Solitude

.A voyage to Cochinachina. More...

Thơ Gia Long
Sunday, February 5, 2012 Author: Trường An

Những bài thơ này được ghi trên đồ sứ men lam do Gia Long ký kiểu ở Trung Quốc vào năm Canh Ngọ (1810).

Bài 1: Tô kiểu "nhất thi nhất họa". Một mặt vẽ cảnh rừng núi trùng điệp, hùng vĩ. Quanh lối mòn có vài tiều phu gánh củi trở về, kèm bài thơ đề vịnh:

"Nguồn tham, đò dục suốt chăng mang,
Bao nã đem mình ẩn núi Thương
Lưng vận búa trăng, chơi đủng đỉnh,
Chân chầy ngàn tuyết, bước xênh xang.
Tấc tài dài vắn, tay thu thập,
Một gánh giang sơn, sức đảm đang.
Dù nhẫn mai ngơi vào thạch thất,
Đành đành bắt chước thói chàng Vương."

Quý hạ vọng hậu, đề ở Thúy Liên đường
(Viết ở Thúy Liên đường, sau ngày rằm tháng 6)

Chú thích:

- Núi Thương: Nơi ẩn của bốn cao sĩ (Tứ hạo) dưới thời Tần. Sau Hán Cao tổ có cho sứ đến mời về triều nhưng từ chối.
- Thạch thất: Sau khi diệt Tần, Hán Cao tổ Lưu Bang cho xây một tòa nhà bằng đá, trong đó có ghi lời thề: Con cháu các công thần đời đời được nối nghiệp làm chư hầu của nhà hán.
- Chàng Vương: Tức Vương Duy, tự Ma Cật. Một thi bá đời Đường, làm quan tới chức Thượng thư. Ông vẽ rất đẹp, được đời tôn làm tổ sư của Nam Tông họa phái. Hâm mộ đạo Phật, về già ăn chay tu thiền.



Bài 2: Cùng kiểu thức với tô trên. Vẽ cảnh sông hồ bát ngát, trời nước mênh mông. Ngoài xa có vài ba chiếc thuyền chài lênh đênh. Trên bờ là một xóm chài, ven núi non chất ngất. Thơ đề vịnh:

"Xanh xanh chiếc lá nổi dòng La,
Khơi lộng năm hồ mặc thích ta.
Ngợi khúc Thương Lang, vang nhịp bảy,
Ra tay thủ đoạn tóm giềng ba.
Sông đào mảng tưởng nguồn cơn thẳm,
Ngày bạc nào hay tuổi tác già.
Chớ sợ trầm lôi, vui chí Thuấn,
Ngao du bốn biển lấy làm nhà."

Quý hạ vọng hậu, đề ở Thúy Liên đường
(Viết ở Thúy Liên đường, sau ngày rằm tháng 6)

Chú thích:

- Thương Lang: Được ghi vào điển tích với câu nổi tiếng trong sách Mạnh Tử, bài Nhụ tử ca: "Nước Thương Lang trong chừ, khá đem giặt mũ ta. Nước Thương Lang đục chừ, khá đem rửa chân ta."
- Ngày bạc: Tức bạch nhật, từ dùng để chỉ thời gian. Ví dụ: "Lân la ngày bạc qua hồi xuân xanh" - Phan Trần.
- Bài thơ bị mất 2 chữ đầu câu 8, do người dịch thêm vào chữ "ngao du".

Bài 3:

"Lân la chiếu đất liền màn trời
Thong thả rừng đào mặc thích chơi
Ghẹo nguyệt nghêu ngao ba chặp địch
Nhúng sương chỉ vẫy một tay roi
Xang ca Ninh Thích khoan khoan dắng
Tưởng trận Điền Đan khích khích cười
Dò hỏi chúng chàng nào bói thử
Thưa rằng chúa Hán có tin bài."

Quý hạ vọng hậu, đề ở Thúy Liên đường
(Viết ở Thúy Liên đường, sau ngày rằm tháng 6)

Chú thích:

Ninh Thích ▼

Điền Đan ▼



Thơ được ghi trên đồ sứ ký kiểu ngự dụng, hẳn đây là bộ "ngư, tiều, canh, mục". Tài liệu được Trần Đình Sơn (đồng thời là nhà sưu tập cổ vật) viết trên tạp chí Kiến thức ngày nay số 139 vào năm 1994 và cung cấp cho Doanh nhân Sài Gòn vào Tết 2009 bài về trâu.

(Nhiều người nghi những bài thơ này của Đặng Đức Siêu, Nguyễn Văn Thành hay Nguyễn Phúc Thăng. Nhưng nếu những bài này làm vào sau tháng 6 năm 1810, thì tháng 1 năm đó, mẹ Nguyễn Văn Thành vừa mất, ông đã về quê chịu tang đến năm sau mới lên Kinh; Đặng Đức Siêu qua đời vào tháng 2 cùng năm. Không hiểu vì lý do gì (ngoại trừ cố sống cố chết không muốn Gia Long biết làm thơ ( =)) )) mà những bài này được gán cho Nguyễn Phúc Thăng - người còn nhỏ hơn Gia Long mấy tháng tuổi và theo cuộc sống của ông ấy thì khó mà có cái khẩu khí này? Nhìn ngược nhìn xuôi không còn ai, vậy thì cứ coi đây là thơ của Gia Long đi. Dù sao, việc đem thơ của mình đi ký kiểu đồ sứ vốn là truyền thống đã có từ thời chúa Minh Nguyễn Phúc Chu.)




Phủ biên tạp lục (tt)
Tuesday, January 31, 2012 Author: Trường An

Đất Phú Xuân huyện Hương Trà xưa là xã Thụy Lôi, Nguyễn Phúc Trăn xưng là Hoằng quốc công bắt đầu đặt dinh trấn ở đấy. Đất rộng bằng như bàn tay, độ hơn 10 dặm, ở trong là Chính dinh, đất cao, bốn bề đều thấp, tức là chỗ nổi bật ở giữa đất bằng ngồi vị càn (Tây Bắc) đối hướng tốn (Đông Nam), dựa ngang sống đất, trông xuống bến sông; đằng trước là quần sơn, chầu về la liệt, toàn thu nước ở bên hữu, vật lực thịnh giàu. Từ năm Đinh Mão Chính Hòa thứ 8 đến nay chỉ 90 năm, mà ở trên thì các phủ thờ ở Kim Long, giữa thì cung phủ hành lang, dưới thì nhà cửa ở Phủ Ao. Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu, đổi tên đề biển, có hai điện Kim Hoa, Quang Hoa; có các nhà Tựu Lạc, Chính Quan, Trung Hòa, Di Nhiêu; đài Sướng Xuân, các Dao Trì, các Triêu Dương, các Quang Thiên, đình Thụy Vân, hiên Đồng Lạ, am Nội Viên, đình Giáng Hương, công đường, trường học và trường súng. Ở thượng lưu về phía Nam có phủ Dương Xuân và Phủ Cam. Ở trên nữa có phủ Tập Tượng; lại dựng điện Trường Lạc, hiên Duyệt Võ, mái lớn nguy nga, đài cao rực rỡ, mà giải vồ, tường, bao quanh, cửa bốn bề, chạm khắc vẽ vời, khéo đẹp cùng cực. Các nhà đều lát nền bằng đá, trên lát ván kiền kiện, những màng xối đều làm bằng kẽm để hứng nước; trồng xen cây cối, cây vả cây mít đều to mấy ôm. Vườn sau thì núi giả đá quý, ao vuông hồ quanh, cầu vông thủy tạ, tường trong tường ngoài đều xây đầy mấy thước, lấy vôi và mảnh sứ đắp thành hình rồng phượng, lân hổ, cỏ hoa. Ở thượng lưu và hạ lưu Chính dinh đều là nhà quân bày hàng như bàn cờ. Những nhà của thủy quân lại ở đối ngạn. Xưởng thuyền và kho thóc thì ở các xã Hà Khê, Thọ Khang trên thượng lưu. Còn nhà vườn của các công hầu quyền quý thì chia bày ở hai bờ thượng lưu sông Phú Xuân, cùng hai bờ sông con bên hữu Phủ Cam. Ở thượng lưu hạ lưu phía trước Chính dinh thì chợ phố liền nhau, đường cái đi ở giữa, nhà cửa chia khoảng tiếp nhau, đều là mái ngói. Cây to bóng mát, tả hữu thành hàng. Thuyền buôn bán, đò dọc ngang, đi lại như mắc cửi. Bài Sơn minh của Chu Dũ tin có câu rằng "Thanh ý xuân môn, câu cừ giao ánh; Lục hòe thu thị, châu tiếp tương thông" (Cửa xuân như dải vóc xanh, khe ngòi ánh lộng; Chợ thu dưới bóng hòe lục, thuyền chèo lại qua), tưởng cảnh sắc cũng như thế này thôi. Đại sĩ Ngô Hoàn Phúc năm Ất Mùi qua chùa Tây Thiên có đề câu thơ rằng:

"Bảo các quỳnh lâu bán dĩ hoang,
Phạm cung y cựu đối tà dương.
Khả liên nhị bách niên cơ nghiệp,
Bất cập sơn tăng nhất mộng trường."

(Lầu quỳnh gác ngọc nửa đà hoang,
Chùa vẫn như xưa đối ác vàng.
Cơ nghiệp hai trăm năm đáng tiếc,
Chẳng bằng giấc mộng của sơn tăng.)

---

Trước kia sự buôn bán với Đồng Nai được lưu thông, gạo ở Phú Xuân 10 thưng là 1 hộc (ngang 20 bát quan đồng) chỉ giá 3 tiền, có thể đủ cho 1 người ăn 1 tháng, nên dân chưa sốt sắng với việc làm ruộng. Nay ở Quy Nhơn có loạn, Gia Định cách trở, người ta mới lo thiếu lương thực.

---

Năm Cảnh Hưng thứ 5, Giáp Tí, Nguyễn Phúc Chu nhân nghe người Nghệ An truyền câu sấm "tám đời trở về Trung Nguyên", thấy từ Đoan quốc công đến nay vừa đúng 8 đời, bèn xưng vương hiệu, lấy thể chế mũ áo trong Tam Tài đồ hội làm kiểu, hạ lệnh cho hàng võ từ Chưởng dinh đến Cai đội, hàng văn từ quản bộ đến chiêm hậu huấn đạo, đều y theo kiểu mới, áo thì dùng vóc đoạn, người sang thì dùng mãng bào thủy ba, mũ thì trang sức bằng vàng bạc. Lại hạ lệnh cho trai gái hai xứ đổi dùng áo quần Bắc quốc để tỏ sự biến đổi; đến như khiến phụ nữ đều mặc áo ngắn hẹp tay như áo đàn ông thì Bắc quốc không có thế. Trải hơn 30 năm, người ta đều tập quen, quên cả tục cũ. Khi quân nhà vua vào cõi, người huyện Đăng xương là Trần Duy Trung dâng thơ có câu "Tám chúa chán xem Tân pháp độ; Trăm năm lại thấy Hán uy nghi".

---

Thuận Hóa được yên bình đã lâu, công tư đều dồi dào, mặc dùng tươi đẹp, lại trải qua thời Nguyễn Phúc Khoát hào phóng bắt chước nhau, làm thành thói quen, quan viên lớn nhỏ không ai là không nhà cửa chạm gọt, tường vách gạch đá, the màn trướng đoạn, đồ đạc đồng thau, bàn ghế gỗ đàn gỗ trắc, chén mâm đồ sứ đồ hoa, yên cương vàng bạc, y phục gấm vóc, chiếu đệm mây hoa, phú quý phong lưu, đua nhau khoe đẹp. Những sắc mục ở dân gian cũng mặc áo đoạn hoa bát ti và áo sa, lương, địa làm đồ mặc ra vào thường; lấy áo vải áo mộc làm hổ thẹn. Binh sĩ đều ngồi chiếu mây, dựa quả tựa hoa, ôm lò hương cổ, hãm chè hảo hạng, uống chén sứ bịt bạc và nhổ ống nhổ thau, đĩa bát ăn uống thì không cái gì không phải hàng Bắc, một bữa cơm ba bát lớn. Đàn bà con gái đều mặc áo the là và hàng hoa, thêu hoa ở cổ tròn. Coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ rất mực.

Thuận Hóa không có nhiều của cải, đều lấy ở Quảng Nam, vì xứ Quảng Nam là đất phì nhiêu nhất thiên hạ. Người Thăng Hoa Điện Bàn biết dệt vải lụa vóc đoạn lĩnh là, hoa màu khéo đẹp chẳng kém Quảng Đông, ruộng đồng rộng rãi, gạo lúa tốt đẹp, trầm hương, tốc hương, sừng tê, ngà voi, vàng bạc, đồi mồi, trai ốc, bông, sáp, đường, mật, dầu, sơn, cau, hồ tiêu, cá muối, gỗ lạt, đều sản xuất ở đây. Ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Gia Định thì thóc gạo khôn xiết kể, khách Bắc buôn bán quen khen bao không ngớt.




Phủ biên tạp lục
Tuesday, January 31, 2012 Author: Trường An

Lê Quý Đôn viết khi đến Phú Xuân làm Hiệp trấn vào năm 1776.



Sang năm Bính Thân (tức năm 1776 sau Công nguyên), chúng tôi vâng mệnh lệnh nhà vua nhậm chức Tham thị Quân vụ, đồng thời được lãnh chức Hiệp trấn ở cõi đất mới này (tức trấn Thuận Hóa).

Lúc bấy giờ, quân binh và nhân dân đang ở lẫn lộn với nhau. Cá tỳ tướng và quân hiệu thì ỷ lại thế lực, họ lấy trộm các tài liệu và triệt hạ những chốn quân phòng cũ để làm những đồn mới. Họ lại còn chuyên quyền bắt bớ, giam cầm và khám xét những người khác nữa.

Đồng tiền kẽm không được lưu hành, giá lúa gạo ngày càng nhảy vọt. Những nhà làm muối đều phải bỏ nghề nghiệp của mình. Các quan chức cũ cùng với nhân dân ở các địa phương trong hạt tranh giành nhau ruộng nương, đất đai, rồi do đó mà xảy ra không biết bao nhiêu vụ kiện thưa và bới móc chuyện riêng của nhau nữa.

Cách ăn mặc của quan lại và nhân dân thì khác biệt nhau hẳn. Vì vậy mà những kẻ hung hãn, bạo tàn ngày càng điêu ngoa đắc chí; còn những kẻ yếu hèn cô thế càng ngày càng sinh lòng phẫn uất oán hờn.

Đứng trước tình cảnh ấy, chúng tôi cùng các quan đồng liêu trù liệu bàn bạc, và khu xử mọi việc đều được thích nghi.

... Còn cách thức may y phục như áo mặc và mũ đội từ lâu nay người ta theo dị dạng, thì bắt buộc phải sửa đổi lại cho hợp thức, khiến ai nấy đều phải tuân theo chế độ Quốc triều.

Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ số tiền sắm sanh y phục tuy không đáng bao nhiêu, nhưng vật dụng lại đáng quý, cho nên chúng tôi cũng khoan cho người ta một thời hạn, trước khi bắt buộc ai nấy đều phải đổi hẳn kiểu ăn mặc cũ.

---

Phúc Thuần 12 tuổi nối ngôi, tự hiệu là Khánh Phủ đạo nhân, lại có tên là Phúc Hân. Tuổi trẻ, thích chơi bời múa hát, lại có bệnh không gần đàn bà được, sai người con hát yêu dâm loạn với cung nữ để làm vui; chuyên dùng Trương Phúc Loan, tôn làm Quốc phó. Phúc Loan tha hồ bán quan, buôn ngục tù, xử lý việc hình luật rườm rà, bắt dân chúng đóng góp sưu thuế rất nặng. Chú Phúc Thuần là Thường Quận công bị Phúc Loan ghét, vu cho tội tự tạo binh khí mà giam lại. Người họ Nguyễn đều oán mà không dám nói.

Năm 34, Quý Tị, người thôn Tây Sơn huyện Phù Ly là Nguyễn Văn Nhạc nhà Tây Sơn xướng loạn, phá ngục cho tù, lùa dân chúng làm lính rồi chiếm cứ hai xứ Quy Nhơn và Quảng Nghĩa. Nguyễn Phúc Thuần cho quân đi đánh thì thua ngay. Tại hai xứ này, nhân dân thừa hưởng bình yên đã lâu nàgy. Chiến sĩ chỉ ngồi ăn không, chưa trải qua chiến trận bao giờ. Nay nghe nói nhà nước sai đi đánh trận, phần nhiều đều run rẩy sợ hãi, chỉ cần sao cho khỏi phải đi lính đánh trận là được. Trương Phúc Loan mỗi lần nhận của hối lộ, lại cho người cải sai (đổi công tác sai dịch). Đến sau, có những người bị bắt làm công tác sai dịch, họ yêu cầu người khác thay thế họ không được, lai sinh lòng oán hờn, giận dữ Trương Phúc Loan. Rồi mỗi khi lâm chiến trận, họ đều bỏ chạy. Trương Phúc Loan không thể nào lấy pháp luật mà ràng buộc người ta mãi mãi, nên cứ bị thua trận nhiều lần. Nguyễn Văn Nhạc bèn đánh phá, chiếm cứ dinh Quảng Nam. Bọn khách buôn vô lại là ngụy Tập và ngụy Lý cũng đều nổi lên theo, Nguyễn Văn Nhạc kết nạp làm vây cánh. Tập xưng là Trung Nghĩa quân, lại cho lấy những người cao lớn hung ác ở Quảng Nam cho cạo đầu kết tóc gọi là người Khách, khi ra trận khiến uống rượu say và cởi trần ra, đeo giấy vàng bạc vào cổ mà xông vào trận, tỏ ra là liều chết. Quân của Phúc Thuần cứ nghe tin là vỡ chạy, không dám đối địch. Từ Ải Vân trở vào Nam bị giặc chiếm cả, đâu đâu cũng bị tao loạn và náo động. Trương Phúc Loan lại vu cáo cho người anh của chúa Phúc Thuần là Văn Đức hầu tội làm phản chống lại triều đình. Sau đó vài tháng, Văn Đức hầu bỏ trốn đến châu Nam Bố Chánh. Trương Phúc Loan bắt Văn Đức hầu điệu về, rồi dìm Văn Đức hầu xuống sông Tam Giang. Người đời bấy giờ, ai ai cũng cho là Văn Đức hầu chết một cách oan uổng.

Lúc bấy giờ, ở Thuận Hóa, luôn mấy năm mất mùa đói kém, nhà nước phải xuất lúa kho chẩn cấp cho dân đói không ngừng, còn quân sĩ và nhân dân thì sinh lòng hoang mang, lưng chừng.

Niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 35, năm Giáp Ngọ (tức năm 1774 sau Công nguyên), Trấn thủ Nghệ An là Đoan Quận công Bùi Thế Đạt chuyển đệ tờ trình của tướng giữ đồn Bố Chánh là Trà Võ bá, đại lược nói: "Hiện thời tình hình Quảng Nam rối loạn. Triều đình đã bình định xong Hưng Hóa, khắc phục được Trấn Ninh, quốc đô chúng ta rất phồn thịnh. Nay Vương thượng đã soi tỏ, biết họ Nguyễn đã đến hồi suy vi hèn yếu. Cơ hội hiếm hoi này không nên bỏ qua. Vậy xin triều đình quyết định sách lược để chinh thảo quân địch..." Triều đình lập tức phái Đại tư đồ Quốc lão là Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc làm chức quan "Kiêm Thống suất binh Nam thượng tướng quân"; còn Đoan Quốc công làm chức quan "Kiêm Thống suất binh Nam đại tướng quân" thì đi kinh lược trước. Việp quận công đem 3 vạn quân trú đóng ở xứ Cầu Dinh.

Việp Quận công đưa thư chiêu dụ địch quân, đại để nói: "Triều đình vốn có thạnh ý cấp cứu và viện trợ nhân dân ở miền này..."

Phúc Thuần chưa chịu quy thuận triều đình, nhưng cũng không lo phòng bị lâm chiến.

Tháng 11 năm này, Vương thượng (tức chúa Trịnh Sâm)tấu tri Đức Hoàng thượng làm lễ kính cáo tại Giao đàn và nhà thờ Tôn miếu để thân ngự dẫn sáu sư đi đánh phương Nam.

Vương thượng lưu trú ở Cầu Dinh để chỉ dẫn và giao phó các phương cách sách lược.

Vương thượng ra lệnh cho Việp Quận công phải tiến quân qua đò sông Gianh đến đất Cao Lao.

Đồn tướng là Xu Chính hầu đón rước mệnh lệnh triều đình. Còn Trấn thủ Bố Chánh là Tiệp Tài hầu thì bỏ trốn mất dạng.

Tướng giữ lũy Trấn Ninh đều ra đầu hàng. Còn các tướng sĩ, lại thuộc, quân nhân và nhân dân ở đấy đều đem nhau quy thuận triều đình cả.

Trấn thủ đạo Lưu Đồn Trường Lộc hầu cũng như Trấn thủ Quảng Bình Kiêm Minh hầu đều những người tuổi cao sức yếu. Bao nhiêu binh lính dưới quyền hai người ấy trước kia đã được chuyển đến Quảng Nam. Số còn lại không thể thành quân ngũ cũng đều đến đầu hàng và quy phụ triều đình trung ương cả.

Việp Quận công noi theo lũy Trường Dục đi về phía Tây Nam đến Trạm Cung bắt được một kho chứa đựng một trăm bốn mươi vạn bát lúa.

Còn các tướng sĩ ở Cát dinh cũng đều ra quy thuận quan quân cả.

Từ Khang Lộc đến Hải Lăng có 5, 6 huyện, từ quan đến dân, từ lớn đến nhỏ đều tới bái yết trước cửa quân đông người như họp chợ, không một ai dám chống lại mệnh lệnh Việp Quận công cả.

Đại quân của Việp Quận công trú đóng tại bến sông xã Hồ Xã thuộc huyện Minh Linh.

Tại đây Việp Quận công sai người vào dụ dỗ Nguyễn Phúc Thuần. Thành quận công họ Nguyễn là Nguyễn Huống cùng tay chân bè lũ đều lập mưu bắt Trương Phúc Loan hiến cho Việp Quận công, đồng thời dâng bản tấu văn khẩn khoản xin hiến 800 lượng vàng lên triều đình, và đưa tặng Việp Quận công 200 lượng.

Phúc Thuần lại xin kính nạp bản đồ cùng sổ sách và xin dâng lễ cống hiến lên Lê hoàng.

Các điều mà Phúc Thuần khẩn thiết yêu cầu chưa được Việp Quận công phúc đáp thì viên cai đội của Phúc Thuần là Tô Nhuận đã nói: "Lần này quan quân triều đình đến đây không đông đúc cho lắm. Thống tướng thì bận áo bào vải xanh, còn quân sĩ thì áo quần tệ lậu. Như thế, tất nhiên không phải là đại quân."

Bởi vì tục quen ưa chuộng phù mĩ, xa xỉ, do đó mà sinh lòng khinh địch, Phúc Thuần bèn cho xuất binh cự chiến với quan quân.

Ngày mùng 7 tháng 12 năm ấy, sau khi đã qua khỏi sông Độc Giang, đến các xã Lương Phúc và Diên Sinh, Việp Quận công sai Trân Lĩnh hầu Nguyễn Đình Khoan đốc suất đạo Hậu quân, Thạc Võ hầu Hoàng phùng Cơ làm tiên phong đón đánh địch quân. Quan quân triều đình đón đánh và bắt sống quân địch không biết bao nhiêu mà kể.

Ngoài ra, quan quân còn bắt được của địch hơn 30 con voi và 100 con ngựa.

Thủy quân địch ra cự chiến ở sông Độc Giang cũng bị đại bại.

Việp quận công tiến quân noi theo đường núi cốt tiến đánh lấy Thác Ma và Thác Trầm, để làm cầu nổi qua thượng lưu sông Bái Đáp.

Phúc Thuần không còn xuất phát quân sĩ nữa.

Sau 28 ngày cầm cự, Phúc Thuần vội vàng bỏ cung phủ, chở vàng bạc, của cải, châu báu xuống thuyền.

Phúc Thuần cùng với hơn 100 thân binh chạy vào cửa biển Tư Dung.

Niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 36, năm Ất Vị (tức 1775), ngày mùng 3 tháng giêng, đại quân Việp quận công ồ ạt tiến vào thành Phú Xuân.

Việp Quận công khiến Hoàng Đình Thể đuổi theo gấp Nguyễn Phúc Thuần. Phúc Thuần liền bỏ thuyền chạy, trèo gấp qua núi Hải Vân, rồi ẩn vào một ngôi chùa đến 3 ngày. Các người tùy tùng Phúc Thuần đều phân tán mất dạng. Quan quân tranh nhau lấy vàng ngọc của Phúc Thuần, nên không đuổi theo Phúc Thuần cho đến cùng đường.

Phúc Thuần chạy vào cửa biển Câu Đê Quảng Nam, rồi vào ở nhà Tả tướng quân là Nguyễn Hữu Du, rồi vào dinh Quảng Nam, sửa soạn xếp đặt.

Thấy ngụy Tập giữ gìn chưa chu đáo, bèn cho chiến thuyền qua cửa biển vào Đại Chiêm, ngụy Nhạc theo chân núi đem bộ binh ra nguồn Thu Bồn để đánh. Du chạy vào trong núi ở Hàn Hải. Phúc Thuần cùng cháu là Phúc Dương bỏ Quảng Nam lui về Cu Đê.

Vương thượng sai Việp Quận công kiêm lĩnh chức Trấn thủ xứ Thuận Hóa.

Tháng 3 năm này, ngự giá đem quân trở về Kinh đô. Chúa Trịnh còn ra lệnh cho Việp quận công tiến quân lấy Quảng Nam cho kỳ được.

Tháng 3 năm này, Việp Quận công xin lưu Đoan Quận công để án giữ kinh thành Phú Xuân. Rồi Việp Quận công chia quân làm 2 đạo trèo qua Hải Vân đánh phá đồn Câu Đê, Phúc Dương chạy. Ngày 5 tháng 4, bắt được mẹ và vợ Nguyễn Phúc Thuần cùng đồ đảng và binh khí rất nhiều. Còn Nguyễn Phúc Thuần thì đã đáp thuyền vượt biển đi vào vùng Gia Định từ ngày tháng 2 trước. Thuyền mới ra, bị gió dữ, dạt vào Vũng Lấm dinh Bình Khang, ngày 25 mới đến Long Hồ. Còn bọn bầy tôi đi theo Nguyễn Phúc Thuần là Nguyễn Hữu Du cùng với 16 chiếc thuyền và đoàn thủy thủ đều bị chết đuối cả, Nguyễn Huống và Nguyễn Kính cũng bị đắm chết.

Ngày 9, quan quân đánh phá đồn Trung Sơn, đánh tan ngụy Lý ngụy Nhạc cùng Nguyễn Phúc Dương là cháu Nguyễn Phúc Thuần. Ngày 22, đóng quân ở Cẩm Lệ, ngụy Nhạc cùng ngụy Tập Đình hầu đem hết quân lội qua Trà Khê, xông vào hỗn chiến. Binh súng của quan quân không kịp bắn, phải lấy gươm giáo mà đánh. Việp công sai Hoàng Đình Thể, Hoàng Phùng Cơ cùng các tướng hơn 10 người thúc voi đánh hăng. Ngụy Nhạc cùng ngụy Tập thua to, theo khe mà chạy. Quan quân đuổi theo, nước khe chỉ đến bành voi, các tướng ngồi trên bành voi đâm giặc, chết rất nhiều. Ngày 24, Hoàng Đình Thể đến Cẩm sa. Ngụy Nhạc cùng ngụy Tập đem hơn 6000 quân, hơn 30 thớt voi, chia làm 5 chi đón đánh. Quân giặc đều đầu đội khăn đỏ, ở trần, xông vào chém bừa, không đợi thành trận. Lúc trước quân Nhạc thắng luôn quân họ Nguyễn chính vì cách đánh như thế. Không ngờ quan quân sẵn có tiết chế, giặc dù hỗn đấu, quan quân vẫn nghiêm trận không động. Hoàng Đình Thể nhằm trước mặt thúc tượng binh tiến đánh. Quân giặc hoặc bị quan quân giết, hoặc bị voi dày, chết không kể giết, liền vỡ chạy. Việp công sai các quân đuổi theo bốn phía. Ngụy Tập còn đem theo một chi quân ở đằng sau, giương cờ đánh trống ở trong rừng làm nghi binh, ngầm phục ở trong ấp Biểu Mang để chụp hậu quân, cuối cùng lại bị Dĩnh võ hầu Nguyễn Đình Đống đánh bại. Quan quân bắt được đồ đảng giặc cùng quân nhu khí giới nhiều không xiết kể, đuổi theo đến Thanh Hà, thu phục dinh trấn Quảng Nam. Ngụy Nhạc trước giờ nhờ sức bọn Bắc Khách giúp, đến trận thua ở Cẩm sa, ngụy Tập thì trốn đi, ngụy Lý thì trở mặt lìa nhau, đồ đảng của Tây Sơn quá nửa không phục tùng. Ngụy Nhạc bèn sai người dâng xin voi ngựa vàng ngọc, và dâng đất 3 phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên để hàng và xin làm tiền khu cho đại quân để đánh dẹp Gia Định. Việp công nhận cho tiện nghi, trao cho chức hàm Tây Sơn trại tưởng hiệu Tràng Tiết tướng quân.

Tháng 7 Việp công tiến quân chiếm đóng Châu Ổ huyện Bình Sơn. Ngụy Nhạc sai người đến tạ ơn, dâng tờ tâu và tờ khải, lại xin ban khôi giáp và tiến cử em là Nguyễn Văn Bình. Việp công lại sai ban mũ và áo cho Nguyễn Văn Bình làm Tiên phong tướng quân. Gặp Quảng Nam có bệnh dịch, chiến sĩ nhiều người ốm, Việp công lui quân về Thuận Hóa. Tháng 7 thì rút quân về. Tùy sai là Nguyễn Lệnh Tân xin cùng Dĩnh Võ hầu Nguyễn Đình Đống đóng đồn ở Châu Ổ, Hiệp tán Đại tư đồ Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm thì muốn đóng quân ở dinh Quảng Nam và đặt quan Trấn thủ. Việp công không nghe, bèn bỏ hai phủ Thăng Hoa và Điện Bàn, tháng 10 về đóng ở Phú Xuân. Vì ốm xin về kinh, chết trong khi đi đường.

Phúc Thuần giữ dinh Phiên Trấn, còn có 3 phủ là Gia Định, Bình Khang và Bình Thuận. Tháng 2, ngụy Nhạc giữ thành Xà bàn, biên hết dân phủ Quy Nhơn làm binh, sai em là ngụy Bình lấy thuyền vượt biển đánh Bình Thuận, không được. Tháng 3, đánh phá Cửa lấp Vũng Tàu, vào cửa biển Cần Giờ, đốt phá Sài gòn, lấy 3 dinh Phiên Trấn, Trấn Biên và Long Hồ. Phúc Thuần chạy trốn. Tướng tá nhiều người hàng ngụy Nhạc.

Tháng 4, Hoàng Võ hầu Trương Công Phụng phụ trách cơ Quảng Nhất do Đoan quận công sai đồn ở đèo Hải Vân vượt Hải Vân vào Quảng Nam, bắt lính lấy thóc, đến Bến Ván. Ngụy Nhạc mượn cớ ấy đón đánh Hoàng Võ, lại chia một cánh kỳ binh tự phía Tây ra đón đường về. Hoàng Võ thua chạy về Vụng Sảng, ngụy Nhạc bèn sai ngụy Trấn thủ là Toàn giữ dinh Quảng Nam, đóng đồn ở các cửa biển Đại Chiêm, Đà Nẵng, Câu Đê.

Phúc Thuần đã thua chạy vào xứ Bà Rịa, triệu tướng là Kính Thận hầu Tống Phúc Hợp từ Bình Khang về đánh phá binh ngụy Nhạc, lấy lại dinh Trấn Biên, đem binh Đông Sơn về đánh lấy lại dinh Phiên Trấn. Quân ngụy Nhạc đánh 3 trận đều thua, đuổi cướp nhân dân, chở thóc 200 thuyền chạy về Quy Nhơn. Dân Quảng Nam đói khát khốn cùng, đều mong quân nhà vua đến. Triều đình nghĩ rằng xứ Thuận Hóa mới phụ đương cần vỗ yên, chưa rỗi tính đến công việc cõi xa.




Hình luật
Thursday, January 26, 2012 Author: Trường An

Trích Việt sử yếu của Hoàng Cao Khải.

Hình luật nhà Lý

Về triều nhà Đinh có "tri hổ hình" là phép bỏ tội nhân vào chuồng cọp[1], triều nhà Tiền Lê có "pháo lạc hình" là phép hình đốt, nướng tội nhân[2], ấy đều là những pháp luật dã man vậy.

Năm đầu niên hiệu Minh Đạo nhà Lý (tức Lý Thái Tông), nhà vua ra lệnh chế hình thư 3 quyển, rất tiếc hình thư ấy không được truyền đến ngày nay. Chúng tôi chỉ thấy đại lược ở Sử ký có nói: "Vua Lý Thái Tông ban định lệ cho chuộc tội. Nhưng những ai phạm vào tội thập ác thì không được áp dụng thể lệ lấy tiền chuộc tội".

Đến đời vua Lý Nhân Tông mới định: "Những ai can tội giết người sẽ bị xử tử, những kẻ bắt trộm trâu bò sẽ bị phạt nặng..."

Vua Lý Anh Tông còn định luật chuộc ruộng.

Hình luật nhà Trần

Niên hiệu Thiên Ứng năm thứ 13 Trần Thái Tông (1244), bộ hình luật đầu tiên mới được soạn thảo. Tới năm đầu Thiệu Phong Trần Dụ Tông (1341), nhà vua mới sai Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu tăng bổ và minh định thêm một quyển, để bổ khuyết vào những điểm thiếu sót của luật hình trước đó.

Tuy nhiên sách vở trong nước từ triều Trần trở về trước đều bị nhà Minh tịch thu đưa về thủ đô Kim Lăng hết, cho nên hiện nay không còn tài liệu để tra cứu cho tinh tường.

Nay ta tạm căn cứ theo quốc sử mà xét, hình luật nhà Trần chia làm ba hạng:

1) Đồ: Tức là phát vãng đi nơi xa, người phạm tội bị khắc chữ lên trán, bắt phải hành dịch cày ruộng công, mỗi năm phải nộp 300 thăng lúa. Hoặc bị áp giải tới kinh đô để phục vụ công tác hái củi nặng nhọc.

2) Lưu: Tức là đày tới châu ác thủy (nay thuộc huyện An Bang).

3) Tử hình: Phạm tội đại nghịch thì phải tội chết chém. Xét trong thiên bút ký chép việc nhà Trần của một người nhà Nguyên tên là Trần Cương Trung có nói về hình luật nhà Trần, có câu rằng: Hình luật nhà Trần rất là thảm độc. Trộm cắp và trốn lính đều bị chặt ngón chân, hoặc là cho voi dày. Nếu như thế không biết họ đã căn cứ vào tài liệu sách vở nào?

Nghiên cứu sử ký: hình xử phạm nhân về tội đại nghịch, triều Lý chưa có. Mãi cho tới tới triều Trần Anh Tông mới đặt đạo luật xử tội phản nghịch.

Hình luật thời Lê:

Niên hiệu Thuận Thiên năm đầu (Lê Thái Tổ), luật lệ đã được minh định.

Năm thứ hai niên hiệu Đại Bảo (Lê Thái Tông), vua sai Nguyễn Trãi soạn thảo luật hình gồm 6 quyển.

Năm thứ bảy niên hiệu Thái Hòa (Lê Nhân Tông), tăng định thêm đạo luật điền sản của các tư gia, gồm 14 điều khoản.

Năm thứ 14 niên hiệu Hồng Đức (Lê Thánh Tông), vua sai 2 ông Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận tu bổ và minh định lại luật lệ, thấy rõ trong sách "Thiên Nam dư hạ tập".

Nay nước ta gọi bộ luật đó là luật Hồng Đức.

Án hình được chia ra làm 5 bậc:

1) Phạt xuy: đánh bằng roi.

2) Phạt trượng: đánh bằng gậy, tùy theo án nặng nhẹ để định nhiều ít.

3) Phạt đồ: đày đi an trí.

4) Lưu: phát vãng đi xa (cũng tùy theo tội nặng nhẹ để định thời gian).

5) Tử hình: tội chết (cũng tùy theo tội nặng nhẹ mà định thủ tục gia hình).

Lê triều làm luật hình đều theo luật nhà Tùy, nhà Đường (Tàu) nhưng có châm chước. So với luật đời Lý đời Trần thì đã tường tất hơn nhiều.

Hính luật nhà Hậu Lê cũng giống hình luật nhà Tiền Lê.

Nhà Tiền Lê có phép hình chặt tay rất là thảm khốc.

Đến năm thứ 2 niên hiệu Bảo Thái Lê Dụ Tông (1721 - Tân Sửu), triều đình mới định sửa lại luật ấy như sau:

Hễ ai bị hình án xử chặt 2 cánh tay thì được cải án đồ chung thân; hễ bị xử án chặt một cánh tay thì được cải án đồ sáu năm. Còn như người nào bị xử án chặt hai ngón tay trỏ thì được cải án đồ 3 năm...

Những phạm nhân can tội ăn trộm và ăn cướp đều không được áp dụng theo luật đã sửa đổi này.

Chú thích:

[1] Vua Đinh Tiên Hoàng muốn lấy uy quyền của mình để chế ngự thiên hạ, cho nên năm thứ 2 (969), nhà vua cho đặt cái vạc lớn ở sân rồng và nuôi mãnh hổ ở trong chuồng.

Đế hạ lệnh rằng: Nếu ai mà trái phép luật nhà nước thì sẽ bị bỏ vào vạc nấu, hay bỏ vào cũi cho cọp ăn thịt.

Các tội nhân đều khiếp sợ, không người nào dám tái phạm.

[2] Lê Ngọa Triều tức Lê Long Đĩnh là một ông vua vô cùng tàn nhẫn. Đế có tánh ưa giết người. Mỗi khi hành hình một tội nhân nào, Đế sai lấy tranh săng trói người ấy lại, rồi sai thắp lửa đốt, nướng cháy tội nhân ấy chết co quắp chân tay, rất thảm mục thương tâm.




Tựa Truyện Kiều
Friday, December 23, 2011 Author: Trường An

Trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình. Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê đó là cái căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy. Thế mà lại có kẻ thương tiếc tài tình, xem thấy việc, trông thấy người, thì còn nhịn thế nào được mà không thở than rền rĩ!

Nghĩa là bậc thánh mới quên được tình, bậc ngu không hiểu tới tình, tình chung chú vào đâu, chính là chung chú vào bọn chúng ta vậy. Cho nên phàm nhân đã ít tình, tất là không có tài, chỉ nửa lòa nửa sáng, sống chết trong vòng áo mũ, trong cuộc no say, dù có gặp cái cảnh thanh nhã như hoa thơm buổi sáng, trăng tỏa ban đêm, cũng chỉ trơ trơ như cây cỏ, như cá chim vậy!

Còn đến bậc tuyệt thế tài tình, mặt ngọc vẻ hoa, lòng gấm miệng vóc, ngâm thơ liễu nhứ[1], nổi tiếng đài gương vịnh phú ngô đồng[2], khoe tài ấn bút, nếu một bậc quán tuyệt thiên thu[3] như thế, lại gặp được bậc chân chính tài nhân, kết duyên tác hợp[4], khi thơ ngâm hoa nở, khi đàn gảy trăng lên, nguồn ái ân trọng nghĩa trăm năm, truyện phong lưu chép thành một lục, người đương vào cảnh ấy đã không gặp phải nỗi khảm kha bất bình, thì người truyền lại việc ấy còn phải đặt ra truyện Đoạn trường tân thanh làm gì!

Chỉ vì dịp may dễ lỡ, việc tốt thường sai, tiếng hoàn lạnh ngắt, còn trơ bóng trúc lung lay mặt ngọc vắng tênh, chỉ thấy đào hoa hớn hở. có tài mà không gặp được tài, có tình mà không tả được tình, tài tình đã tuyệt thế, gặp toàn bước khảm kha, há không phải là con Tạo đang tay ách người quá lắm ru? Ấy chính là truyện Đoạn trường tân thanh vì đấy mà làm ra vậy.

Truyện Thúy Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không cần bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi, Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình thì vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường thì lại là cái tiếng mới vậy. Trong một tập thi chung lấy bốn chữ "Tạo vật đố tài" tóm cả một đời Thúy Kiều: khi lai láng tình thơ, người tựa án khen tài châu ngọc; khi nỉ non tiếng nguyệt, khách dưới đèn đắm khúc tiêu tao; khi duyên ưa kim cải, non bể thề bồi; khi đất nổi ba đào, cửa nhà tan tác; khi lầu xanh, khi rừng tía, cõi đi về nghĩ cũng chồn chân; khi kinh kệ, khi can qua, mùi từng trải nghĩ càng tê lưỡi. Vui, buồn, tan, hợp, mười mấy năm trời, trong cuốn văn tả ra như hệt, không khác gì một bức tranh vậy.

Xem chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy dậy mà căn duyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc đàn bạc mệnh gảy xong, mà oán hận vẫn còn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thắm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên là Đoạn trường tân thanh cũng phải.

Ta nhân lúc đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, thì tài nào có cái bút lực ấy. Bèn vui mà viết bài tựa này.

Thúy Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm truyện Thúy Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một; người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thật là một cái thông lụy của của bọn tài tử khắp trong gầm trời và suốt cả xưa nay vậy.

Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều, tuy lời văn quê kệch, không đủ sánh với bức giao thiên, song đủ tỏ ra rằng cái nợ sầu của hai chữ tài tình, tuy khác đời mà chung một dạ. May được nối ở đằng sau quyển Tân thanh của Tố Như tử, cùng làm một khúc đoạn trường để than khóc người xưa.

(Tháng hai, niên hiệu Minh-Mệnh, viết ở Thán hoa hiên đất Hạc giang.
Tiên phong, Mộng liên đường chủ nhân)



Chú thích:

    1. Tạ Đạo Uẩn ngâm thơ liễu nhứ
    2. Mạnh Hạo Nhiên vịnh cây ngô đồng
    3. Vượt hơn tất cả xưa nay
    4. Bởi chữ "thiên tác chi hợp" ở kinh trời xe duyên vợ chồng

Bài tựa Truyện Kiều bằng Hán văn do Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân viết, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim dịch, in ở đầu quyển Truyện Thúy Kiều, Vĩnh Hưng Long thư quán xuất bản ở Hà Nội năm 1925.




Vườn xuân lan tạ chủ
Wednesday, November 30, 2011 Author: Trường An

Năm mươi năm về trước, du khách ở vùng Thanh Hóa thường khi đi qua chỗ bến đò Ái Sơn, về hữu ngạn con sông Mã, nhận thấy ở vệ đường tay mặt một khoảnh vườn độ bốn, năm sào, xung quanh trồng toàn một thứ tre đằng ngà.

Đáng chú ý nhất là cái cổng kiến trúc theo lối cổng bên Phù Tang hải đảo. Nếu khách biết chữ Hán và đọc được chữ thảo Bát hiền đại chủ đời Thanh, thời khách nhận thấy ba chữ tên biệt thự viết phỏng theo lối chữ Tăng Quốc Phiên. Trên cái nền bằng gỗ lim sơn màu "cấn rượu", ba chữ thếp vàng "Túy Lan Trang" như hoạt động trên miếng bạch thạch cẩn vào gỗ đỏ.

Chủ nhân "Túy Lan Trang", một vị hưu quan, từ ngày được nộp lại triều đình chiếc ấn vàng, lui về chỗ huê viên, thường để hết thời giờ vào việc vun trồng, chăm chút một thứ lan rất quý, tìm tận ở Yên Tử sơn, hồi còn tại chức nơi tỉnh Đông ngoài Bắc. Hoa xưa kia, quen cái khí hậu nơi đỉnh núi cao; nhất đán hoa về nơi đồng bằng, hoa không khỏi một phen rầu rĩ với ngày nắng hạ, đêm sương thu chỗ xứ lạ mà lá úa giò gầy. Sớm, chiều hai buổi thăm hoa, chủ nhân lan viên chỉ lo hoa kia chẳng ở mãi với mình, mà cái công ngàn dặm chọn đất lành bọc cỏ quý quảy về quê hương sẽ lấy chi đền chuộc lại. Sau một hồi tàn tạ giữa lan viên, hoa lại bắt đầu cười với gió xuân về. Thoảng mùi lan đượm, ngắm lá lan xanh rờn trên mấy hàng chậu sứ túy lan lớp đất phủ lần vỏ sò cùng hòn cuội trắng, chủ nhân như sống một cảnh đời mới. Rồi lan kia như cảm tình người tri kỷ, ngày một thêm hoa và chả mấy chốc chủ nhân phải lùi lầu trang về một mé huê viên, nhường nơi đất tốt cho cỏ quý nẩy ngọn thêm cành.

Chủ nhân lấy luôn tên giống lan đặt làm tên biệt thự, ngụ cái ý yêu hoa và tỏ cho khách qua đường biết vườn nhà đầy cỏ lạ.

Nhớ đến lời sư Cụ chùa Quỳnh Lâm vùng tỉnh Đông dặn lại sau khi cho giống lan, mỗi bận xuân về, sớm sớm, chủ nhân lại phải cho cả vườn Túy lan say với hơi rượu thời cái vương giả hương ấy mới còn ở với người thế gian. Ngày xuân phải bón lan bằng hương rượu, chủ nhân rất lấy làm sung sướng được gần vùng cất rượu ngon có tiếng ở châu Thang là làng Vĩnh Trị. Ái Sơn đối ngạn Vĩnh Trị và đứng ở Túy Lan Trang trông rõ đê làng Vĩnh Trị. Những buổi sớm mùa xuân, mặt nước con sông Mã phẳng lặng như tờ, lại lăn tăn làn sóng nhỏ do mái chèo đập làn nước của một chiếc thuyền nan bơi từ bến ái Sơn sang bến làng Vĩnh Trị. Bọn người sinh nhai chỗ duyên giang, dậy sớm đứng trên mạn thuyền để thở cái không khí trong sạch bình minh vui cười bảo nhau:

"Lại thuyền cô chiêu Tần bên Túy Lan Trang qua Vĩnh Trị lấy rượu cho hoa!".

Phải, cô chiêu Tần - con gái ông chủ vườn Túy Lan Trang đi lấy rượu về bón huê đấy!

Quan án Trần, vì cái thích chơi hoa, phải giảm những sự chi dùng trong nhà để có đủ tiền đặt thứ "rượu khê" cho hoa lan, trị giá hai quan một vò bên làng Vĩnh. Mà mỗi sớm, chèo thuyền đi lấy rượu theo lời cha dặn, cô chiêu Tần đã diễn ra trên dòng nước sông Mã một cái cảnh tượng giống như trong tranh thủy mặc của người Tàu. Một người con gái mà cái dáng điệu dịu dàng đã in theo khuôn nhịp chốn đài trang, tóc búi cánh phượng, áo mặc rộng tay màu thiên thanh, chân đi dép cỏ mà lại thực hành một cái ý nghĩ chan chứa màu thơ - ngày xuân cảnh sớm, bơi thuyền lấy rượu cho hoa - đủ làm cho lãng tử được thấy cái đẹp ấy phải đưa mình vào mộng.

Vươn mình trên con bạch tuấn, cậu ấm Hai nghì cương, xuống yên, buộc ngựa vào gốc thùy dương, rồi đi tản bộ đến một cái quán dựng trên đê. Ngồi trên bệ đắp bằng đất sét, cậu ấm Hai như chờ đợi một người và muốn giết thời giờ, luôn tay phe phẩy cái roi ngựa làm bằng cành liễu khô bẻ ở cổng huyện Đông Sơn là nơi người cha ngồi chức Huyện úy. Cậu ấm Hai ngồi chờ cô chiêu Tần đi lấy rượu về. Ngồi đợi người yêu lâu quá sức đợi và khi cúi mặt nhìn nền mặt đất chực chỗ quán nước, cành liễu khô đập luôn luôn vào đôi má chiếc giày tàu bằng nhung đen đế gai xe tám sợi, không đủ cho người quên hết những ý nghĩ về thời gian một khắc một chầy, cậu ấm Hai lại cất mình lên ngựa cho khuây khỏa nỗi lòng khi vắng bạn. Con bạch tuấn được lỏng cương vế, cũng uể oải lê bốn vó trên đường. Vó câu một bước lại dừng, con bạch tuấn còn mê man những đám cỏ non của ngày xuân phủ kín mặt đê dài. Rồi vẳng tiếng hát nơi đầu sông đưa lại. Cậu ấm Hai nhận thấy được tiếng người quen, gò đôi cương nâng cao đầu ngựa trắng; lỏng tay buông tay khấu, lần bước dặm đê, ngựa đã từ từ đi xuống nơi dốc chỗ bến đò. Cậu ấm Hai, cô chiêu Tần cùng nhau thi lễ: người xuống ngựa, khách dừng chèo, nơi giang đầu lại có cái cảnh tượng như hệt cảnh tả trong bài thơ của Bạch Lạc Thiên.

- Xin lỗi công tử đã dầy công chờ tiện nữ. Dưới Nguyệt viên vào đám, đặt nhiều rượu ở bên Vĩnh Trị, nên hôm nay qua lấy rượu cho lan phải đợi lâu. Vậy công tử sang bản trang từ bao giờ?

- Án từ nơi huyện đã xong nên bữa nay gia nghiêm muốn qua Túy Lan Trang xem hoa nở. Gốc trầm Quảng Nam buộc ở đầu ngựa này sẽ dùng để đốt lên trong khi lệnh nghiêm và gia nghiêm cho phép tiểu sinh ngồi trì hồ.

- Quan Lệnh doãn cho công tử mang trầm qua Túy Lan Trang như mỗi lần hội diện cùng gia nghiêm, thời bên bàn rượu, trước những giò lan nở, tiện nữ lại một phen được nghe lại tiếng đàn thập lục của công tử.

Quan Lệnh doãn huyện Đông Sơn là bạn thân và là khách quý của quan án Trần bên Túy Lan Trang. Ngày còn làm kẻ thư sinh, hai ông già ấy, đã cùng thi một trường, thụ giáo một thày và xuất thân cùng một hội. Sóng nước bể hoạn, tuy không làm chìm đắm nổi khách công danh trong khoảng mấy chục năm trời, nhưng cũng đã làm cho hai người đòi phen tơ tưởng lúc xa nhau. Hoạn hải từ ngày thuyền buộc bến, quan án Trần về ở Túy Lan Trang, cho là một cái diễm phúc được vui tuổi già gần người cố hữu. Rồi muốn cho cái tình thân ấy được thân hơn một bực nữa, đôi bạn già ngỏ ý cho nhau rõ rằng sẽ đi lại với nhau bằng cái tình thông gia gây nên bởi cuộc phối hợp nay mai của hai trẻ. Đều là người hiểu rõ cái lẽ sự vật trên thế gian, hai ông già không chịu uốn mình theo lề thói giả dối và thực hành cái luân lý khổ khắc với đôi trẻ thơ. Cho nên còn ở cái thời kỳ vị hôn phu và vị hôn thê mà cậu ấm Hai cùng cô chiêu Tần thường được gặp nhau và trò chuyện. Nếu cuộc đời cứ theo cái nhịp êm đềm mà đưa đôi già, đôi trẻ ấy đi với ngày lụn tháng qua, thời chân hạnh phúc của con người ta, tạo hóa có lẽ dành riêng cho nhà họ Trần và nhà quan Lệnh doãn Đông Sơn. Lạc thú hai gia đình ấy ví có thời mé lầu Túy Lan Trang bày chi thiên lệ sử; khách tài tình phỏng ngàn năm không để giận thời giống lan kia, còn cợt mãi gió xuân về! Nếu hầu hết những hạnh phúc đều giống nhau ở chỗ ấm cúng, êm đềm, đầy đủ thời mỗi nghịch cảnh lại có bộ mặt riêng tùy theo cái đau đớn của người trong cuộc.

Năm Ất Dậu, đời vua Đồng Khánh, vùng Hoan Ái phải qua cơn binh lửa gây nên bởi loạn Văn Thân. Cũng có người lấy danh nghĩa mà dúng tay vào công cuộc phá hoại; nhưng vứt đâu cho hết những kẻ lợi dụng thời cuộc, làm cho thỏa thích lòng dục trong lúc giao thời trắng đen không tỏ rõ. Cái thời loạn! Mà thời loạn thời trai thời loạn chứ sao? Cô chiêu Tần sống vào buổi non sông mờ cát bụi, đã đành trông ngóng cái thời bình. Cậu ấm Hai gặp lúc loạn ly, không những không có thủ đoạn của kẻ làm trai thời loạn, mà còn tỏ cho người thời ấy biết rằng một kẻ thư sinh chỉ có cái tâm hồn lãng mạn là một người chọn lầm thế kỷ. Chọc trời khuấy nước, trong khi người ta ham chuộng cái sức khỏe mà chỉ biết có ngón đàn, hiểu có hồn hoa, thời ở tâm người tài tử, buồn, tủi, cực đến dường nào! Trước những cái tin máu, xương thành sông núi, trăm họ bị làm cỏ, hai trái tim thơ ngây, của cô chiêu Tần và cậu ấm Hai, đều đập chung một điệu hãi hùng. Riêng về phần quan án Trần, thời thân già đã không lấy làm quan tâm đến vóc xương khô, còn những lo cho hoa, làm sao ngăn nổi gót chân đám người ô hợp nếu một mai chúng tràn đến.

Quan Lệnh doãn Đông Sơn lo việc tuần tiễu quân nghịch cũng thưa đi lại trên quan án Trần. Nơi Túy Lan Trang, hoa thường vẫn nở, người thường vẫn không chểnh mảng việc vun xới cho hoa mà chỗ lan viên lần lần như đã thấy cảnh điêu tàn. Không phải tại người, không phải tự hoa; chỉ tại cái không khí nặng nề của thời loạn phảng phất trên chỗ hoa viên.

Một đêm kia, về quãng cuối năm Bính Tuất, mưa tuôn rả rích, gió thổi vù vù, một cái đêm đông đầy những sự bí mật tối đen.

Cô chiêu Tần, kinh động mở mắt dậy. Mé lầu trang lửa đỏ ngất trời. Tiếng người đi lại nhộn nhịp. Tiếng người quát tháo dữ dội. Họ nhét giẻ vào miệng cô chiêu Tần, rồi vực đi. Chỗ bến đò Ái Sơn, bốn chiếc thuyền từ từ dời bến. Đứng trên mui thuyền có tiếng người con gái gào khóc, một người vạm vỡ mặc quần áo đen, quấn khăn đầu rìu, tay cầm một cây "hồng" đốt bằng giẻ tẩm dầu, soi sáng quắc mặt nước con sông.

Bên Túy Lan Trang, lửa vẫn đỏ ngòn mà tịnh không ai cứu hỏa. Tre và gỗ chỗ lầu trang thi nhau mà cháy trước những ngọn lửa xanh lè liếm quanh loài thảo mộc. Lúc mà ngọn lửa đám cháy không soi rõ những đám lan xanh rờn trên chậu sứ, thời canh đã sang tư. Đêm tăm tối buông một bức màn bí mật, lạnh lẽo lên trên chỗ hoa viên tàn tạ. Chỗ đầu sông, đàn đóm lập lòe nơi bến nước, gió đêm vi vút bãi lau già!

Sớm hôm sau, các người ở vùng đấy, ngồi triết lý suông, giữa hai ngụm nước chè tươi nơi quán:

- Quan án Trần cũng vì bị kinh động, cảm xúc mạnh quá mà chết. Cô chiêu Tần, thuyền cướp mang đi. Cái biệt thự kia bị cháy ra tro. Cho hay sống vào thời loạn, cái phú quý và cái sắc đẹp cũng nhiều khi là cái mầm vạ lớn.

Từ khi lan vắng chủ, từ khi hoa không người nâng giấc, giống cỏ quý kia cũng quyết tạ theo tri kỷ, thề không ở lại với thế gian. Vả chăng người giai nhân đã đi, cái hào hoa cũng tận. Cái thuật cất "rượu khê" bên làng Vĩnh Trị, cũng không ai truyền lại cho ai nữa, để lại một mối tiếc cho "làng men" mỗi khi nhắc tới cái phong vị hồi cận đại.

Sau cái đêm dữ dội ấy, cây cỏ nơi Túy Lan Trang đều một loạt ủ rũ như để tang cho người thiên cổ. Tơ liễu khóc mưa, tóc tùng reo gió, bóng tre lìa bụi, đều ngậm một cái tình buồn trước cái hương trời lăn lóc khoảnh vườn hoang. Lan đã biết tạ chủ, thời cỏ cây kia há kém ai!

Để lại bên sông một khoảnh đất cao hơn mặt ruộng, đứng xa trông như một cái gò phát bằng ngọn, ngày nay, Túy Lan Trang chỉ còn là một chỗ đi về của đám mục đồng. Tụi trẻ kia không biết kính trọng cái âm phần của giống Túy lan khi yên giấc sau lúc tạ chủ, cho trâu bò giẫm nát cả mồ hoa!

Thiên "thảm sử Túy Lan Trang" cũng đi theo với thời gian và bị xóa nhòa trong trí nhớ người đồng thời. Ngày nay du khách đi qua vùng Ái Sơn đất Thanh Hóa, nghe thấy những danh từ "Gò Lan tạ" và "Quán cậu Hai" phải hỏi mãi mới ra nghĩa cũ. "Gò Lan tạ" là nền tảng Túy Lan Trang và là cái nơi vùi hoa lan; "Quán cậu Hai" là nơi cậu ấm Hai nghỉ ngựa trước khi gặp người ngọc chỗ lầu trang, vẫn hết sức giơ cái thân tàn chịu lấy cái gió mưa nơi đầu bến. Gò, quán kia đã ghi vào trong tâm trí khách chơi hoa một cái kỷ niệm buồn rầu. Vườn xuân lan tạ chủ; đàn đóm lập lòe nơi bến nước mà gió đêm vi vút bãi lau già...

 

 

Tiểu thuyết thứ bảy, 1935
NGUYỄN TUÂN





Copyright © Trường An. All rights reserved.