Trong năm 1777-8, thuyền trưởng tàu Rumbold đã từng tới Đàng Trong đã có báo cáo tích cực đầy hứa hẹn về đất nước này cho người Anh. Ông ấy đã đưa về theo 2 vị quan chức khá quan trọng của Đàng Trong không về được đất nước do bị thời tiết xấu và được người Anh đón tiếp chiêu đãi ở Calcutta. Vì thế mà ông Hasting là Thống đốc lúc đó đã cử ông Chapman tới Đàng Trong để tính đường tạo mối quan hệ thương mại với nước này. Ông Chapman đã trở về Belgan vào nắm 1779, nhiệm vụ thất bại và bị buộc phải rời khỏi đất nước ấy, trốn thoát trong khó khăn. Nhưng ông ấy đã để lại cho Thống đốc Belgan bản ghi hành trình với những ghi chép giá trị về lịch sử và địa lý.
Tóm tắt bức thư của Thống đốc Hasting:
- Hai quan chức Đàng Trong bị tai nạn đắm tàu có 1 người là họ hàng nhà chúa, 1 người có địa vị khá cao. Người Anh đón tiếp trọng thể và dự định đưa họ về vào mùa xuân năm sau, dự định nhân đó mở quan hệ thông thương với Đàng Trong.
- Theo người Anh nghe được, riêng cảng Đà Nẵng mỗi mùa đã đón 70-80 tàu lớn, và thương nghiệp nơi này là nguồn thu nhập chính của Macao. Đàng Trong được đánh giá rất cao về giá trị thương mại trong tất cả người bấy giờ.
---
GHI CHÉP CỦA CHAPMAN
Tháng 2 năm 1778, 2 quan chức Đàng Trong được đưa tới Calcutta trên tàu tên Rumbold. Tình huống mới lạ này đã khơi dậy sự tòmò của khu cư trú và được báo lên Toàn quyền. Vị thuyền trưởng tàu Rumbold cho biết họ dự định đến Belgan nhưng vì được nghe nhiều điều tích cực về Đàng Trong thì đã ghé ngang qua Đà Nẵng. Trên bờ biển, ông ấy được tiếp cận bởi giáo sĩ Thiên Chúa Senhor Lorico để đi nhờ về Belgan, và 2 quan chức họ hàng nhà chúa muốn tới Đồng Nai theo vị chúa đã lánh tới trốn cuộc tao loạn vừa bùng nổ giữa đất nước. Thuyền trưởng nghe nói giáo sĩ Lohor rất được dân bản xứ kính trọng và đã đối xử nhân đạo với thuyền Anh bị mắc cạn vào năm 1764 nên chấp thuận. Ông ấy nhổ neo, dự định đưa 2 quan chức đến Đồng Nai, nhưng một cơn bão lớn đã đẩy con tàu đi xa miền Nam khu vực này không thể quay lại, nên ông ấy đưa họ tới đây.
Sáng hôm sau, 2 viên quan và giáo sĩ Lohor được đưa đến chào Toàn quyền, được đón nhận với sự tôn trọng và nhân đạo. Họ được cho 1 căn nhà, người hầu,mọi vật dụng cần thiết, giới thiệu về mọi nơi trên đảo.
Hai viên quan này ở Belgan cho đến giữa tháng 4. Trong thời gian đó, chúng tôi đã chuẩn bị tàu nhỏ chừng 78-80 tấn đưa họ trở về, cùng với quà cáp mà chúng tôi dự định tặng cho vị vua. Chúng tôi cũng cho rằng sẽ rất tốt nếu có thể thiết lập quan hệ thương mại với đất nước ấy. (Thao tác quan hệ để Chapman được giao sứ mệnh). Cùng đồng hành với tôi là ông Bayard thuộc công ty, ông Totty là bác sĩ, thuyền trưởng Maclennan của tàu Amazon và thuyền trưởng Hutton của tàu Jenny.
Nhiệm vụ của tôi là thiết lập quan hệ giữa khu cư trú của công ty ở Ấn Độ với Đàng Trong, được chính phủ ấy cho thêm những đặc quyền và lợi thế trong việc nhập khẩu. Hy vọng sẽ mở rộng thêm hàng hóa từ Ấn và châu Âu tới quốc gia ấy, nhập thêm được hàng hóa địa phương.
Tôi lên tàu Amazon vào ngày 16/4 cùng viên quan lớnvà 5 6 người tùy tùng của ông ta. Người kia theo nguyện vọng đã đi chiếc tàu nhỏ hơn vốn được chuẩn bị cho 2 người. Thuyền ấy sẽ rời cảng trước chúng tôi vài ngày và gặp nhau ở Mallaca, rồi sẽ cùng đi hành trình còn lại. Tôi đem theo trên tàu vài món hàng hóa từ Ấn và Âu, dự định xem món nào sẽ được yêu thích. Đúng 1 tháng sau đó, chúng tôi thả neo ở Mallaca, và ngày 12/6 đến cảng Trigano ở Malay. Chúng tôi phát hiện ở nơi này chừng 30-40 người bản xứ Đàng Trong bị bão chìm tàu dạt vào Trigano, bị buộc trở thành nô lệ của Rajah. Họ báo cho viên quan thông tin của đất nước nhưng quá ít. Tôi đã nỗ lực giải cứu những người tội nghiệp này, và ngạc nhiên không ít trước sự ngần ngừ của họ.
Chúng tôi kéo dài thời gian ở Trigano thêm 1 2 ngày, lấy thêm hàng hóa tươi dự là sẽ thiếu ở Nam Hà, và nhổ neo vào ngày 17. Ngày 20, chúng tôi đến gần đảo Pulo Ubi, ngày tiếp theo ở vĩ độ 8'35 gần đỉnh Cambodia. Tôi hoạch định hướng đi này nhằm để tiếp cận nhánh tây dòng sông lớn nằm giữa Cambodia và Đàng Trong, biết được tình hình của đất nước và gặp được vị chúa được nói là đã tới Đồng Nai.
Ngày 24/6, chúng tôi thả neo ở cửa sông Cambodia. Ngày 26, tôi lên boong tàu Jenny gặp ông Moniz người Bồ Đào Nha, nghe ông ấy nói tin thám thính được: Kẻ phản loạn Nguyễn Nhạc đã lấy đi mọi thứ ở Đàng Trong, vị chúa đã chạy tới Côn Đảo và bị giết. Và người anh lớn của chúa rơi vào tay quân phản loạn, bị hắn buộc phải lấy con gái mình. Người anh này là con lớn trong 2 người con trai của chúa trước, nhưng Tể tướng Phúc Loan có ảnh hưởng lớn cuối triều đã gả con gái cho vị hoàng tử nhỏ, và khi tiên chúa mất đi đã đưa con rể lên ngôi. Và vị Tể tướng này áp đặt thuế khóa nặng nề lên mọi cư dân khiến rối loạn bùng nổ trong nước, Đàng Ngoài thừa cơ tấn công. Khi quân đội này tới đã hứa hẹn rằng chỉ giải quyết viên Tể tướng gây loạn lạc, hỗ trợ vị chúa chống lại kẻ thù. Vị chúa trẻ bị kẻ thù của Tể tướng xúi giục đã tin lời như cừu vào miệng sói. Viên Tể tướng dù xấu xa cũng là người có năng lực chống lại toàn bộ mối đe dọa xung quanh chúa. Người Đàng Ngoài nắm được điều này đã trọng đãi ông ta khi bắt được, sử dụng kiến thức ông ta để tấn công. Họ lập tức chiếm lấy thủ đô Huế, vị chúa bỏ chạy đến Đồng Nai, sau đó là Côn Đảo, nơi ông ấy bị bắt giữ và giết chết. Viên Tể tướng được mang tới Đông Kinh sống đời phủ phê.
Sáng hôm sau tôi trở về tàu Amazon, nghe tin tình báo của thuyền trưởng Hutton rằng vài người mà ông ấy để lại Đà Nẵng vào năm ngoái đã bị Nguyễn Nhạc giết chết, và khoảng 20-30 thuyền buồm của ông ta đang đậu trên nhánh sông cách Bathai 2 ngày đường. Không rõ lực lượng của những thuyền buồm ấy, và theo thông tin nhận được thì không nhầm ác ý của họ với chúng tôi, đặc biệt nếu biết rằng chúng tôi có họ hàng nhà chúa trên thuyền, tôi nghĩ rằng nên bỏ kế hoạch cập bến Bathai. Tuy nhiên, biết rằng còn 1 nhóm ủng hộ nhà chúa ở Đồng Nai, tôi quyết định đi xa 1 chút để đưa viên quan này về với nhóm người của mình. Thuyền trưởng Hutton cho biết người Bồ Đào Nha có thể dẫn đường, tôi trở về tàu và sáng hôm sau nhổ neo.
Ngày 1/7 chúng tôi thả neo ở mũi đất gọi là Vũng Tàu, đây là vùng đất cao nội địa đầu tiên mà chúng tôi tiếp cận. Nhưng tất cả chúng tôi ngừng lại, không ai biết đường tới Đồng Nai, viên quan và người của ông ấy chưa từng đến đó không cho tôi được thông tin nào. Bực bội vì thất vọng, tôi tự lên thuyền nhỏ vào bờ thám thính. Ông Bayard và quan chức thứ 2 đi theo tôi cùng 2 người hầu của viên quan làm phiên dịch. Khi vào bờ, tôi cho 2 phiên dịch đi trước, giữ mọi người trên thuyền. Khi 2 phiên dịch trở lại, họ đưa theo 2 hay 3 vật thể trông thảm hại nhất mà tôi từng thấy, trên bờ vực bị đói ăn và dịch bệnh hủy diệt. Phiên dịch nói rằng lên bờ an toàn, chúng tôi làm theo. Những cư dân tội nghiệp này nói với tôi rằng họ ở 1 làng gần đó, dân số chỉ còn lại hơn 50 người, hầu hết trong tình trạng như họ. Hai ba tháng trước, đội thuyền của Nguyễn Nhạc trên đường tới Đồng Nai hiện bị phong tỏa đã ghé vào nơi ở của họ, đã cướp đi toàn bộ những gì còn sót lại từ nạn đói khủng khiếp năm trước đó đã giết chết hơn nửa cư dân Đàng Trong. Họ đã chẳng còn gì ăn ngoài thứ rễ do sóng đẩy lên bờ biển khiến họ nổi mẩn khắp người, và 1 thứ gì đó giống khoai tây nhưng dài hơn.
Tôi đã không còn thắc mắc với sự thờ ơ mà những nô lệ ở Tricago đã tỏ ra với đề nghị của tôi. Họ không có đủ lòng yêu nước để trở về với cái bụng đói thay vì chọn làm nô lệ xứ người. Không có nô lệ nào ở Đàng Trong. Khi dò hỏi hai ba dòng sông dẫn tới N.W và hỏi tên, họ bảo 1 dòng dẫn tới Đồng Nai. Thêm vài vật thể như thế này nữa tụ tập quanh tôi. Căng thẳng với hoàn cảnh thảm thương mà không có sức để làm gì, tôi vội vã về thuyền, đưa theo 1 ông già có vẻ thông minh nhất để báo tin cho viên quan, và xác định chúng tôi nên làm gì tiếp theo.





