Solitude

.Mài son bén phấn hây hây. Đêm nguyệt đưa xuân một nguyệt hay. More...

Tựa Truyện Kiều
Friday, December 23, 2011 Author: Trường An

Trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình. Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê đó là cái căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy. Thế mà lại có kẻ thương tiếc tài tình, xem thấy việc, trông thấy người, thì còn nhịn thế nào được mà không thở than rền rĩ!

Nghĩa là bậc thánh mới quên được tình, bậc ngu không hiểu tới tình, tình chung chú vào đâu, chính là chung chú vào bọn chúng ta vậy. Cho nên phàm nhân đã ít tình, tất là không có tài, chỉ nửa lòa nửa sáng, sống chết trong vòng áo mũ, trong cuộc no say, dù có gặp cái cảnh thanh nhã như hoa thơm buổi sáng, trăng tỏa ban đêm, cũng chỉ trơ trơ như cây cỏ, như cá chim vậy!

Còn đến bậc tuyệt thế tài tình, mặt ngọc vẻ hoa, lòng gấm miệng vóc, ngâm thơ liễu nhứ[1], nổi tiếng đài gương vịnh phú ngô đồng[2], khoe tài ấn bút, nếu một bậc quán tuyệt thiên thu[3] như thế, lại gặp được bậc chân chính tài nhân, kết duyên tác hợp[4], khi thơ ngâm hoa nở, khi đàn gảy trăng lên, nguồn ái ân trọng nghĩa trăm năm, truyện phong lưu chép thành một lục, người đương vào cảnh ấy đã không gặp phải nỗi khảm kha bất bình, thì người truyền lại việc ấy còn phải đặt ra truyện Đoạn trường tân thanh làm gì!

Chỉ vì dịp may dễ lỡ, việc tốt thường sai, tiếng hoàn lạnh ngắt, còn trơ bóng trúc lung lay mặt ngọc vắng tênh, chỉ thấy đào hoa hớn hở. có tài mà không gặp được tài, có tình mà không tả được tình, tài tình đã tuyệt thế, gặp toàn bước khảm kha, há không phải là con Tạo đang tay ách người quá lắm ru? Ấy chính là truyện Đoạn trường tân thanh vì đấy mà làm ra vậy.

Truyện Thúy Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không cần bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi, Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình thì vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường thì lại là cái tiếng mới vậy. Trong một tập thi chung lấy bốn chữ "Tạo vật đố tài" tóm cả một đời Thúy Kiều: khi lai láng tình thơ, người tựa án khen tài châu ngọc; khi nỉ non tiếng nguyệt, khách dưới đèn đắm khúc tiêu tao; khi duyên ưa kim cải, non bể thề bồi; khi đất nổi ba đào, cửa nhà tan tác; khi lầu xanh, khi rừng tía, cõi đi về nghĩ cũng chồn chân; khi kinh kệ, khi can qua, mùi từng trải nghĩ càng tê lưỡi. Vui, buồn, tan, hợp, mười mấy năm trời, trong cuốn văn tả ra như hệt, không khác gì một bức tranh vậy.

Xem chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy dậy mà căn duyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc đàn bạc mệnh gảy xong, mà oán hận vẫn còn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thắm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên là Đoạn trường tân thanh cũng phải.

Ta nhân lúc đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, thì tài nào có cái bút lực ấy. Bèn vui mà viết bài tựa này.

Thúy Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm truyện Thúy Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một; người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thật là một cái thông lụy của của bọn tài tử khắp trong gầm trời và suốt cả xưa nay vậy.

Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều, tuy lời văn quê kệch, không đủ sánh với bức giao thiên, song đủ tỏ ra rằng cái nợ sầu của hai chữ tài tình, tuy khác đời mà chung một dạ. May được nối ở đằng sau quyển Tân thanh của Tố Như tử, cùng làm một khúc đoạn trường để than khóc người xưa.

(Tháng hai, niên hiệu Minh-Mệnh, viết ở Thán hoa hiên đất Hạc giang.
Tiên phong, Mộng liên đường chủ nhân)



Chú thích:

    1. Tạ Đạo Uẩn ngâm thơ liễu nhứ
    2. Mạnh Hạo Nhiên vịnh cây ngô đồng
    3. Vượt hơn tất cả xưa nay
    4. Bởi chữ "thiên tác chi hợp" ở kinh trời xe duyên vợ chồng

Bài tựa Truyện Kiều bằng Hán văn do Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân viết, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim dịch, in ở đầu quyển Truyện Thúy Kiều, Vĩnh Hưng Long thư quán xuất bản ở Hà Nội năm 1925.




Vườn xuân lan tạ chủ
Wednesday, November 30, 2011 Author: Trường An

Năm mươi năm về trước, du khách ở vùng Thanh Hóa thường khi đi qua chỗ bến đò Ái Sơn, về hữu ngạn con sông Mã, nhận thấy ở vệ đường tay mặt một khoảnh vườn độ bốn, năm sào, xung quanh trồng toàn một thứ tre đằng ngà.

Đáng chú ý nhất là cái cổng kiến trúc theo lối cổng bên Phù Tang hải đảo. Nếu khách biết chữ Hán và đọc được chữ thảo Bát hiền đại chủ đời Thanh, thời khách nhận thấy ba chữ tên biệt thự viết phỏng theo lối chữ Tăng Quốc Phiên. Trên cái nền bằng gỗ lim sơn màu "cấn rượu", ba chữ thếp vàng "Túy Lan Trang" như hoạt động trên miếng bạch thạch cẩn vào gỗ đỏ.

Chủ nhân "Túy Lan Trang", một vị hưu quan, từ ngày được nộp lại triều đình chiếc ấn vàng, lui về chỗ huê viên, thường để hết thời giờ vào việc vun trồng, chăm chút một thứ lan rất quý, tìm tận ở Yên Tử sơn, hồi còn tại chức nơi tỉnh Đông ngoài Bắc. Hoa xưa kia, quen cái khí hậu nơi đỉnh núi cao; nhất đán hoa về nơi đồng bằng, hoa không khỏi một phen rầu rĩ với ngày nắng hạ, đêm sương thu chỗ xứ lạ mà lá úa giò gầy. Sớm, chiều hai buổi thăm hoa, chủ nhân lan viên chỉ lo hoa kia chẳng ở mãi với mình, mà cái công ngàn dặm chọn đất lành bọc cỏ quý quảy về quê hương sẽ lấy chi đền chuộc lại. Sau một hồi tàn tạ giữa lan viên, hoa lại bắt đầu cười với gió xuân về. Thoảng mùi lan đượm, ngắm lá lan xanh rờn trên mấy hàng chậu sứ túy lan lớp đất phủ lần vỏ sò cùng hòn cuội trắng, chủ nhân như sống một cảnh đời mới. Rồi lan kia như cảm tình người tri kỷ, ngày một thêm hoa và chả mấy chốc chủ nhân phải lùi lầu trang về một mé huê viên, nhường nơi đất tốt cho cỏ quý nẩy ngọn thêm cành.

Chủ nhân lấy luôn tên giống lan đặt làm tên biệt thự, ngụ cái ý yêu hoa và tỏ cho khách qua đường biết vườn nhà đầy cỏ lạ.

Nhớ đến lời sư Cụ chùa Quỳnh Lâm vùng tỉnh Đông dặn lại sau khi cho giống lan, mỗi bận xuân về, sớm sớm, chủ nhân lại phải cho cả vườn Túy lan say với hơi rượu thời cái vương giả hương ấy mới còn ở với người thế gian. Ngày xuân phải bón lan bằng hương rượu, chủ nhân rất lấy làm sung sướng được gần vùng cất rượu ngon có tiếng ở châu Thang là làng Vĩnh Trị. Ái Sơn đối ngạn Vĩnh Trị và đứng ở Túy Lan Trang trông rõ đê làng Vĩnh Trị. Những buổi sớm mùa xuân, mặt nước con sông Mã phẳng lặng như tờ, lại lăn tăn làn sóng nhỏ do mái chèo đập làn nước của một chiếc thuyền nan bơi từ bến ái Sơn sang bến làng Vĩnh Trị. Bọn người sinh nhai chỗ duyên giang, dậy sớm đứng trên mạn thuyền để thở cái không khí trong sạch bình minh vui cười bảo nhau:

"Lại thuyền cô chiêu Tần bên Túy Lan Trang qua Vĩnh Trị lấy rượu cho hoa!".

Phải, cô chiêu Tần - con gái ông chủ vườn Túy Lan Trang đi lấy rượu về bón huê đấy!

Quan án Trần, vì cái thích chơi hoa, phải giảm những sự chi dùng trong nhà để có đủ tiền đặt thứ "rượu khê" cho hoa lan, trị giá hai quan một vò bên làng Vĩnh. Mà mỗi sớm, chèo thuyền đi lấy rượu theo lời cha dặn, cô chiêu Tần đã diễn ra trên dòng nước sông Mã một cái cảnh tượng giống như trong tranh thủy mặc của người Tàu. Một người con gái mà cái dáng điệu dịu dàng đã in theo khuôn nhịp chốn đài trang, tóc búi cánh phượng, áo mặc rộng tay màu thiên thanh, chân đi dép cỏ mà lại thực hành một cái ý nghĩ chan chứa màu thơ - ngày xuân cảnh sớm, bơi thuyền lấy rượu cho hoa - đủ làm cho lãng tử được thấy cái đẹp ấy phải đưa mình vào mộng.

Vươn mình trên con bạch tuấn, cậu ấm Hai nghì cương, xuống yên, buộc ngựa vào gốc thùy dương, rồi đi tản bộ đến một cái quán dựng trên đê. Ngồi trên bệ đắp bằng đất sét, cậu ấm Hai như chờ đợi một người và muốn giết thời giờ, luôn tay phe phẩy cái roi ngựa làm bằng cành liễu khô bẻ ở cổng huyện Đông Sơn là nơi người cha ngồi chức Huyện úy. Cậu ấm Hai ngồi chờ cô chiêu Tần đi lấy rượu về. Ngồi đợi người yêu lâu quá sức đợi và khi cúi mặt nhìn nền mặt đất chực chỗ quán nước, cành liễu khô đập luôn luôn vào đôi má chiếc giày tàu bằng nhung đen đế gai xe tám sợi, không đủ cho người quên hết những ý nghĩ về thời gian một khắc một chầy, cậu ấm Hai lại cất mình lên ngựa cho khuây khỏa nỗi lòng khi vắng bạn. Con bạch tuấn được lỏng cương vế, cũng uể oải lê bốn vó trên đường. Vó câu một bước lại dừng, con bạch tuấn còn mê man những đám cỏ non của ngày xuân phủ kín mặt đê dài. Rồi vẳng tiếng hát nơi đầu sông đưa lại. Cậu ấm Hai nhận thấy được tiếng người quen, gò đôi cương nâng cao đầu ngựa trắng; lỏng tay buông tay khấu, lần bước dặm đê, ngựa đã từ từ đi xuống nơi dốc chỗ bến đò. Cậu ấm Hai, cô chiêu Tần cùng nhau thi lễ: người xuống ngựa, khách dừng chèo, nơi giang đầu lại có cái cảnh tượng như hệt cảnh tả trong bài thơ của Bạch Lạc Thiên.

- Xin lỗi công tử đã dầy công chờ tiện nữ. Dưới Nguyệt viên vào đám, đặt nhiều rượu ở bên Vĩnh Trị, nên hôm nay qua lấy rượu cho lan phải đợi lâu. Vậy công tử sang bản trang từ bao giờ?

- Án từ nơi huyện đã xong nên bữa nay gia nghiêm muốn qua Túy Lan Trang xem hoa nở. Gốc trầm Quảng Nam buộc ở đầu ngựa này sẽ dùng để đốt lên trong khi lệnh nghiêm và gia nghiêm cho phép tiểu sinh ngồi trì hồ.

- Quan Lệnh doãn cho công tử mang trầm qua Túy Lan Trang như mỗi lần hội diện cùng gia nghiêm, thời bên bàn rượu, trước những giò lan nở, tiện nữ lại một phen được nghe lại tiếng đàn thập lục của công tử.

Quan Lệnh doãn huyện Đông Sơn là bạn thân và là khách quý của quan án Trần bên Túy Lan Trang. Ngày còn làm kẻ thư sinh, hai ông già ấy, đã cùng thi một trường, thụ giáo một thày và xuất thân cùng một hội. Sóng nước bể hoạn, tuy không làm chìm đắm nổi khách công danh trong khoảng mấy chục năm trời, nhưng cũng đã làm cho hai người đòi phen tơ tưởng lúc xa nhau. Hoạn hải từ ngày thuyền buộc bến, quan án Trần về ở Túy Lan Trang, cho là một cái diễm phúc được vui tuổi già gần người cố hữu. Rồi muốn cho cái tình thân ấy được thân hơn một bực nữa, đôi bạn già ngỏ ý cho nhau rõ rằng sẽ đi lại với nhau bằng cái tình thông gia gây nên bởi cuộc phối hợp nay mai của hai trẻ. Đều là người hiểu rõ cái lẽ sự vật trên thế gian, hai ông già không chịu uốn mình theo lề thói giả dối và thực hành cái luân lý khổ khắc với đôi trẻ thơ. Cho nên còn ở cái thời kỳ vị hôn phu và vị hôn thê mà cậu ấm Hai cùng cô chiêu Tần thường được gặp nhau và trò chuyện. Nếu cuộc đời cứ theo cái nhịp êm đềm mà đưa đôi già, đôi trẻ ấy đi với ngày lụn tháng qua, thời chân hạnh phúc của con người ta, tạo hóa có lẽ dành riêng cho nhà họ Trần và nhà quan Lệnh doãn Đông Sơn. Lạc thú hai gia đình ấy ví có thời mé lầu Túy Lan Trang bày chi thiên lệ sử; khách tài tình phỏng ngàn năm không để giận thời giống lan kia, còn cợt mãi gió xuân về! Nếu hầu hết những hạnh phúc đều giống nhau ở chỗ ấm cúng, êm đềm, đầy đủ thời mỗi nghịch cảnh lại có bộ mặt riêng tùy theo cái đau đớn của người trong cuộc.

Năm Ất Dậu, đời vua Đồng Khánh, vùng Hoan Ái phải qua cơn binh lửa gây nên bởi loạn Văn Thân. Cũng có người lấy danh nghĩa mà dúng tay vào công cuộc phá hoại; nhưng vứt đâu cho hết những kẻ lợi dụng thời cuộc, làm cho thỏa thích lòng dục trong lúc giao thời trắng đen không tỏ rõ. Cái thời loạn! Mà thời loạn thời trai thời loạn chứ sao? Cô chiêu Tần sống vào buổi non sông mờ cát bụi, đã đành trông ngóng cái thời bình. Cậu ấm Hai gặp lúc loạn ly, không những không có thủ đoạn của kẻ làm trai thời loạn, mà còn tỏ cho người thời ấy biết rằng một kẻ thư sinh chỉ có cái tâm hồn lãng mạn là một người chọn lầm thế kỷ. Chọc trời khuấy nước, trong khi người ta ham chuộng cái sức khỏe mà chỉ biết có ngón đàn, hiểu có hồn hoa, thời ở tâm người tài tử, buồn, tủi, cực đến dường nào! Trước những cái tin máu, xương thành sông núi, trăm họ bị làm cỏ, hai trái tim thơ ngây, của cô chiêu Tần và cậu ấm Hai, đều đập chung một điệu hãi hùng. Riêng về phần quan án Trần, thời thân già đã không lấy làm quan tâm đến vóc xương khô, còn những lo cho hoa, làm sao ngăn nổi gót chân đám người ô hợp nếu một mai chúng tràn đến.

Quan Lệnh doãn Đông Sơn lo việc tuần tiễu quân nghịch cũng thưa đi lại trên quan án Trần. Nơi Túy Lan Trang, hoa thường vẫn nở, người thường vẫn không chểnh mảng việc vun xới cho hoa mà chỗ lan viên lần lần như đã thấy cảnh điêu tàn. Không phải tại người, không phải tự hoa; chỉ tại cái không khí nặng nề của thời loạn phảng phất trên chỗ hoa viên.

Một đêm kia, về quãng cuối năm Bính Tuất, mưa tuôn rả rích, gió thổi vù vù, một cái đêm đông đầy những sự bí mật tối đen.

Cô chiêu Tần, kinh động mở mắt dậy. Mé lầu trang lửa đỏ ngất trời. Tiếng người đi lại nhộn nhịp. Tiếng người quát tháo dữ dội. Họ nhét giẻ vào miệng cô chiêu Tần, rồi vực đi. Chỗ bến đò Ái Sơn, bốn chiếc thuyền từ từ dời bến. Đứng trên mui thuyền có tiếng người con gái gào khóc, một người vạm vỡ mặc quần áo đen, quấn khăn đầu rìu, tay cầm một cây "hồng" đốt bằng giẻ tẩm dầu, soi sáng quắc mặt nước con sông.

Bên Túy Lan Trang, lửa vẫn đỏ ngòn mà tịnh không ai cứu hỏa. Tre và gỗ chỗ lầu trang thi nhau mà cháy trước những ngọn lửa xanh lè liếm quanh loài thảo mộc. Lúc mà ngọn lửa đám cháy không soi rõ những đám lan xanh rờn trên chậu sứ, thời canh đã sang tư. Đêm tăm tối buông một bức màn bí mật, lạnh lẽo lên trên chỗ hoa viên tàn tạ. Chỗ đầu sông, đàn đóm lập lòe nơi bến nước, gió đêm vi vút bãi lau già!

Sớm hôm sau, các người ở vùng đấy, ngồi triết lý suông, giữa hai ngụm nước chè tươi nơi quán:

- Quan án Trần cũng vì bị kinh động, cảm xúc mạnh quá mà chết. Cô chiêu Tần, thuyền cướp mang đi. Cái biệt thự kia bị cháy ra tro. Cho hay sống vào thời loạn, cái phú quý và cái sắc đẹp cũng nhiều khi là cái mầm vạ lớn.

Từ khi lan vắng chủ, từ khi hoa không người nâng giấc, giống cỏ quý kia cũng quyết tạ theo tri kỷ, thề không ở lại với thế gian. Vả chăng người giai nhân đã đi, cái hào hoa cũng tận. Cái thuật cất "rượu khê" bên làng Vĩnh Trị, cũng không ai truyền lại cho ai nữa, để lại một mối tiếc cho "làng men" mỗi khi nhắc tới cái phong vị hồi cận đại.

Sau cái đêm dữ dội ấy, cây cỏ nơi Túy Lan Trang đều một loạt ủ rũ như để tang cho người thiên cổ. Tơ liễu khóc mưa, tóc tùng reo gió, bóng tre lìa bụi, đều ngậm một cái tình buồn trước cái hương trời lăn lóc khoảnh vườn hoang. Lan đã biết tạ chủ, thời cỏ cây kia há kém ai!

Để lại bên sông một khoảnh đất cao hơn mặt ruộng, đứng xa trông như một cái gò phát bằng ngọn, ngày nay, Túy Lan Trang chỉ còn là một chỗ đi về của đám mục đồng. Tụi trẻ kia không biết kính trọng cái âm phần của giống Túy lan khi yên giấc sau lúc tạ chủ, cho trâu bò giẫm nát cả mồ hoa!

Thiên "thảm sử Túy Lan Trang" cũng đi theo với thời gian và bị xóa nhòa trong trí nhớ người đồng thời. Ngày nay du khách đi qua vùng Ái Sơn đất Thanh Hóa, nghe thấy những danh từ "Gò Lan tạ" và "Quán cậu Hai" phải hỏi mãi mới ra nghĩa cũ. "Gò Lan tạ" là nền tảng Túy Lan Trang và là cái nơi vùi hoa lan; "Quán cậu Hai" là nơi cậu ấm Hai nghỉ ngựa trước khi gặp người ngọc chỗ lầu trang, vẫn hết sức giơ cái thân tàn chịu lấy cái gió mưa nơi đầu bến. Gò, quán kia đã ghi vào trong tâm trí khách chơi hoa một cái kỷ niệm buồn rầu. Vườn xuân lan tạ chủ; đàn đóm lập lòe nơi bến nước mà gió đêm vi vút bãi lau già...

 

 

Tiểu thuyết thứ bảy, 1935
NGUYỄN TUÂN




Sự tích tơ hồng
Saturday, November 5, 2011 Author: Trường An

"Tơ hồng Nguyệt lão thiên tiên" dựa theo tích Vi Cố gặp ông lão trong một đêm trăng, ngồi kiểm sách hướng về phía mặt trăng, sau lưng có cái túi đựng đầy dây đỏ. Ông lão bảo cho biết đây là những văn thư kết hôn của toàn thiên hạ. Còn những dây đỏ để buộc chân những đôi trai gái sẽ thành vợ thành chồng. Một hôm, Vi Cố vào chợ gặp một bà già chột mắt ẵm đứa bé đi qua. Bỗng ông già lại hiện lên cho biết đứa bé kia sẽ là vợ anh. Vi Cố giận, bảo đày tớ tìm giết đứa bé ấy đi. Người đầy tớ lẻn đâm đứa bé giữa đám đông rồi bỏ trốn. Mười bốn năm sau, quan Thứ Sử Trương Châu là Vương Thái gả con gái cho Vi Cố. Người con gái dung nhan tươi đẹp, giữa lông mày có đính một bông hoa vàng. Vi Cố gạn hỏi, vợ mới bảo: Thuở còn bé, một bà vú họ Trần bế vào chợ bị một tên cuồng tặc đâm phải. Vi Cố hỏi: Có phải bà vú đó chột mắt không? người vợ bảo: Đúng thế! Vi Cố kể lại chuyện trước, hai vợ chồng càng quý trọng nhau cho là duyên trời định sẵn.

Mẩu chuyện vui: Tình yêu làm cho con người lú lẫn.

..."Tâu Thượng đế, theo hạ thần thì thượng đế không cần đòi lại trí khôn của con người. làm như thế không khỏi mang tiếng là trời nhỏ nhen. Điều mà thượng đế nên làm là hạn chế trí khôn của con người."

-"Bằng cách nào"?

-"Chỉ có tình yêu-Không có gì làm con người lú lẫn đi như trong tình yêu. Trời chỉ cần phái một vị thần mang vòng dây xuống trần, cứ đôi trai gái nào ở gần nhau thì quăng cho một vòng. Người nào càng thông minh thì cần quăng thêm cho nhiều vòng. Con người chỉ luẩn quẩn trong những vòng ấy mà chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện lên quấy nhiễu nhà trời nữa".

Trời khen "Thật là diệu kế"!, bèn truyền cho ông tiên già mang những chiếc vòng của trời xuống trần gian.

Từ ngày bị ông tiên già khoác vào người mình những vòng dây tình ái, con người chỉ luẩn quẩn với nhau, không còn nghĩ tới chuyện đánh nhau với trời nữa. Ông tiên già ấy được gọi là ông "Tơ".

(Trích Phong tục Việt Nam - Tân Việt)




Tuyệt vọng
Thursday, October 27, 2011 Author: Trường An

Tiếng nói thầm kín của một người nhiều khi suốt cuộc đời không thể nào bày tỏ. Có khi bày tỏ được thì cũng là những tiếng nói dở dang. Có người giấu bặt. Tôi chưa hề quên cái hiệu lệnh muôn đời: "Cái ta đáng ghét". Tuy nhiên trong cuộc sống thường nhật nơi đây, ngoài những ngày hét la to đầy nộ khí, vẫn có những giây phút lui về muốn thở than. Phải chăng thở than cũng là niềm bí ẩn của con người.

Mỗi đời sống ẩn giấu một định mệnh. Có những định mệnh đời đời là cây kiếm sắc. Một đôi lần trong giấc mơ tôi, bừng lên những ánh thép đó. Nhưng tôi biết rõ rằng tôi chỉ là một loài chim nhỏ hót chơi trên đầu những ngọn lau. Không ai muốn mình là kẻ tuyệt vọng. Nhưng tôi tự nguyện làm tên tuyệt vọng. Bởi nhiều khi sớm mai tôi thức dậy không thấy được hoa quả khai sinh trong trái tim người.

Tôi lại biết thêm rằng, dù là người chiến thắng hay chiến bại, suốt cuộc đời cũng không thể vui chơi.  Hạnh phúc đã ngủ yên trong những ngăn kéo của quên lãng.

Tôi không bao giờ nhầm lẫn về sự khổ đau và hạnh phúc. Nhưng tôi thường rơi vào cơn hôn mê trước giấc ngủ. Ở biên giới đó tôi hoảng hốt thấy mình lơ lửng giữa sự sống và cái chết. Những giây phút như thế vồ chụp lấy tôi mỗi đêm. Khi quanh tôi, mọi người đã yên ngủ. Và tôi đau đớn nhận ra rằng, có lẽ cuộc đời đã cho ta lắm ngày bất hạnh.

Mỗi ngày sống tới, mỗi ngày tôi thấy đời sống nhỏ nhắn thêm. Ðời sống thật sự không tiềm ẩn điều gì mới lạ. Có lẽ vì thế, vì sự quen mặt mỗi lúc mỗi gần gũi, thắm thiết hơn, nên tôi càng thấy yêu mến cuộc đời.  Như đứa con ngoan không tuyệt tình nổi với rẫy sắn nương khoai, nơi có bà mẹ suốt đời mắt không sáng nổi một ngày trẩy hội.

Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúng tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá. Tôi không còn gì để chiêm bái ngoài nỗi tuyệt vọng và lòng bao dung. Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa.  Tôi không muốn khuyến khích sự khổ hạnh, nhưng mỗi chúng ta hãy thử sống cùng một lúc vừa kẻ chiến thắng vừa kẻ chiến bại.  Nỗi vinh nhục đã mang ta ra khỏi đời sống để đưa đến những đấu trường.

Tôi đang bắt đầu những ngày học tập mới.  Tôi là đứa bé. Tôi là người bạn. Ðôi khi tôi là người tình. Chúng tôi cùng học vẽ lại chân dung của nhân loại. Vẽ lại con tim khối óc. Trên những trang giấy trắng tinh khôi chúng tôi không bao giờ còn thấy bóng dáng của những đường kiếm mưu đồ, những vết dao khắc nghiệt. Chúng tôi vẽ những đất đai, trên đó đời sống không còn bạo lực.

Như thế, với cuộc đời, tôi đã ôm một nỗi cuồng si bất tận. Mỗi đêm, tôi nhìn trời đất để học về lòng bao dung. Nhìn đường đi của kiến để biết về sự nhẫn nhục. Sông vẫn chảy đời sông. Suối vẫn trôi đời suối. Ðời người cũng để sống và hãy thả trôi đi những tị hiềm.

Chúng ta đã đấu tranh. Ðang đấu tranh. Và có thể còn đấu tranh lâu dài. Nhưng tranh đấu để giành lại quyền sống, để làm người, chứ không để trở thành anh hùng hay làm người vĩ đại. Cõi nguồn từ khước tước hiệu đó.

Chúng ta đã đấu tranh như một người trẻ tuổi và đã sống mệt mỏi như một kẻ già nua. Tôi đang muốn quên đi những trang triết lý, những luận điệu phỉnh phờ. Ở đó có hai con đường. Một con đường dẫn ta về ca tụng sự vinh quang của đời sống. Con đường còn lại dẫn về sự băng hoại.

Nhân loại, mỗi ngày, đang cố bày biện những tiệm tạp hóa mới. Ðóng thêm nhiều kệ hàng. Người ta bán đủ loại: đói kém, chết chóc, thù hận, nô lệ, vong thân...

Những đấng tối cao, có lẽ đã ngủ quên cùng với chân lý.

Tôi đã mỏi dần với lòng tin. Chỉ còn lại niềm tin sau cùng. Tin vào niềm tuyệt vọng. Có nghĩa là tin vào chính mình. Tin vào cuộc đời vốn không thể khác.

Và như thế, tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng.

Trịnh Công Sơn




Những người tự xưng
Monday, September 26, 2011 Author: Trường An

Người ta đọc thấy trong chính sử nhiều chương mục nói về những cuộc nổi loạn của một số người tự xưng là dòng dõi triều Lê. Và việc này diễn ra từ đầu triều Nguyễn đến những năm 1860. Thực vậy, như chúng ta đã thấy ở chương I, triều Lê, nhất là ở Bắc Kỳ, được cảm tình của phần lớn dân chúng và hậu thuẫn của số đông người trung thành. Những người này coi các vua nhà Nguyễn không phải là những vị vua chính thống trong nước mà là những kẻ soán ngôi. Cho nên, khi họ không bằng lòng về một hình thức nào đó của chính sách do triều đình Huế thảo ra, họ nổi lên chống đối nhân danh các vua Lê.

Hậu duệ nhà Lê vẫn sống ở Bắc Kỳ. Theo lý thuyết, họ "được bảo vệ", theo ngôn từ của các vua Nguyễn, với tước công, tước hầu; họ được giao nhiệm vụ giữ gìn mồ mả tổ tiên, nhưng thật ra là họ bị theo dõi.

Dưới thời Minh Mạng, trong những năm 1839, những người dòng dõi chính thống của nhà Lê như Lê Duy Hoán và Lê Duy Lương nổi loạn chống nhà Nguyễn không thành công. Nhưng, dưới đời Tự Đức, các hậu duệ chính thống ấy không khi nào tham gia các cuộc khởi nghĩa của những người tự xưng là hậu duệ, có lẽ vì họ bị theo dõi rất nghiêm ngặt. Trên thực tế, trong số lớn trường hợp, những người cầm đầu các cuộc nổi loạn như thế không chút liên hệ thân thuộc gì với hoàng tộc, lại cũng không có liên hệ gì với các quan chức đã phù tá nhà Lê ở Hà Nội. Phần đông đó là những người thường. Lúc hành động họ phất cao lá cờ nhân danh nhà Lê và xuất hiện như người kế vị các vua Lê: lá cờ và tên nhà Lê là những tượng trưng chính trị giúp cho người nổi loạn một lý do và một chính nghĩa để hành động.

Nhưng những người nổi loạn này hành động không có một chương trình cụ thể và khả thi, không có cơ sở vững chắc trên bình diện tư tưởng và tổ chức; khởi nghĩa của họ là cuộc nổi loạn của người bất mãn.

Phần lớn các cuộc nổi dậy này của những người giả danh nhà Lê có sắc thái đặc biệt ở chỗ họ liên kết với hoạt động của giáo dân, của người khác và của giặc cướp. Trên bình diện chính trị, những người giả danh, không có phương tiện chống lại quân đội chính phủ, lo tìm sự ngoại viện trong khi các giáo sĩ thừa sai như giám mục Retord, giám mục Alcazar, các nhà quân sự, như Ch.Duval và F. Garnier, cố lợi dụng thời cuộc để bành trướng ảnh hưởng ở Bắc Kỳ. Trên bình diện xã hội, giáo dân trong nước và những kẻ giả danh hậu duệ có chung một tình trạng - nghèo khổ và dốt nát - và chung một tình cảm là sự bất bình đối với chế độ. Trên bình diện thực tế, để đảm bảo các mối liên lạc với bên ngoài, những người giả danh đôi khi tiếp xúc với bọn giặc cướp, người Việt Nam hoặc người Trung Hoa; cũng như, khi các lãnh tụ bị bắt buộc trốn chạy, họ đi thẳng sang Hương Cảng hoặc Áo Môn. Cho nên, một sự kết hợp tốt về quyền lợi diễn ra giữa những người giả danh, giáo dân và giặc cướp thỉnh thoảng đã tồn tại, khi có sự xuất hiện của một lãnh tụ mà bản thân đã bao gồm của ba phần đó.

Với quan điểm này, trường hợp Lê Duy Phụng là điển hình.

Một người Việt Nam tên Tạ Văn Phụng, nguồn gốc không rõ, nhưng được rửa tội và nuôi dưỡng tại một trụ sở giáo hội ở Pinang, năm 1854, hô hào một cuộc nổi dậy nhỏ ở tỉnh Quảng Yên dưới cái tên Lê Duy Phụng, tức là đến phiên người này tự xưng hậu duệ nhà Lê. Giám mục Retord thuyết phục được Phụng ngưng hoạt động và lui về ẩn trốn ở Hương Cảng.

Sau cuộc tấn công Đà Nẵng của liên quân Pháp - Tây Ba Nha năm 1858, giám mục Retord muốn đưa ra "một ông vua theo đạo Thiên Chúa dưới sự bảo trợ của nước Pháp" và nghĩ đến Phụng. Phụng nhận lời trở về Bắc Kỳ giữa năm 1861 và phất cờ nhà Lê, tuyên cáo:

    "Vì cảnh lầm than của dân ta và vì hoàn cảnh của gia đình ta, ta quyết định phải trả thù cho chính đáng để rửa nỗi nhục phải chịu biết bao đau khổ, để cho đạo Thiên Chúa được truyền bá khắp nơi ở Bắc Kỳ và để cho dân chúng sống trở lại thái bình và hạnh phúc."

Trung sĩ Charles Duval bí mật đến Bắc Kỳ vào năm 1862 và tiếp xúc với Phụng nhằm mục đích đẩy mạnh cuộc nội chiến để gây áp lực với Tự Đức. Với sự giúp đỡ của Duval, Phụng tung ra được các cuộc tấn công trong nhiều tỉnh ở Bắc Kỳ liên kết với những bọn giặc cướp. Những cuộc bạo động ở Bắc Kỳ ngày càng trầm trọng, triều đình Huế rốt cuộc đành phải ký hiệp ước đình chiến với Pháp và Tây Ba Nha ngày 5-6-1862.

Lập tức, Tự Đức sai Nguyễn Tri Phương dẹp loạn ở miền Bắc. Về phần mình, C.Duval coi khinh bất kể tương lai cá nhân của Phụng và hài lòng với sự thành công của sứ mạng mình, đã rời Bắc Kỳ ngày 17-7-1863. Việc ra đi này nguy hại cho cuộc nổi loạn của Phụng. Trong năm 1864, đồng đảng của Phụng nơi này nơi khác bị quan đội của Nguyễn Tri Phương đánh tan; Lê Duy Phụng bị bắt và giết ở Huế.

Khi đến Hà Nội năm 1873, F.Garnier cũng cố gắng liên lạc với đồ đảng nhà Lê. Giám mục Puginier phản đối mạnh dự tính như thế; Louvet giải thích thái độ ấy như sau:

    "Giám mục Puginier lo sợ rất đúng các hậu quả của một dự tính như thế, nên khuyên Garnier đừng nhẹ dạ lao vào một cuộc phiêu lưu đầy nguy hiểm ấy và, theo lời khuyên, viên chỉ huy trưởng viết thư cho đô đốc nói rằng chắc chắn đảng đồ của triều cũ không còn gốc rễ trong nước và tốt hơn hết là, về quan điểm quyền lợi của nước Pháp, cố gắng thương nghị với triều đình hiện nay."

Sau cái chết của Garnier, một số giáo dân trước đã đi theo y, nay ra làm giặc cướp và lại nổi loạn nhân danh triều cũ. Cũng vậy, Hồ Văn Vạn, một giáo dân và là sĩ quan cũ trong quân đội Garnier, tiếp tục chiến đấu với quân của triều đình ngoài khơi tỉnh Hải Dương, cũng yêu cầu, nhưng không nhận được, sự tiếp viện của Thống đốc Sài Gòn. Vạn bị một dân quân Trung Hoa bắt vào tháng giêng năm 1875.

Cũng trong tháng giêng năm 1875, Tự Đức ban bố một đạo dụ xác nhận rằng những người tự xưng hậu duệ nhà Lê chỉ là kẻ cướp hoặc bọn giặc vô danh, không có mối liên hệ nào với hoàng tộc cũ, vốn được nhà vua "kính trọng" và "bảo vệ".

Những cuộc dấy loạn, hầu như từng thời kỳ và với những kẻ lãnh đạo khác nhau, tự xưng làm hậu thuẫn cho triều Lê, không hề được người Pháp lưu ý. Ở Huế, Philastre tỏ ra nghiêm khắc với các nhóm này:

    "Ở Bắc Kỳ, nhóm dân chúng xấu nết, dao động, lo sợ, chỉ mong chờ những dịp náo loạn. Họ tìm một hậu duệ nhà Lê để lập lại ngai vàng của cha ông, và giáo dân đặc biệt tha thiết với mộng ước này, luôn luôn sẵn sàng đưa ra một tín đồ mang họ Lê. Người quan trọng cuối cùng, trở thành hậu duệ nhà Lê cho hợp thời cơ, tên là Fong hay Phong gì đó; tôi biết y, trước đây, là đầy tớ của mấy thừa sai bị đuổi khỏi Bắc Kỳ trong các năm 1856-1857.

    "Thực ra dưới chiêu bài phục hưng quốc gia, mỗi người tự kiến tạo cho thân thế mình. Không có gì nghiêm chỉnh, mà chỉ là lộn xộn và rắc rối."

Ông Turc, lãnh sự Pháp tại Hải Phòng, mỉa mai:

    "Giả thiết liên quan đến sự có mặt của một người tự xưng hậu duệ nhà Lê giữa các nhóm ngày càng nhiều ở Hà Nội. Quan chức Huế không từ bỏ được ý nghĩ rằng chúng ta muốn thừa cơ hội này để lật đổ Tự Đức và đặt con cháu nhà Lê dưới sự bảo trợ của chúng ta.

    "Tuy nhiên, tôi đã làm nhiều hơn những gì trước kia tôi không tính làm, để bảo vệ họ chống bọn làm loạn, bởi vì tôi đã đảm nhận nhiệm vụ trang bị một chiếc tàu buôn thành tàu chiến."

Turc coi thường những ngờ vực của quan chức. Chúng ta phải nói rằng những ngờ vực đó đều có thể biện minh. Sự tham gia của giáo dân vào những cuộc nổi loạn ấy, và từ những năm 1850, các sáng kiến của giáo dân để nắm quyền chỉ huy, buộc triều đình Huế phải coi việc đó có tầm quan trọng đặc biệt; lại nữa, chính là sự liên kết những cuộc vận động ấy với những chương trình chiếm hữu thuộc địa đã buộc Tự Đức phải nhượng ba tỉnh của Nam Kỳ năm 1862, từ đó dẫn đến công cuộc thuộc địa hoàn toàn đất nước bởi người Pháp.


(Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885 - Yoshiharu Tsuboi)




Về giai thoại “Cây đèn treo ngược…”
Saturday, September 3, 2011 Author: Trường An

Trong lịch sử Việt Nam xuất hiện khá nhiều giai thoại có tính lịch sử. Đó là những tập truyền, là lời truyền khẩu về một câu chuyện đã xảy ra từ trước, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác rồi dần dần in sâu vào tâm trí mọi người, cuối cùng cũng được ai đó ghi lại bằng văn tự.

Điều đó làm cho tập truyền đáng tin hơn và khi đọc nó, người đọc không cần phải kiểm chứng xem điều đó có thật hay không. Ở đây chúng tôi muốn đề cập đến một giai thoại đã được lưu truyền theo kiểu như thế. Câu chuyện liên quan đến chuyến đi Pháp của sứ bộ của nhà Nguyễn vào năm 1863 do Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Ngụy Khách Đản dẫn đầu.

Cách đây 66 năm, trên tờ tap chí Trung Bắc Chủ Nhật, số ra ngày 17.10.1943, nhà văn Đào Trinh Nhất (1950-1951), người chuyên viết về lịch sử, ký sự, đã có bài báo đề cập đến đoàn Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ sau khi đi Pháp về đã kể những “chuyện lạ nước ngoài” như:
Đèn thắp không dầu, ngọn lửa chúc xuống (đèn điện), giếng nước vọt lên cao (nước phun trong công viên) v.v." Vua kinh dị giao cho đình thần bàn. Các quan bàn xong tâu:

- “Quy luật tự nhiên là nước chẩy xuống, lửa bốc lên cao, trái lại là nghịch thường, không đúng sự thật. Bọn Phan Thanh Giản bị họ bầy trò quỷ thuật làm cho quáng mắt”. (theo Trung Bắc Chủ Nhật, 17.0.1943).

Để tìm hiểu về những điều nhà văn Đào Trinh Nhất đã thuật, mà còn đến hiện nay, nhiều người tin rằng nó có thật (vì có lý!), ta thủ đọc một phần nội dung tập Tây Hành Nhật Ký (Nhật ký đi Tây – NKĐT) do Phạm Phú Thứ viết, Phan Thanh Giản và Ngụy Khắc Đản duyệt lại.

Nội dung nhật ký ghi chép việc từng ngày trong chuyến công du sang châu Âu. Đoàn khởi hành ngày 27.6.1863 trên chiếc tàu Européen, đi qua Poulu Con-dor, Tân-ga-ba (Singapore), Sumatra, Tích-Lan, Aden, Ai-Cập, Jérusalem, La-Mã, Corse… Ngày 13.9.1863 đến Paris sau khi qua Toulon và Marseille. Ngày mồng 5.11.1863 phái đoàn vào triều kiến hoàng đế Napoléon III ở điện Tuileries.

Từ 10.11.1863 đến 22.11.1863 đi thăm Tây-Ban Nha rồi lên đường về, qua Ý-Đại-Lợi. Ngày 2.12.1863, Trương Vĩnh Ký (thông ngôn của sứ bộ) yết kiến Giáo hoàng ở Roma. Ngày 18.3.1864 phái đoàn về tớ Sài Gòn, 28.3 đến Huế, ba hôm sau Phạm Phú Thứ dâng Tây Hành Nhật Ký lên vua tự Đức.

Trong nhật ký này, tác giả ghi chép rất tỉ mỉ những điều mắt thấy tai nghe từng ngày từng giờ. Tuy chuyến du chỉ gần 9 tháng, nhưng tập sách cho ta một cái nhìn khá đầy đủ về cả địa lý, chính trị, kinh tế, tôn giáo, phong tục. Những nơi đoàn đã đi qua. Bản thân Phạm Phú Thứ không theo tây học, nhưng nhật ký của ông tường tận không khác gì một người theo Tây học. Có lẽ ông là người duy nhất đã thực hiện đúng ý muốn của Minh Mạng. Ngay từ năm 1823, nhà vua đã phán: “Các bản nhật về việc đi sứ chỉ thấy ghi tên đất và số dặm đường, còn tình hình dân, công việc nước không từng nới đến. Sắc cho Bộ Lễ từ nay truyền chỉ cho sứ thần phải hỏi han dân tình được sung sướng hay bị đau khổ, trong nước có tai biến hay có điềm lành thì ghi chép rõ ràng, có tên đất, số dặm đường đã có trong sách, có thể khảo cứu được” (Theo Minh Mạng chính yếu, sđd, tr 56)

Chúng tôi trích một vài đoạn có liên quan đến giai thoai lịch sử nói trên:
Trong thời gian ở Pháp, sứ bộ cư trú tại khách sạn Marseille, nhật ký mô tả: “Quán bảy tầng, gồm có trăm phòng, bàn ghế, màn trướng phần lớn đều dùng gấm, đoạn để trang trí. Ban đêm thắp đèn khí sáng hơn đèn dầu hoặc đèn nến (có nhà máy khí, lấy than đốt thành khí rồi chứa lại để bán khắp nơi); cây đèn ở các nhà đều trống ở giữa và thông ngầm với ống sắt; ống sắt dẫn khí phân phối cho các nơi để thắp đèn; ngọn đèn nhỏ, nhưng ánh sáng trắng nhơ ngọc). Người phục dịch trong quán có hơn sáu chục, chia nhau làm đủ mọi việc phục vụ cung cấp…” (NKĐT, sđ, tr 130)

Mô tả quan cảnh đèn đường có đoạn:
Ngày mồng sáu… Đêm ấy, giờ Tuất, người ta lại mời ra đường xem đèn: hai bên vệ đường, trồng cách khoảng liên tiếp những cột sắt (cột cách nhau ba hoặc bốn tượng cao năm, sáu thước), trên cột mắc đèn pha lê thắp bằng khí đốt. Ở các cửa hàng buôn bán, mỗi gian đều có đèn treo thắp sáng; phía trong cửa kính, bày la liệt các thứ hàng. Có nơi ở ngoài sân, người ta làm những ống sắt cong và đặt lên trên giá gỗ. Người ta cũng bắt ống pha lê để làm những biển hiệu ngoài cổng, có khi người ta lại đặt ngang trên cổng những ông pha lê để hơi bốc cháy…” (NKĐT, sđd, tr 148)

Đề cập đến cảnh phun nước trong công viên, nhật ký viết:
Đường sá bằng phẳng như đá mài (…) Nơi nào cũng có bồn hoa; trong thành cũng như ngoài thành điều có vườn hoa: cứ vài dãy phố thì chừa một khoảnh đất để trồng cỏ có hoa và đặt máy phun nước, bên cạnh bày ghế dựa và ghế dài, người ta nói ở những nơi đông người, phải có chỗ du ngoạn để cho nơi đó được thoáng khí…” (sđd, tr 142)
(Trong một đoạn khác, Phạm Phú Thứ cũng tỏ ra rất hiểu kỹ thuật chụp và rửa ảnh của người Pháp, mặc dù lúc đó lần đầu tiên họ được chụp hình!)

Qua những đoạn trích trên, ta thấy Phạm Phú Thứ là những người rất am hiểu những cảnh tượng mà ông đã trông thấy tại Pháp. Ông biết sở dĩ đèn chiếu sáng được là do khí đốt, một loại khí chế tạo từ than đá chỉ được phát minh từ cuối thế kỷ XVIII ở châu Âu, mà trong sách ông ghi lại bằng tên gọi “khí đăng”.

Về cảnh nước phun ngược tại các công viên, ông cũng chép lại rất rõ là họ đã đặt máy phun nước.
Cũng cần phải nói thêm, giai thoại trên kể rằng, phái đoàn đã thấy đã mô tả cây đèn treo ngược, tức là cây đèn bóng tròn phát sáng bằng sợi dây tóc, tiếc rằng tác giả “sáng tác” trong giai thoại trên đã quên một điều rất quan trọng: khi sứ bộ sang Pháp (1863-1864) thì nhà vật lý Thomas Edison (1947-1931) chỉ có 16 tuổi, phải đợi thêm 16 năm nữa (1879) Edison mới sáng chế ra bóng đèn điện!

Còn chuyện “ngược đời” nước phun lên từ đất thì như đã dẫn ở trên, Phạm Phú Thứ đã khẳng định là do có máy phun nước, hơn nữa ta cần lưu ý một điều là kể từ đời Khang Hy (1662-1729), nghĩa là gần 200 năm trước, Trung Quốc đã có những bể phun nước phun trong ngự viên do các giáo sĩ phương tây kiến tạo, và suốt từ cuối thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 19, sứ thần nước ta vẫn thường đi sứ Trung Quốc, chẳng lẽ không một ai thấy nước phun, phải đợi phái đoàn Phan Thanh Giản sang Tây mới biết?!
Ai cũng biết Phạm Phú Thứ là một trong những nhân vật chủ trương cách tân dưới thời nhà Nguyễn, là người rất say mê khoa học kỹ thuật. Trong phần giới thiệu tiểu sử của ông, dịch giả Quang Uyển đã cho biết:
Khoa hoc kỹ thuật đã trở thành nguồn cảm hứng dồi dào, tạo ra nét độc đáo trong thơ ông, thổi một luồng sinh khí mới vào văn chương nước nhà nửa sau thế kỷ XIX” (NKĐT, tr 38). Trong thời gian từ năm 1874 đến 1880, khi giữ chức Thự Tổng đốc Hải Yên kiêm Tổng lý Thương chính đại thần, ông đã thực hiện được một số cải cách như mở trường dạy chữ Tây cho Nha Thương chính Hải Thương chính Hải Dương, mỗi tháng cấp một quan tiền và một phương gạo cho cho những người đi học. Đồng thời, ông cho dựng lại nhà xuất bản Hải Học Đường (có từ đời Gia Long nhưng đã đóng cửa); cho in lại một số sách dịch sang chữ Hán về khoa học và kỹ thuật do các giáo sĩ phương Tây viết như: Bác vật tân biên (về khoa học); Khai môi yếu pháp(khai mỏ); Hàng hải kim châm(cách đi biển); Vạn quốc pháp (giao dịch với ngoại quốc)

Sách Đại Nam Thực Lực chép:
Tháng 5 nhuận, 1876, Nha Thương chính Hải Dương dịch Phép diễn tập súng Tây dân lên”.
Tự ông đã dịch Từng chính di quy về kinh nghiệm quản lý hành chính và dự tính cho in những sách: Địa cầu thuyết lược; Cách vật nhập môn… Ngoài Tây Hành Nhật Ký có:  Giá Viên Toàn Tập (gồm 26 quyển, một nửa là thơ chữ Hán, phần còn lại là phú, biểu, luận, ký, minh… đề cập nhiều lĩnh vực khác nhau như khoa học, kỹ thuật, hành chính…) Tây Phù Thi Thảo, Liệt triều thông hệ nên phả toản yếu, Bắc quốc lịch triều thông hệ niên thứ, Bản triều liệt thánh sơ lược toát yếu.

Tất cả những điều đó cho thấy, không riêng gì Phạm Phú Thứ mà có lẽ đối với triều đình Huế lúc đó, việc người châu Âu sử dụng đèn khí đốt cũng như đặt máy phun nước tại các công viên không có gì là “ghê gớm” cả, thế nhưng triều đình (cũng gồm những vị quan đồng thời được đào tạo như ông) cho là phái đoàn đã bị người Pháp “bày trò quỷ thuật làm cho quáng mắt”!

Bàn về sự sai lạc của giai thoại, trong tập “Phương pháp sử” LM Nguyễn Phương đã viết như sau:
Tập truyền thường sai lạc bằng những cách sau đây:
Hoặc vì phóng đại tô điểm một nhân vật cho thành một người siêu phàm, hay là vẽ vời một sự việc cho có màu sắc huyền bí;
Hoặc là vì tập trung những nét thâu thập được ở nhiều người để dồn vào trên một người, hay là ở nhiều chuyện để đúc lại thành một chuyện;
Hoặc là lẫn lộn, đem những nét của đời sống người này ghép vào đời sống người khác, hay là những chi tiết của chuyện này đặt vào nội dung chuyện khác;
Hoặc là vì trước không có mà sau thêm vào, như khi đã cho một người là anh hùng thì bất cứ gì cũng nghĩ rằng vị anh hùng đó có thể làm được tất cả;
Hoặc là vì giải thích cho có lý, như khi cắt nghĩa tên của chính vị anh hùng hay là các địa danh khác hiểu…”
(Phương pháp sử, sđđ. Tr 137);

Đó là những lý do giải thích vì sao phần lớn nội dung của các giai thoại đều trở nên sai lạc.
Giai thoại lịch sử thường hay được kể lại để làm tăng thêm “sự hấp dẫn” liên quan đến một sự kiện lịch sử nào đó, nhưng khi sử dụng cũng cần cẩn thận, vì hầu hết được tạo ra không dựa trên một nền tảng hoặc một cơ sở khoa học nào…

Theo Kiến thức ngày nay





Copyright © Trường An. All rights reserved.