cited by the people of the sky,)
That times to come should see the Trojan race
Her Carthage ruin, and her tow'rs deface;
Nor thus confin'd, the yoke of sov'reign sway
Should on the necks of all the nations lay.
She ponder'd this, and fear'd it was in fate;
Nor could forget the war she wag'd of late
For conqu'ring Greece against the Trojan state.
Besides, long causes working in her mind,
And secret seeds of envy, lay behind;
Deep graven in her heart the doom remain'd
Of partial Paris, and her form disdain'd;
The grace bestow'd on ravish'd Ganymed,
Electra's glories, and her injur'd bed.
Each was a cause alone; and all combin'd
To kindle vengeance in her haughty mind.
For this, far distant from the Latian coast
She drove the remnants of the Trojan host;
And sev'n long years th' unhappy wand'ring train
Were toss'd by storms, and scatter'd thro' the main.
Such time, such toil, requir'd the Roman name,
Such length of labor for so vast a frame.
Now scarce the Trojan fleet, with sails and oars,
Had left behind the fair Sicilian shores,
Ent'ring with cheerful shouts the wat'ry reign,
And plowing frothy furrows in the main;
When, lab'ring still with endless discontent,
The Queen of Heav'n did thus her fury vent:
"Then am I vanquish'd? must I yield?" said she,
"And must the Trojans reign in Italy?
So Fate will have it, and Jove adds his force;
Nor can my pow'r divert their happy course.
Could angry Pallas, with revengeful spleen,
The Grecian navy burn, and drown the men?
She, for the fault of one offending foe,
The bolts of Jove himself presum'd to throw:
With whirlwinds from beneath she toss'd the ship,
And bare expos'd the bosom of the deep;
Then, as an eagle gripes the trembling game,
The wretch, yet hissing with her father's flame,
She strongly seiz'd, and with a burning wound
Transfix'd, and naked, on a rock she bound.
But I, who walk in awful state above,
The majesty of heav'n, the sister wife of Jove,
For length of years my fruitless force employ
Against the thin remains of ruin'd Troy!
What nations now to Juno's pow'r will pray,
Or off'rings on my slighted altars lay?"
Thus rag'd the goddess; and, with fury fraught.
The restless regions of the storms she sought,
Where, in a spacious cave of living stone,
The tyrant Aeolus, from his airy throne,
With pow'r imperial curbs the struggling winds,
And sounding tempests in dark prisons binds.
This way and that th' impatient captives tend,
And, pressing for release, the mountains rend.
High in his hall th' undaunted monarch stands,
And shakes his scepter, and their rage commands;
Which did he not, their unresisted sway
Would sweep the world before them in their way;
Earth, air, and seas thro' empty space would roll,
And heav'n would fly before the driving soul.
In fear of this, the Father of the Gods
Confin'd their fury to those dark abodes,
And lock'd 'em safe within, oppress'd with mountain loads;
Read more »




1984
Monday, January 11, 2010 Author: Trường An

Thuở xưa (sách viết vậy), trước Cách Mạng hiển hách, Luân Đôn không phải là thành phố đẹp đẽ mà chúng ta biết ngày nay. Đó là một nơi tối tăm, bẩn thỉu, tồi tàn, hiếm ai đủ ăn, có hàng trăm hàng ngàn dân nghèo không có giầy ống để đi và không có cả mái nhà để ngủ. Trẻ con không lớn hơn các em phải làm việc mười hai tiếng một ngày cho bầy chủ ác nghiệt, họ quật roi vào chúng nếu chúng làm việc quá chậm và không cho chúng ăn uống gì ngoài vài mẩu bánh mì khô với nước. Nhưng giữa toàn sự nghèo khổ kinh khủng đó, có vài tòa nhà to lớn tráng lệ do người giàu ở với khoảng ba chục đầy tớ hầu hạ họ. Những người giàu đó được gọi là dân tư bản. Người họ mập mạp xấu xí, gương mặt họ đanh ác như người trong hình ở trang bên. Các em có thể thấy hắn mặc một chiếc áo khoác đen dài kêu là áo choàng rộng, và đội một cái mũ bóng lạ hình ống sưởi kêu là mũ cao thành. Đó là bộ đồng phục của dân tư bản, và không ai khác có quyền mặc như vậy. Dân tư bản làm chủ mọi thứ trên thế giới và mọi người khác đều là nô lệ của họ. Họ làm chủ mọi đất đai, mọi nhà cửa, mọi xưởng hãng và mọi tiền tài. Nếu ai không tuân lệnh họ, họ có thể tống người ấy vào tù, hoặc tước công việc của người ấy, hoặc bỏ người ấy chết đói. Khi một người thường nói chuyện với một dân tư bản, người ấy phải khúm núm, cúi chào, bỏ mũ và xưng với hắn ta: "Thưa ngài". Kẻ đứng đầu các dân tư bản được gọi là Vua và —

Nhưng anh thuộc phần liệt kê còn lại. Sẽ được nêu lên những giám mục trong cánh áo mỏng, những quan tòa trong áo lông chồn trắng, cái cột bêu tội nhân, những khối hàng tồn trữ, cái cối xay kỷ luật, cái roi chín đuôi, bữa tiệc mừng Thị Trưởng, và tục hôn chân Giáo Hoàng. Lại còn một thứ gọi là quyền đêm đầu tiên, chắc không được ghi trong sách dành cho trẻ con. Đó là một đạo luật cho phép các dân tư bản có quyền ngủ với mọi phụ nữ làm việc trong xưởng của họ.

Làm sao phân định được phần nói dối ? Có thể thật sự trung bình ra, con người ngày nay sống khá hơn thời trước Cách Mạng. Nghịch cứ độc nhất là sự phản kháng của xương cốt anh, linh giác rằng những điều kiện sống hiện tại không thể chấp nhận được, rằng phải có thời chúng khác hẳn. Anh bị kích động bởi ý nghĩ rằng đặc tính đúng của đời sống mới không phải là sự ác nghiệt hay bấp bênh của nó, mà chính là sự trống rỗng, vộ vị và vô tâm của nó. Nếu nhìn quanh, đời sống không những không giống những điều dối trá tuôn ra từ máy truyền hình, mà còn không giống những lý tưởng mà Đảng cố thực hiện. Quãng lớn đời sống, ngay đối với một Đảng viên, lừng chừng và không liên quan đến chính trị, nó là vất vả lo toan những công việc tẻ nhạt, là tranh giành một chỗ trong tàu hầm, là vá lại bí tất cũ rách, là xin xỏ một thẻ đường tinh, là để dành một mẩu thuốc lá. Lý tưởng do Đảng dựng lên là một cái gì to tát, khủng khiếp và chói lọi — một thế giới của thép và xi măng, của những máy móc quái gở và những khí giới kinh hồn —, một quốc gia chỉ gồm chiến sĩ và cuồng đồ hoàn toàn nhất trí tiến bước, cùng nghĩ như nhau, hô hào khẩu hiệu giống nhau, luôn luôn làm việc, chiến đấu, thắng trận và hành hạ người — ba trăm triệu người cùng một gương mặt. Thực tế là những thành phố đổ nát, buồn tẻ, trong đó dân chúng thiếu ăn lê qua lê lại trong những đôi giầy thủng lỗ tại những căn nhà vá víu xây từ thế kỷ mười chín hôi mùi rau cải và chuồng xí thối. Anh hình dung cảnh một thành phố Luân Đôn rộng lớn và đổ nát với một triệu thùng rác, và lẫn vào đó là hình ảnh của bà Parsons, một người đàn bà có khuôn mặt nhăn nheo và bộ tóc rối tung, đang loáy hoáy sửa một ống tháo nước.

Anh lại cúi xuống và gãi đầu gối. Đêm ngày máy truyền hình làm chói tai người với những con số thống kê chứng tỏ rằng ngày nay dân chúng có nhiều thức ăn hơn, nhiều quần áo hơn, nhà cửa tốt hơn, trò giải trí hay hơn — rằng họ sống lâu hơn, làm việc ít giờ hơn, cao lớn hơn, khỏe mạnh hơn, mập mạp hơn, sung sướng hơn, thông minh hơn, có giáo dục hơn năm mươi năm về trước. Không chứng minh hay bác bỏ được lời nào trong đó. Ví dụ, Đảng tuyên bố ngày nay 40% dân đen đứng tuổi biết đọc: trước Cách Mạng, theo Đảng, con số chỉ là 15%. Đảng bảo rằng ngày nay tỷ lệ trẻ con tử vong là 160/1000 trong khi trước Cách Mạng nó là 300/1000 — và cứ như thế. Y như một phương trình đơn với hai ẩn số. Rất có thể điều nào trong sách sử, ngay cả những điều được chấp nhận không đắn đo, cũng là điều bịa đặt. Theo chỗ anh biết, có thể chưa hề có điều luật nào là quyền đêm đầu tiên, có sinh vật nào là dân tư bản, hoặc có mũ nào là mũ cao thành.

Mọi sự tan biến trong mù mịt. Quá khứ đã bị san bằng, sự san bằng đã đi vào quên lãng, sự dối trá đã trở thành sự thật.

Ngôn Mới là ngôn ngữ chính thức của Đại Dương, đã được sáng chế để đáp ứng nhu cầu ý hệ Anh Xã hay Chủ Nghĩa Xã Hội Anh. Năm 1984 chưa có ai dùng Ngôn Mới làm dụng cụ thông tin độc nhất, dù là trong bài diễn thuyết hay bài văn. Những bài xã luận trong Thời Báo được viết bằng Ngôn Mới, nhưng đó là một công cuộc phi thường chỉ chuyên viên mới thực hiện nổi. Ngôn Mới được mong sẽ tận cùng thay thế Ngôn Cũ (hay Anh Ngữ thông dụng, như đáng nhẽ phải gọi nó) vào khoảng 2050. Trong khi chờ đợi nó kiên trì tiến bước, các Đảng viên càng ngày càng có khuynh hướng dùng các từ và lối kết cấu ngữ pháp Ngôn Mới trong lời nói hàng ngày của họ. Ngôn thể được dùng năm 1984 và được gồm trong Từ Điển Ngôn Mới Bản Thứ Chín và Thứ Mười, là một thể tạm thời, chứa đựng nhiều từ thừa và dạng cổ hủ sẽ bị gạt bỏ sau này. Nơi đây chúng ta bàn về thể hoàn hảo, cuối cùng, gồm trong bộ Từ Điển Bản Thứ Mười Một.

Mục đích của Ngôn Mới không những là cung cấp một phương tiện biểu lộ nhân sinh quan và tập quán tinh thần riêng của tín đồ Anh Xã, mà còn là khiến những lối tư tưởng khác không thể có được. Mục tiêu là khi Ngôn Mới được dứt khoát chấp nhận và Ngôn Cũ bị quên lãng, tư tưởng dị giáo — tức tư tưởng khác nguyên lý Anh Xã — sẽ không thể được nghĩ thành chữ, ít nhất trong chừng mực ý nghĩ lệ thuộc chữ. Ngữ vựng của Ngôn Mới được đặt cốt sao diễn tả đích xác và nhiều khi một cách rất tế nhị mọi ý tưởng một Đảng viên có thể muốn tỏ bày đúng, đồng thời khai trừ mọi ý nghĩa khác cũng như khả năng đạt tới những ý nghĩa đó nhờ một số phương sách gián tiếp. Điều ấy được thực hiện một phần nhờ sự sáng chế ra từ mới, nhưng đặc biệt nhờ sự loại trừ những từ không muốn dung nạp, cùng sự gạt bỏ khỏi những từ còn lại các ý nghĩa không chính thống và bất cứ nghĩa phụ nào, xa chừng nào đi nữa. Chỉ một thí dụ. Từ tự do sẽ được giữ trong Ngôn Mới nhưng nó chỉ sẽ được dùng trong những câu như "Con chó này tự do không có rận", "Cánh đồng này tự do không có cỏ dại". Nó không thể được dùng theo nghĩa "tự do chính trị" hay "tự do tinh thần" như cũ vì sự tự do chính trị hay tinh thần không còn nữa, dù dưới hình thức khái niệm, và bởi vậy tất nhiên không được nêu tên. Ngoài hẳn sự hủy bỏ những từ thực dị giáo, sự thu gọn từ vựng được coi như một cứu cánh, và không một từ nào có thể miễn được có phép tồn tại. Ngôn Mới được soạn cốt không phải để mở rộng, mà để giảm bớt tầm tư tưởng, và mục đích này được trợ giúp gián tiếp bởi sự cắt xén số từ tới mức tối thiểu.

Ngôn Mới dựa trên Anh ngữ như chúng ta hiện biết, mặc dầu nhiều câu Ngôn Mới, tuy không chứa đựng từ mới sáng chế, chắc khó hiểu đối với một người nói tiếng Anh ngày nay. Từ Ngôn Mới được chia ra làm ba hạng khác biệt, gọi là từ vựng A, từ vựng B (cũng có tên là từ kép) và từ vựng C. Giản dị hơn là bàn riêng về mỗi hạng, song các đặc điểm ngữ pháp của Ngôn Mới có thể được nêu cả trong phần dành cho từ vựng A, vì cả ba hạng cùng chung quy tắc.

Từ vựng A. Từ vựng A bao gồm những từ cần thiết cho công việc hàng ngày — như ăn uống, làm việc, mặc quần áo, lên xuống cầu thang, đi xe, làm vườn, thổi nấu, đại loại. Nó gần như hoàn toàn gồm những từ sẵn có — kiểu như đá, chạy, chó, cây, đường, nhà, ruộng — nhưng so với từ vựng Anh ngữ ngày nay số từ ấy rất ít, trong khi ý nghĩa của chúng được xác định khắt khe hơn nhiều. Mọi nghĩa nước đôi và mọi nghĩa cạnh đều bị tiễu trừ. Trong chừng mực thực hiện như thế nổi, mỗi từ Ngôn Mới thuộc hạng A chỉ được là một âm ngắt diễn tả có một khái niệm rõ ràng. Hoàn toàn không thể dùng từ vựng A với chủ định làm văn chương hay để bàn cãi về chính trị hoặc triết lý. Nó chỉ cốt diễn tả những tư tưởng hữu ý đơn giản, thường bao hàm đồ vật cụ thể hay hành động thể xác.

Ngữ pháp Ngôn Mới có hai đặc điểm quan trọng. Thứ nhất là tính gần như hoàn toàn đổi lẫn giữa những phần câu khác nhau. Bất cứ từ nào trong ngôn ngữ (trên nguyên tắc điều này áp dụng cho cả những từ rất trừu tượng như nếu hay khi) cũng có thể được dùng hoặc làm động từ, danh từ, tĩnh tự hay phó từ. Giữa hình thể động từ hay danh từ không có sự khác biệt nào nếu hai từ cùng gốc, và quy tắc này bao hàm sự hủy bỏ nhiều hình thể cổ xưa. Ví dụ, từ ý nghĩ không có trong Ngôn Mới. Nó được thay thế bởi ý được dùng làm danh từ lẫn động từ. Nguyên lý từ nguyên không được áp dụng nơi đây: có khi danh từ gốc được chọn, có lúc động từ được giữ. Ngay trong trường hợp danh từ và động từ có nghĩa tương tự nhưng không có liên hệ gốc gác với nhau, một trong hai từ thường bị trừ khử. Thí dụ không còn chữ tựa như cắt, nghĩa của nó được bao trùm đủ trong động danh từ dao. Tĩnh từ được cấu tạo nhờ gắn tiền tố đầy vào động danh từ, và phụ từ nhờ gắn tiền tố cách. Ví như đầy tốc có nghĩa là "nhanh", và cách tốc có nghĩa là "một cách nhanh chóng". Một số tĩnh từ ngày nay như tốt, to, lớn, đen, mềm được giữ lại nhưng tổng số từ được giữ như vậy rất ít. Chúng không mấy cần thiết, vì hầu hết tính ý có thể thấu đạt nhờ thêm đầy vào động danh từ. Không có phụ từ hiện có nào được giữ trừ một số rất ít đã có thêm sẵn chữ cách: tiền tố cách không thay đổi. Thí dụ, chữ giỏi được thay bằng cách tốt.

Lại nữa, bất cứ từ gì — điều này trên nguyên tắc áp dụng cho mọi từ thuộc Ngôn Mới — cũng có thể bị phủ định nhờ thêm tiền tố không hay được tăng cường nhờ gắn tiếp tố hơn, hay tiếp tố bội hơn nếu muốn nhấn mạnh hơn nữa. Cho nên tỷ dụ không lạnh có nghĩa là "ấm", trong khi lạnh hơn và lạnh bội hơn có nghĩa tương ứng là "rất lạnh" và "hết sức lạnh". Cũng có thể, như trong Anh ngữ ngày nay, đổi nghĩa của hầu hết từ nhờ các phụ tố như trước, sau, trên, dưới, v.v. Với những phương pháp trên thấy rõ có thể đi đến một sự giảm bớt lớn lao từ vựng. Thí dụ từ tốt đã có, thì từ xấu không còn cần thiết, bởi ý nghĩa của nó có thể được diễn tả đúng chẳng kém — còn hay hơn nữa — bởi không tốt. Điều cần thiết là mỗi khi có hai từ họp thành một cặp đối lập nhau phải quyết định nên bỏ từ nào. Ví như tối có thể được thay bởi không sáng và sáng bằng không tối tùy sớ thích.

Đặc điểm đáng kể thứ hai của pháp ngữ Ngôn Mới là tính đều đặn của nó. Trừ một vài ngoại lệ được kê ở dưới, mọi biến tố đều theo cùng quy tắc. Cho nên mọi thời quá khứ đều được chỉ bởi tiền tố đã. Như quá khứ của ý là đã ý, các dạng khác như vốn, vừa, từng, vv. đều bị loại bỏ. Mọi số nhiều được biểu hiệu bởi tiền tố chúng. Như số nhiều của người là chúng người. Các dạng khác như các, những, mọi, vv. đều bị khai trừ. Các tĩnh từ so sánh đều được ghép với hơn, nhất, những dạng khác như trội, gấp, vượt, bị loại cả.

Những loại từ độc nhất còn được phép đổi dạng không đúng qui củ là đại từ, đại từ quan hệ, tĩnh từ chỉ định, và trợ động từ. Các loại từ này theo quy tắc cũ, trừ từ mà bị gạt đi vì không cần thiết, và những từ sẽ phải, chắc sẽ bị loại trừ vì mọi ý tương lai đã được bao gồm dưới từ sẽ. Cũng có vài chỗ trái phép trong sự cấu tạo từ ngữ xuất phát từ sự cần nói cho nhanh cho dễ. Từ nào khó phát âm hay có thể bị hiểu nhầm, bị coi tức thì là từ dở: thành thử thỉnh thoảng, viện cớ hài âm, có chữ thừa được lồng vào một từ hay có một hình thái cổ được lưu giữ. Nhưng nhu cầu ấy thể hiện rõ hơn trong quan hệ của nó với ngữ vựng B. Tại sao lại quy cho sự phát âm dễ dàng một tầm quan trọng lớn như vậy, điều đó sẽ được giải thích sau trong tiểu luận này.

Từ vựng B. Từ vựng B bao gồm những từ được định đặt với ý đồ chính trị, tức không những các từ liên can đến chính trị mà cả các từ nhằm áp đặt trạng thái tinh thần mong muốn trên kẻ sử dụng chúng. Nếu không am hiểu các nguyên lý của Anh Xã, khó sử dụng đúng những từ này. Đôi khi những từ này có thể được dịch ra Ngôn Cũ hay cả ra từ thuộc ngữ vựng A, nhưng nếu làm vậy thường phải dài dòng và luôn luôn bỏ mất vài sắc thái. Từ B là một thứ lời tốc ký, hay tóm cả loạt ý vào vài âm tiết, đồng thời lại chính xác và có sức thuyết phục hơn ngôn ngữ bình thường.

Từ B bao giờ cũng là từ kép. Nó gồm hai ba từ, hay phần từ, gắn lại với nhau dưới một hình thức dễ đọc. Kết quả của sự tập hợp luôn luôn là một động danh từ, biến cách theo quy tắc thông thường. Chỉ lấy một ví dụ: từ ý tốt có nghĩa rất đại khái là "chính thống", hay là "nghĩ một cách chính thống" nếu muốn coi nó là một động từ. Biến cách của nó như sau: động danh từ, ý tốt; thời quá khứ và động tính từ quá khứ, đã ý tốt; động tính từ hiện tại, đang ý tốt; tĩnh từ, đầy ý tốt; phó từ, cách ý tốt; danh từ động, kẻ ý tốt.

Từ B không được kết cấu trên bình diện từ nguyên nào. Những từ cấu tạo ra nó có thể là bất cứ phần chữ nào, có thể được đặt theo bất cứ thứ tự nào, và có thể bị cắt xén theo mọi cách khiến nó được đọc dễ dàng cùng biểu thị căn nguyên của nó. Ví như trong từ tội ý (tội tư tưởng), chữ ý đi sau, nhưng nó đi trước trong từ ý đôi; và chữ cảnh sát mất đi một âm tiết trong từ cảnh ý (cảnh sát tư tưởng). Vì rất khó duy trì hài âm, thường có nhiều hình thái không đúng quy tắc trong ngữ vựng B hơn trong ngữ vựng A. Tỷ dụ, dạng tĩnh từ của Bộ Thật, Bộ Bình, Bộ Yêu đâm là của Bộ Thật, của Bộ Bình, của Bộ Yêu, chỉ vì đầy Bộ Thật, đầy Bộ Bình, đầy Bộ Yêu nghe hơi kỳ. Tuy nhiên, trên nguyên tắc, mọi từ B có thể biến cách, và đều biến cách một kiểu.

Có vài từ B có nghĩa rất tế nhị, thật khó hiểu đối với ai không thấu toàn diện ngôn ngữ. Hãy lấy làm thí dụ một câu điển hình trích trong một bài xã luận của Thời Báo như Kẻ ý cũ không bụng cảm Anh Xã. Được phiên dịch gọn nhất ra Ngôn Cũ nó sẽ thành: "Những kẻ ấp ủ tư tưởng thành hình trước Cách Mạng không thể cảm biết nguyên lý của Xã Hội Chủ Nghĩa Anh." Nhưng phiên dịch như vậy không đúng hẳn. Thứ nhất, muốn nắm trọn ý nghĩa của câu văn Ngôn Mới trích trên, phải có ý niệm rõ ràng về Anh Xã. Thêm vào, chỉ một người thật thông Anh Xã mới đánh giá được trọn vẹn mãnh lực của từ bụng cảm, một từ bao hàm một sự chấp nhận nhiệt thành khó tưởng tượng được ra ngày nay; hay hiệu lực của từ ý cũ, một từ trộn lẫn rối rắm với ý tưởng ác độc và suy đồi. Nhưng chức năng đặc biệt của vài từ Ngôn Mới trong đó có ý cũ không phải là tỏ nghĩa mà là loại nghĩa. Những từ ấy, tất nhiên không nhiều, có nghĩa rộng đến nỗi chứa đựng bên trong cả tràng từ nay, vì được bao trùm đủ ý dưới có một từ tổng quát, có thể bị gạt bỏ và quên lãng. Nỗi khó khăn lớn nhất mà nhà soạn thảo Từ Điển Ngôn Mới phải đương đầu với không phải là sáng tạo thêm từ mới, mà là làm sao nắm chắc được ý nghĩa của nó sau khi chế ra nó; tức là làm sao nắm chắc được số từ nó xóa bỏ đi bởi sự hiện hữu của nó.

Như chúng ta đã thấy trong trường hợp từ tự do, những từ đã từng có ý nghĩa dị giáo có khi được giữ lại vì tính cách tiện lợi của nó, nhưng sau khi các ý nghĩa bất khả dung đã bị tẩy trừ. Vô số từ khác như danh dự, công lý, đạo đức, quốc tế chủ nghĩa, dân chủ, khoa học, đạo giáo đơn thuần biến mất. Vài từ trùm gồm những từ ấy lại, và loại những từ ấy đi nhờ sự thâu tóm đó. Thí dụ, các từ tập quanh khái niệm tự do công bằng được khép trong mỗi một từ tội ý, trong khi các từ tập quanh khái niệm khách quan và duy lý được chứa trong mỗi từ ý cũ. Chính xác hơn sẽ nguy hiểm. Điều đòi hỏi nơi Đảng viên là một quan điểm giống như lối nhìn của người Do Thái xưa biết rằng, và không biết gì khác hơn, các dân tộc khác họ thờ "hư thần". Họ không cần biết những vị thần đó có tên là Baal, Osiris, Moloch, Ashtaroth hay gì khác; có lẽ họ càng biết ít, càng tốt cho lòng chính thống của họ. Họ biết Jehovah và những giáo điều của Jehovah: cho nên họ biết các thần có tên khác và thuộc tính khác đều là "hư thần". Có thể nói là tương tự như vậy, Đảng viên biết thế nào là cư xử đúng, và biết một cách hết sức mơ hồ, tổng quát, có thể trệch bước tới đâu. Ví dụ, đời sống sinh dục của họ hoàn toàn khuôn theo hai từ Ngôn Mới tội dục (sinh dục vô luân) và dục tốt (trinh tiết). Tội dục gồm mọi hành vi xấu xa về sinh dục. Nó bao trùm sự thông dâm, ngoại tình, đồng tính luyến ái, cùng các trò dâm dục đồi bại khác, cộng thêm sự giao cấu bình thường nhằm mục đích giao cấu mà thôi. Không cần kể từng hành vi một, vì hành vi nào cũng đáng tội như nhau, và trên nguyên tắc tội nào cũng khiến tội phạm bị xử tử. Trong ngữ vựng C gồm các từ khoa học kỹ thuật, có thể cần nêu danh vài hành vi loạn dâm, nhưng thường dân không cần đến những từ ấy. Người dân thường biết thế nào là dục tốt — tức sự giao cấu bình thường giữa vợ chồng, với mục đích duy nhất là sinh con, người đàn bà không được cảm thấy thú nhục dục trong đó: mọi trò sinh dục khác thuộc tội dục. Với Ngôn Mới khó theo đuổi được một tư tưởng dị giáo quá khái niệm đó là tư tưởng dị giáo: xa hơn điểm này không có danh từ cần thiết.

Không một từ nào trong ngữ vựng B trung tính về mặt tư tưởng hệ. Nhiều từ là uyển ngữ. Ví dụ, có từ như trại vui (trại khổ sai) hay Bộ Bình (Bộ Hòa Bình, tức Bộ Chiến Tranh) có nghĩa gần như trái hẳn ý biểu lộ. Mặt khác, có từ bày tỏ một sự am hiểu miệt thị bản chất xã hội Đại Dương. Một thí dụ là từ dưỡng dân, chỉ cái trò giải trí đê tiện và những tin tức giả mạo mà Đảng ban cho quần chúng. Lại có những từ nước đôi, có nghĩa "tốt" khi đem áp dụng cho Đảng và nghĩa "xấu" khi mang gắn cho quân thù của Đảng. Nhưng thêm vào có rất nhiều từ thoạt coi chỉ là chữ tắt, có sắc thái ý hệ không phải do nghĩa mà do lối kết cấu.

Bất cứ ý tưởng gì có tính cách chính trị đều được cố sức ghép thành từ thuộc ngữ vựng B. Tên của các tổ chức, đoàn thể, học thuyết, xứ sở, thể chế, hay công thự luôn luôn bị cắt xén tới dạng bình dị; tức thành có một từ dễ đọc với thật ít âm song vẫn giữ được nguyên nghĩa. Ví như tại Bộ Sự Thật, Cục Văn Khố, nơi Winston làm việc, được gọi là Cục Khố, Cục Soạn Truyện được gọi là Cục Truyện, Cục Chương Trình Vô Tuyến Truyền Hình là Cục Trình Hình v.v... Phép thâu tắt này không chỉ nhằm mục đích tiết kiệm thì giờ. Ngay thời các thập niên đầu thế kỷ hai mươi, từ và câu lồng vào nhau đã là đặc điểm của ngôn ngữ chính trị; và người ta đã để ý thấy rằng khuynh hướng dùng tiếng vắn tắt kiểu đó nổi bật nhất tại các nước và tổ chức cực quyền. Điển hình là những từ ngữ như Nazi (Quốc Xã), Gestapo (Kiểm Cảnh), Comintern (Cộng Sản Quốc Tế), Inprecorr (Liên Lạc Viên Tiền Phong Quốc Tế ?), Agitprop (Khuấy Động Tuyên Truyền). Thoạt đầu lối ghép chữ này được chấp nhận làm như một cách tự nhiên, nhưng trong Ngôn Mới nó được áp dụng với một mục tiêu có chủ ý. Có sự nhận thức thấy rằng mỗi khi một từ bị rút ngắn, đồng thời nghĩa của nó bị thâu hẹp và biến đổi một cách tinh tế, vì mất đi đa số liên tưởng đáng nhẽ bám vào nó. Tỷ như các từ Cộng Sản Quốc Tế khêu gợi hình ảnh hỗn hợp của tình nhân loại, cờ đỏ, vật cản đường, Các Mác, Công Xã Ba Lê. Mặt khác, từ Cộng Tế (Comintern) chỉ gợi ý một tổ chức chặt chẽ và một bộ học thuyết xác định. Nó nhắc tới một thứ gần như cũng dễ nhận và cũng có nghĩa hạn định như một cái bàn hoặc cái ghế. Cộng Tế là một từ có thể được thốt ra không cần suy nghĩ, trong khi Cộng Sản Quốc Tế là một thành ngữ bắt người ta lần lữa ít nhất đôi chút. Cũng vậy, những liên tưởng được khích động bởi một từ như Bộ Thật ít hơn và dễ kiểm soát hơn những liên tưởng đi đôi với Bộ Sự Thật. Sự kiện này bảo đảm không những cho thói vắn tắt mỗi khi có dịp, mà cả cho tật chăm sóc hầu như quá đáng sự dễ phát âm của mỗi từ. Trong Ngôn Mới, ngoài câu thúc đúng nghĩa, luật hài âm thắng mọi quan điểm khác. Qui tắc văn phạm luôn luôn bị hy sinh cho nó nếu cần. Và thế là phải, bởi nhu cầu, trước hết vì mục tiêu chính trị, là những từ vắn tắt, có ý nghĩa rõ ràng, có thể được phát âm nhanh, lại gợi tối thiểu tiếng vang trong óc kẻ thốt ra chúng. Các từ thuộc ngữ vựng B còn thêm hiệu lực nhờ sự hầu hết chúng tương tự nhau. Gần như luôn luôn những từ ấy — ý tốt, Bộ Bình, dưỡng dân, tội dục, trại vui, Anh Xã, bụng cảm, cảnh ý và vô số từ khác — gồm hai hoặc ba âm, với sự nhấn mạnh chia đều giữa âm đầu và âm cuối. Sự sử dụng những từ này khuyến khích lối diễn văn hiếu thắng, tẻ ngắt, ngay đầu đã giật giọng. Và đấy đúng là đích nhắm. Dụng ý là khiến lời văn, nhất là văn bàn về một vấn đề hơi không trung tính trên phương diện ý hệ, hết sức tách rời khỏi tâm thức. Dĩ nhiên, trong đời sống hàng ngày bắt buộc hay thỉnh thoảng bắt buộc phải suy nghĩ trước khi nói, nhưng một Đảng viên được yêu cầu phán đoán về luân lý hay chính trị phải có khả năng tuôn ra quan điểm đúng đắn một cách tự động chẳng kém gì súng liên thanh xả đạn. Sự rèn luyện khiến họ thích ứng với việc làm này, ngôn ngữ cấp cho họ một dụng cụ gần như vượt mọi thử thách, và sự kết cấu của các từ, với âm thanh chát :Di và cái bề thô sơ cố ý thích hợp với tinh thần Anh Xã, giúp cho quá trình diễn tiến xa hơn.

Đấy là hậu quả của sự có rất ít từ để chọn lựa. So với ngôn ngữ của chúng ta, ngữ vựng Ngôn Mới eo hẹp, và luôn luôn có sự tìm kiếm phương cách mới nhằm thu gọn nó lại. Quả vậy, Ngôn Mới khác các ngôn ngữ khác ở cái mỗi năm từ vựng của nó bị thu hẹp lại thay vì được nới rộng ra. Mỗi sự giảm sút là một vụ lợi, vì tầm chọn lựa càng hẹp, lòng rắp rem suy nghĩ càng mòn. :Dt cùng là hy vọng khiến cho sự cấu âm phát sinh từ cổ họng, không cần dính líu đến các khu thần kinh cao cả. Mục tiêu này được thành thực thừa nhận trong từ Ngôn Mới nói vịt có nghĩa là "nói quặc quặc như vịt". Như nhiều từ khác trong ngữ vựng B, nói vịt có tính đôi chiều về ý nghĩa. Miễn quan điểm được quặc ra là quan điểm chính thống, từ đó không bao hàm gì hơn ý khen ngợi, và khi Thời Báo nhắc tới một diễn giả thuộc Đảng như một kẻ nói vịt tốt bội hơn, đó là báo có ý ban một lời khen đáng giá, nồng nhiệt.

Từ vựng C. Từ vựng C bổ sung hai từ vựng trên và toàn gồm các từ khoa học kỹ thuật. Loại từ này giống như các từ khoa học hiện dụng, và được cấu tạo trên căn bản tương tự, song như thường lệ việc định nghĩa khắt khe và việc loại trừ những ý nghĩa bất hảo rất được chăm sóc. Chúng theo cùng qui tắc với các từ thuộc hai từ vựng kia. Rất ít từ C được thông dụng trong văn hàng ngày hay văn chính trị. Nhân viên khoa học kỹ thuật nào cũng có thể tra các từ cần đến trong bảng mục lục dành riêng cho ngành của mình, nhưng hiếm khi được biết hơn chút khái niệm về những từ ghi trong các bảng khác. Chỉ có rất ít từ chung cho toàn thể các mục lục, và không có ngữ vựng biểu lộ năng chức của khoa học như một tập quán tinh thần, hay một phương pháp suy tưởng, không lệ thuộc riêng ngành nào. Vả lại, không có từ chỉ "Khoa học", mọi nghĩa có thể được nó đội đã do từ Anh Xã bao trùm đủ rồi.


Chiếu theo trên, ta thấy rằng trong Ngôn Mới, sự phát biểu quan điểm bất chính thống, quá một mức rất thấp, gần như không thể có được. Dĩ nhiên, có thể thốt ra một loại tà ngôn thật tục, một loại lời báng bổ. Ví như có thể bảo rằng Bác không tốt. Nhưng câu này, vào tai kẻ chính thống chỉ đượm tính phi lý hiển nhiên, không thể được dựa trên luận cứ nào, vì không sẵn có từ cần thiết. Những ý tưởng nghịch với Anh Xã chỉ có thể được nuôi dưỡng dưới một hình thức mơ hồ không tên, và chỉ có thể được nêu lên bằng những từ rất tổng quát kết khối với nhau nên nhờ đó không cần định nghĩa mà bít bí được hàng nhóm tà thuyết. Thực ra, chỉ có thể dùng Ngôn Mới nhằm mục tiêu bất chính thống bằng cách dịch lại một cách bất hợp pháp vài từ sang Ngôn Cũ. Ví dụ, Mọi người đều bằng nhau có thể là một câu Ngôn Mới, nhưng chỉ tựa như Mọi người đều tóc hung có thể là một câu Ngôn Cũ. Nó không sai văn phạm, nhưng diễn tả một sự sai ngoa dễ thấy — làm như nó cho rằng mọi người ai cũng bằng bề nhau, bằng cân nhau, bằng sức nhau. Khái niệm bình đẳng chính trị không còn nữa, cho nên nghĩa phụ này đã bị khử trừ khỏi từ bằng nhau. Năm 1984, khi Ngôn Cũ còn là phương tiện truyền thông bình thường, trên lý thuyết có mối nguy kẻ dùng từ Ngôn Mới có thể nhớ lại nguyên nghĩa của chúng. Trên thực tế, bất cứ ai vững ý đôi cũng tránh được chuyện đó, vả lại sau hai thế hệ ngay cái khả năng nhầm lẫn kia cũng sẽ biến mất. Một người sinh trưởng với Ngôn Mới làm ngôn ngữ độc nhất sẽ không còn biết rằng bằng nhau có thời có nghĩa phụ là "bằng nhau về mặt chính trị", hay biết rằng tự do có thời nghĩa là "tự do về mặt tinh thần", chẳng khác gì một người chưa từng nghe nói tới cờ sẽ không hiểu được nghĩa phụ của tướng và xe. Sẽ có nhiều trọng tội và điều sai lầm vượt khả năng phạm phải của họ, chỉ vì chúng không có tên và bởi vậy không thể tưởng tượng ra được. Và phải dự kiến rằng với thời gian các đặc tính của Ngôn Mới sẽ càng ngày càng hiển hiện — số từ ít dần, nghĩa của các từ thêm ngặt, khả năng dùng từ một cách không thích đáng mãi mãi suy giảm.

Một khi Ngôn Cũ bị thay thế hẳn, mối liên lạc cuối cùng với quá khứ sẽ bị cắt đứt. Lịch sử đã bị viết lại, nhưng nhiều mẩu văn chương thuộc quá khứ còn tồn tại đâu đó, không bị kiểm duyệt hết, và còn có người giữ được một chút hiểu biết về Ngôn Cũ, những mẩu đó còn có thể được đọc. Nay mai, dù những mẩu đó có cơ tồn tại, không ai hiểu nổi hay dịch nổi chúng. Không thể dịch được một đoạn Ngôn Cũ sang Ngôn Mới trừ phi nó liên quan đến một quá trình kỹ thuật hay một hành động hàng ngày thật đơn giản, hoặc nó đã sẵn có khuynh hướng chính thống (từ Ngôn Mới sẽ là đầy ý tốt). Trên thực tế như vậy là không có sách nào viết trước khoảng 1960 có thể được dịch trọn vẹn. Văn chương trước Cách mạng chỉ có thể được chuyển dịch theo ý hệ — tức bị biến nghĩa và biến lời. Hãy lấy làm ví dụ đoạn văn danh tiếng trích từ Bản Tuyên Ngôn Độc Lập:

Chúng tôi coi những sự thực sau đây là điều hiển nhiên: Rằng con người sinh ra ai cũng bằng ai, ai cũng được Thượng Đế ban cho một số quyền lợi bất khả di nhượng, rằng trong đó có quyền sinh sống, quyền tự do, và quyền theo đuổi hạnh phúc. Rằng để duy trì những quyền lợi ấy, các Chính Quyền đã được đặt trong nhân loại, rút quyền lực từ sự ưng thuận của những kẻ bị cai trị. Rằng mỗi khi một Chính Thể đi đến chỗ phá hủy mục đích trên, quyền của Dân Chúng là thay đổi hay loại bỏ Chính Thế đó để thiết lập một Chính Quyền mới...

Hoàn toàn không thể chuyển đoạn văn này sang Ngôn Mới mà vẫn giữ được ý nghĩa của nguyên bản. Phiên dịch sát ý nhất sẽ là gom cả đoạn trong có một từ tội ý. Một bản dịch đầy đủ chỉ có thể là một bản dịch trọng ý hệ, theo đó từ ngữ của Jefferson biến thành một bản văn tâng bốc chính thể chuyên chế.

Thật vậy, một phần lớn văn chương quá khứ đã bị biến đổi kiểu đó. Xét về mặt uy tín, nên duy trì ký ức của một vài nhân vật lịch sử nhưng đồng thời khiến những công trình của họ tương ứng với triết lý Anh Xã. Nhiều văn hào như Shakespeare, Milton, Swift, Byron, Dickens, và khác nữa, đương được dịch vì lẽ đó: một khi công việc hoàn thành, văn bản nguyên thủy của họ cùng với những di tích văn chương quá khứ khác sẽ bị hủy hoại. Việc phiên dịch này là một công việc chậm chạp khó khăn, không mong gì làm xong trước nhị thập niên đầu thế kỷ hai mươi mốt. Chính vì để có đủ thì giờ hoàn thành công việc dịch thuật sơ bộ mà sự chấp nhận Ngôn Mới chót cùng đã được ấn định vào một ngày rất xa vào năm 2050.

1984 - George Orwell




Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà
Thursday, August 13, 2009 Author: Trường An

Đi lang thang rồi bị "đầu độc" vở cải lương Võ Đông Sơ, Bạch Thu Hà. Thú thiệt là trước giờ tớ không mê cải lương, chẳng qua giờ "lỡ dại" nói ra mình đang tìm tư liệu, thế là... Đến giờ mới biết vở cải lương này nói về cái gì.

(Ờ, thì nó có liên quan đến chuyện tớ đang "ngâm cứu", tuy cũng là không liên quan gì lắm).

Nội dung: Dưới thời Gia Long, Võ Đông Sơ là con trai của Võ Tánh (người VN rất khoái nhận họ hàng với người nổi tiếng, đây là tiểu thuyết giả sử nên không cần biết đây là ai ạ :D ), trên đường đến kinh ứng thí thì gặp Bạch Thu Hà, con Tổng trấn Tây thành (lại lần nữa, đây là hư cấu nên không cần biết Tây thành là thành nào :D ), làm bạn với Trần Dõng. Nói chung hai người gặp khá nhiều rắc rối.

Võ Đông Sơ được cử đi đánh giặc Tàu Ô, rồi chết trong khi đang đánh nhau với Thanh (Giặc Thanh ở đây có thể là bọn Tàu Ô trên bộ - đây là nhóm cướp còn lại rất nhiều ở vùng biên giới sau khi Ngô Tam Quế bị diệt). Cho thấy tình hình biên giới phía Bắc vào thời Nguyễn cũng chẳng mấy yên ổn.

Dưới đây là nội dung của truyện tranh được viết lại từ tiểu thuyết của Hồng Bàng. Dài qúa nên để tab spoiler.

(Kể ra, về thân thế thì "làm màu"thế thôi, chả thấy liên quan chỗ nào. Nhưng với tư cách là truyện của người miền Nam thì có thể nói nó được gợi cảm hứng khá nhiều từ "người thật".)

Show ▼

Biên cương lá rơi Thu Hà em ơi,
đường dài mịt mùng em không đến nơi.
Mây nước buồn cơn lửa binh,
há cay chuyện chung tình,
khóc than riêng em một mình.

Cây tuôn lá xanh xây mồ cho anh,
tình đầu bẽ bàng trong cơn chiến chinh.
Đưa tiễn nào hay rẽ chia,
cách trở hận muôn đời.
Nói nữa chi thêm nghẹn lời.

Trời ơi! Bởi sa cơ giữa chiến truờng thọ tiễn nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu Hà.
Bạn tình ơi! Đừng hoài công mòn mỏi đợi chờ.
Hãy gọi tên anh trong những chiều xuân lạnh khi cánh nhạn bay về cuối nẻo trời xa.
Hay những lúc canh khuya tựa rèm châu ngắm áng trăng tà,
nàng hãy nhớ đến tháng năm này, có một người yêu đã vùi thây giữa vùng cát trắng.

Ta cảm thấy một vùng trời đất hình như đảo lộn, máu đào tuôn ướt đẫm nhung bào
Ta gọi tên em trong tiếng nấc nghẹn ngào.
Đây mới thật là lần chia ly vĩnh viễn, hết mong gì gặp gỡ cùng nhau.
Rượu ly bôi ngày ấy tiễn anh đi, hoa lá bay theo vó ngựa phi,
có biết đâu buổi tiễn đưa hôm ấy là buổi chia ly nàng chờ đợi mà chi.

Ta cảm thấy máu ngừng trong nhịp thở, rút gươm thiêng mà dòng lệ tuôn sa.
Khắc vào cây ba chữ Bạch Thu Hà để kỷ niệm ngày ta không gặp nữa.

Tuấn mã ơi! Hãy phi mau về báo hung tin cho quân ta được rõ rằng Võ Đông Sơ đã vùi thây trong gió bụi quan hà.
Tiếng kẻng thu quân tắt liệm tự bao giờ.
Hoàng hôn phủ trùm lên bãi chiến một vẻ u buồn lạnh lẽo tiêu sơ.

Lá rừng rơi rụng như mưa, phải chăng xây hộ nấm mồ cho ta.
Máu hồng theo lệ tuôn sa, nhắc câu chung thủy lòng ta nghẹn ngào.

Máu đào tuôn đẫm ướt nhung bào, chí anh hùng vùi trong kiếm đao.
Tóc chiều rơi cuối nẻo biên thùy, ta thấy miền xa rũ bóng quân kỳ.

Ta muốn kêu lên ba tiếng Bạch Thu Hà.
Bạch Thu Hà ơi! Tim ta như ngừng đập, máu tuần hoàn ngưng chảy khắp châu thân.
Thôi thôi, lỡ làng tiếng hẹn trăm năm, từ đây nàng có nhớ đến ta,
hãy ngâm câu "túy ngọa sa trường quân mạc tiễu, cổ lai kinh chiến kỷ nhân hờn"

Bạch Thu Hà, Bạch Thu Hà ơi!
Nàng đã bao phen vượt suối trèo non để giữ vẹn tiết trinh, ta mấy bận lao mình trong nắng gió.
Chuyện hàn huyên chưa cùng nhau cạn tỏ thì giọt máu chung tình đã nhuộm thắm chinh y.
Từ đây hết nợ hết duyên, hết ân hết ái, lưỡi gươm thiêng ta xin gởi lại cho người yêu lý tưởng Bạch Thu Hà.

Hỡi tình chung ơi!
Đường dài mịt mùng em không đến nơi.
Mây nước buồn cơn lửa binh,
há cay chuyện chung tình,
khóc than riêng em một mình

Võ Đông Sơ:

Khói mờ sa trường, quê hương lầm than binh lửa
Chí hùng tung hoàng, thân trai chẳng màng tử sinh

Hôm chia ly chàng ra đi cầm tay hứa ngày trùng hoàng
Ơi hay đâu tình ly tan, duyên trúc mai chia lìa

Biên cương chập chùng xa, cùng vó câu tiếng quân hò reo
Nơi mũi đạn lằn tên có mấy ai quay trở về
Này câu giao ước xin gửi bạn tình chung

Trời ơi, lạnh lẽo màu tang trước linh sàng ủ rũ
Võ lang ơi, hồn anh có nương theo ngọn gió hãy về đây chứng chiếu Bạch Thu Hà
Khóc cảnh lìa tan đứt nối lệ chan hòa

Bởi thọ tiễn thương giữa dòng chinh chiến nên giọt máu hồng nhuộm thắm bãi trường sa

Những tưởng buổi tương phùng được vầy cuộc đôi ta cho được trăm năm vẹn vẽ hương nguyền
Ai có ngờ duyên mới trao duyên thì giấc mộng tình đã thành thiên lệ sử

Từ cõi hư vô anh theo gió mây tìm về quê cũ
Khóc làm chi em hỡi Bạch Thu Hà
Anh đã về đây khi trăng lặn sau nhà

Sao đôi mắt anh nhìn em như đẫm lệ
Máu anh hùng nhuộm đỏ toàn thân

Tỉnh dậy đi em mình cùng cạn nỗi hàn huyên
Sợ bình minh trở lại mình sẽ chia lìa đôi ngả

Anh về từ đâu sao không nghe vó ngựa, đứng lặng bên thềm lã chã lệ sầu tuôn

Gió hiu hắt máu hồng ướt đẫm chiến bào
Đền nợ núi sông hồn nhẹ bước quê nhà

Từ đây mãi mãi còn thấy đâu người xưa?
Vó câu đã xa khó mong ngày trùng phùng

Còn tìm đâu phút bên nhau
Theo gió mây đến phương nao?

Lệ khóc cho tình ta đôi ngả
Lá rơi sao ngỡ như bước chân chàng trở về?

Bạch Thu Hà ơi, anh đâu phải là kẻ sống còn trên dương thế
Mà anh chỉ là hồn ma bóng quế về thăm em trong đêm vắng canh tàn
Giây phút gần nhau rồi cách biệt đôi đàng

Trời ơi mới nghe qua như đất bằng sấm dậy
Còn mong gì tái ngộ hỡi tình lang

Kìa tiếng gà đã giục giã gáy vang
Như báo hiệu bình minh đà trở lại
Em ơi, túy ngọa sa trường quân mạc tiễu, cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?

Trời ơi cơn ác mộng mới vừa chợt tỉnh thì lệ tình bỗng ràn rụa vành khăn
Có phải hồn anh về đón rước em chăng để duyên đôi lứa được trọn đời hẹn ước?

Tiếng trống tàn canh từ đâu vọng đến
Có phải phút chia lìa để vĩnh biệt nàng Thu

Thôi rồi lệ hóa cồn châu, lỡ bề duyên nợ lỡ câu đá vàng

Âm dương ngăn cách đôi mình, giọt máu chung tình em còn nhớ không em?

Bạch Thu Hà

Trong khói hương mơ màng tung bay
đêm tóc tang u buồn nhớ ai
Nửa chừng duyên kiếp chia phôi
Ai đi cách mấy phương trời
Duyên trúc mai vĩnh viễn xa rồi.

Ai biết đâu một lần chia tay
Riêng thiếp cam chịu nhiều đắng cay
Mối sầu bao thuở chưa nguôi
Ly tan nhớ tiếc muôn đời
Bao đắng cay than chẳng nên lời.

Võ lang ơi đôi ngã sâm thương uyên ương rã cánh, thiếp đành cam gãy gánh chung tình.
Gió kép mưa đơn, thiếp thui thủi một mình.
Chàng hy sinh đền ơn xã tắc
Thiếp nghẹn ngào tím ruột bầm gan.
Rảo bước theo đám quân canh đến trước tùng đình,
Thiếp ngập ngừng chưa dám bước vào trong.
Bởi thiếp đây đâu dám ngờ rằng
Võ Đông Sơ đã ra người thiên cổ.

Đàn đứt dây rồi phím đã long
Làm sao dạo được bản tương phùng.
Thiếp gởi niềm đau theo giọt lệ ly tình.
Trống thành tây mấy dùi khoan nhặt
Thiếp hãi hùng như tiếng trống tàn canh.
Bẽ bàng thay tuổi đầu xanh
đầu xanh vương lấy nợ tình mà chi.
để rồi chịu cảnh chia ly
Một buổi phân kỳ lệ hận trào tuôn.

Lỡ giấc mơ tình giữa tuổi xuân
Lầm than gió bụi biết bao lần
Thiên thu điệp mộng hồn trinh nữ
Vạn cổ tình, hoài vọng cố nhân...

Thiếp muốn xé tan áng mây trên tầng cao diệu vợi, để hỏi thử cao xanh ông ghét ghen chi mà để tội kẻ chương đài.
Một kiếp quần thoa lận đận biết bao ngày.
Nhưng mảnh kiên trinh thiếp nguyền vẹn giữ
Cho trọn lời đoan thệ cùng ai.
Thôi rồi đá nát vàng phai
Cầu Ô lỡ nhịp mộng đời dở dang.
Nhìn lên trướng rủ màu tang
Chàng đi để thiếp khóc than một mình.

Ánh nguyệt mới nhô lên đã bị phủ che bởi vầng mây xám.
Cũng như đời thiếp vừa thoát cơn khổ nạn
đã đành cam vắng bạn chung tình.
Quấn mảnh khăn tang thiếp quỳ trước tùng đình.
Chàng ra đi muôn đời không trở lại
Chén rượu đào thiếp đưa tiễn ai đây?
Rượu sanh ly dưới làn hương khói
Trước linh sàng thiếp thổn thức từng cơn.
Rượu đôi chung, lễ người thiên cổ
Tiễn đưa ai đi mãi không về.

Võ lang, Võ lang,
Trời ơi thiếp đã gào lên mấy lượt
Sao chàng vẫn im lìm trong cỗ áo quan.
Bạch lạp lờ mờ như đổ lệ sầu than
Khóc cho đời thiếp bẽ bàng duyên hương lửa.
Lời đoan thệ đã bay theo ngọn gió
Thì còn tiếc chi thân của Bạch Thu Hà.
Võ lang ôi, thiếp mượn lưỡi báu đao phủi rồi nợ thế.
để nơi miền âm cảnh, Bạch Thu Hà hội ngộ Võ Đông Sơ.




Văn tế
Thursday, June 11, 2009 Author: Trường An

Vô đề kỳ 1
Tam tải thân khinh bách chiến trung,
Thành cô lương tuyệt khốn anh hùng.
Đột vi bất nhẫn nhân vi tịch,
Báo quốc duy tri ngã phỉ cung.
Bát giác hoả đồng tâm cộng xích,
Thiên thu danh dữ nhật trang hồng.
Tha niên nghĩ phỏng vân đài hoạ,
Tướng tướng ưng suy đệ nhất công.

Trăm trận ba năm ở giữa vòng,
Thành cô, lương hết, khốn anh hùng.
Phá vây chẳng nỡ đem người thí,
Báo quốc riêng bền giữ dạ trung.
Bát giác lòng son cùng lửa đỏ,
Thiên thu danh rạng sánh trời hồng.
Đài mây những nghĩ sau nầy hoạ,
Văn võ nên tôn đệ nhất công.


Vô đề kỳ 2
Bình sinh sở học dĩ thu công
Bồi tửu tùng dung tiết khái hùng.
Nhứt tử Qui Nhơn thù đế quyển,
Thiên thu Nam Việt chấn văn phong.
Yên phân tích dịch hàn Tây tặc.
Nghĩa khí chiêu hồi tịnh Võ công.
Tùng thử tri khanh đa hữu hậu,
Miên miên tế tự quốc gia đồng.

Bình sinh sở học đã nên công,
Chén rượu ung dung, tiết tháo hùng.
Một chết Qui Nhơn đền nghĩa Chúa,
Nghìn Thu Nam Việt chấn văn phong.
Hơi tà lui sợ, run Tây tặc,
Khí nghĩa đời soi, sánh Võ Công.
Mới biết từ đây ông có hậu,
Phụng thờ mãi mãi với non sông.

Trịnh Hoài Đức

Hai bài này trong nguyên bản không có tựa, chỉ có đoạn văn của tác giả, dịch như sau: Tháng tư năm Kỷ Vị quân vua chiêu hàng thành Quy Nhơn, sai Chưởng Hậu quân Bình Tây tham thừa tướng quân Quận công Võ Tánh, Lễ bộ chánh hầu Ngô Tùng Châu trấn giữ tháng mười hai. Nguỵ tướng Nguyễn Diệu (Trần Quang Diệu) đem đại binh vây hãm tháng tư năm Canh Thân. Quân vua cứu viện, chưa giải vây được, mùa hạ năm Tân Dậu ngự giá thừa hư tiến chiếm Phú Xuân, lại ra lệnh sai Khâm sai chưởng tả quân Bình Tây tướng quân Quận công Lê Văn Duyệt tiến đóng Quãng Ngãi, đánh sau lưng giặc. Tôi phụng mệnh theo quân cấp phát lương hướng. Bãy giờ thành Quy Nhơn bị vây lâu, trong ngoài cách trở. Hai ông Võ và Ngô không nỡ phá vòng vây thoát thân, sợ tướng sĩ chết nhiều, mà trong thành những tướng sĩ đầu hàng cũng lắm phen mưu việc lạ, nhiều người ban đêm dòng dây xuống dưới thành để trốn, lại thêm trong thành lương hết; ngày hai mươi bảy tháng năm, ông Võ lên lầu bát giác tự thiêu trước, ông Ngô uống thuốc độc tử tiết, để lệnh cấm huỷ quân dụng, toàn thành nguỵ cầu sự sống cho ba quân. Tin buồn đến Quảng Nghĩa, mọi người đều thương xót. Tôi nhân khóc hai ông, làm thơ ghi tiết của hai bậc danh thần mà thôi, không phải dùng thơ để "kêu".

Nguyên chú: Ngô Tùng Châu không có con nối. Khi dẹp yên giặc, Võ Tánh được gia tăng Trung hưng đệ nhất công thần Thái uý Quốc công, Ngô Tùng Châu được gia tăng Thái tử thái sư Quốc công, được tế vào mùa xuân và mùa thu, mỗi ông lại được ban tự điền, dân phu thủ mộ theo đẳng cấp khác nhau, ân trạch rất nhiều.

Văn tế phò mã chưởng hậu quân Võ Tánh và lễ bộ thượng thư Ngô Tùng Châu

Than rằng:
Đạo thần tử hết lòng thờ Chúa, gian nan từng giãi dạ trung thành;
Đấng anh hùng vì nước quên mình, điên bái chẳng lay lòng tiết nghĩa.

Ngọc dầu tan, vẻ trắng nào phai;
Trúc dẫu cháy tiết ngay vẫn để.

Nhớ hai người xưa:
Thao lược ấy tài;
Kinh luân là chí.

Phù vạc Hán thuở ngôi trời chếch lệch, chém gai đuổi lũ hung tàn;
Với xe Đường khi thế nước chông chênh, cầm bút ra tay kinh tế.

Mối nghĩa sánh duyên gác tía, bước gian truân từng vững dạ khuông phù;
Màn kinh giúp sức cung xanh, công mông dưỡng đã đành lòng uỷ ký.

Hậu quân thuở trao quyền tứ trụ, chữ ân uy lớn nhỏ đều phu;
Lễ bộ phen làm việc chính khanh, bề trung ái sớm khuya chẳng trễ.

Ngoài cỏi vuốt nanh ra sức, chí tiêm cừu từng trải xuống ba quân;
Trong thành then khoá chia lo, lòng ưu quốc đã thấu lên chín bệ.

Miền biên khổn hai năm chia sức giặc, vững lòng tôi bao quản thế là nguy;
Cõi Phú Xuân một trận thét uy trời, nặng việc nước phải lấy mình làm nhẹ.

Sửa mũ áo lạy về bắc khuyết, ngọn quang minh hun mát tấm trung can;
Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chính khí.

Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vi mà tìm tới quân vương;
Bởi vì thương muôn mạng tì hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ.

Tiếng hiệu lệnh mơ màng trước gió, ân tín xưa người bộ khúc thương tâm;
Bóng tinh trung thấp thoáng dưới đèn, phong nghi cũ kẻ liêu bằng sái lệ.

Cơ đẵng định kíp chầy đành hẹn buổi, xót tướng doanh sao vắng mặt thân huân;
Phận truy tuỳ gang tấc cũng đền công, tiếc nhung mạc bỗng thiệt tay trung trí.

Nay gặp tiết thu;
Bầy tuần quý tế.

Hai chữ cương thường nghĩa nặng, rõ cổn hoa cũng thoả chốn u minh;
Nghìn thu hà nhạc khí thiêng, sắp mao việt để nền bình trị.

Hỡi ôi! Thượng hưởng!

Đặng Đức Siêu


Văn tế nghĩa sĩ trận vong

Than ôi!
Trời Đông phố vận ra sóc cảnh, trải bao phen gian hiểm mới có ngày nay;
Nước Lô Hà chảy xuống Lương Giang, nghĩ mấy kẻ điêu linh từ thuở nọ.

Cho hay sinh là ký mà tử là quy;
Mới biết mạng ấy yểu mà danh ấy thọ.

Xót thay!
Tình dưới viên mao;
Phận trong giới trụ.

Ba nghìn họp con em đất Bái, cung tên ngang dọc chí nam nhi;
Hai trăm vây bờ cõi non Kỳ, cơm áo nặng dày ơn cựu chủ.

Dấn thân cho nước, son sắt một lòng;
Nối nghĩa cùng thầy, tuyết sương mấy độ.

Kẻ thời theo cơ đích chạy sang miền khách địa, hăm hở mài nanh giũa vuốt chỉ non tây thề chẳng đội trời chung;
Kẻ thời đón việt mao trở lại, lại chốn sa cơ, dập dìu vén cánh dương vây, trong cõi Bắc quyết thu về đất cũ.

Nằm gai nếm mật chung nỗi ân ưu;
Mở suối bắc cầu riêng phần lao khổ.

Trước từng trải Xiêm La, Cao Miên về Gia Định mới dần ra Khánh - Thuận; đã mấy buổi sơn phong hải lễ, trời cao quang soi rõ trí kiên trinh;
Rồi lại từ Đồ Bàn, Nam - Ngãi lấy Phú Xuân mà thẳng tới Thăng Long; biết bao phen vũ pháo vân khê, đất Lũng - Thục lăn vào nơi hiểm cố.

Phận truy tuỳ gẫm lại cũng cơ duyên;
Trường tranh đấu biết đâu là mệnh số?

Kẻ thời chen chân ngựa quyết giựt cờ trong trận, xót lẽ gan vàng mà mạng bạc, nắm lông hồng theo đạn lạc tên bay;
Kẻ thời bắt mui thuyền toan cướp giáo giữa đàng, thương thay phép trọng để thân khinh, phong da ngựa mặc bèo trôi sóng vỗ.

Hồn tráng sỹ biết bao miền minh mạc, mịt mù gió lốc, thổi dấu tha hương;
Mặt chinh phu không vẽ nét gian nan, lấp loé lửa trời soi chừng cố độ.

Ôi!
Cùng lòng trung nghĩa khác số đoãn tên;
Nửa cuộc công danh phân chia kim cổ.

Đoái là tiếc xương đồng da sắt, thanh bảo kiếm đã trăm rèn mới có, nợ áo cơm phải trả đến hình hài;
Những là khen dạ đá gan vàng, bóng bạch câu xem nửa phút như không, ơn dày đội cũng cam trong phế phủ.

Phận dù không gác khói đài mây;
Danh đã ngàn cây nội cỏ.

Thiết vì thuở theo cờ trước gió, thân chẳng quản màn sương đêm giá, những chờ xem cao thấp bức câu thường;
Tiếc cho khi lỡ bước giữa dòng, kiếp đã về cõi suối làng mây, nào kịp thấy ít nhiều ơn vũ lộ.

Vàng thượng đức hồi loan tháng trước, đoàn ứng nghĩa dẫu Quảng, Thuận, Nghệ, Thanh cũng vậy, giội ân quang gieo khắp xuống đèo Ngang;
Mà những người thượng trận ngày xưa, lớp tấu công từ ngọ, mùi, thân, dậu đến giờ, treo tính tự để nằm trong lá số.

Ngọn còi rúc nguyệt, nơi tẻ nơi vui;
Dịp trống phồn hoa, chốn tươi chốn ủ.

Đã biết rằng anh hùng thì chẳng quản, trăm trận một trường oanh liệt; cái sinh không, cái tử cũng là không;
Nhưng tiếc cho tạo hoá khéo vô tình, ngàn năm một hội tao phùng; phận thuỷ có, phận chung sao chẳng có?

Bản chức nay:
Vâng việc biên phòng;
Chánh miền viễn thú.

Dưới trướng nức mùi chung đỉnh, sực nhớ khi chén rượu rót đầu ghềnh;
Trong nhà rõ vẽ áo xiêm, chạnh nghĩ buổi tấm cừu vung trước gió.

Bâng khuâng kẻ khuất với người còn;
Tưởng tượng thầy đâu thì tớ đó.

Nền phủ định tới đây còn xốc nổi, vụ lòng một lễ, chén thoi vàng;
Chữ tương đồng ngẫm lại vốn đinh ninh, khắp mặt ba quân, cờ đào nón đỏ.

Có cảm thông thì đến đó khuyên mời;
Dù linh thính hãy nghe lời dặn dỗ.

Buổi chinh chiến hoặc còn oan hay chẳng, cũng chớ nề kẻ trước người sau, hàng trên lên dưới, khen thưởng rồi sẽ tấu biểu dương cho;
Hội thăng bình đừng nghĩ rằng không, dù ai còn cha già mẹ yếu vợ goá con côi, an tập hết, cũng ban tồn tuất đủ.

Hồn phách đâu đều ngày tháng Thuấn, Nghiêu;
Hài cốt đó cũng nước non Thang, Vũ.

Cơ huyền diệu hoặc thăng trầm chưa rõ, thiêng thời về cố quận, để hương thơm lửa sáng, kiếp tái sinh lại nhận cửa tiền quân;
Niềm tôn quân dù sinh tử chớ nề, linh thì hộ cho Hoàng triều bể lặng sông trong, duy vạn kỷ chửa dời ngôi bảo tộ.

Nguyễn Văn Thành

Bài văn tế này tác giả soạn và đứng chủ tế lễ truy điệu các tướng sĩ bỏ mình trong cuộc chiến giữa Nguyễn Ánh với Tây Sơn vào tháng chạp năm 1802, tại Thuận Hoá. Đây được coi là một áng văn chương tuyệt bút mà Nguyễn Văn Thành đã đóng góp cho nền văn học Việt Nam. Nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh cho rằng: "lời đáng ghi vào vàng đá truyền đến muôn đời, khi giống giã như nhịp trống trong quân, khi tơi bời như ngọn cờ dưới nguyệt, khi mịt mù như cơn gió lốc thổi dấu kẻ tha hương, khi lập lòe như đám lửa trời soi chừng chốn cổ độ, khi hùng tráng như tiếng gươm tuốt giữa trận, khi lâm li như vượn khóc trên ngàn".





Copyright © Trường An. All rights reserved.