Solitude

.Nhu nhược ư thủy, thủy chi thắng cương More...

3. Thích vô ác đạo
Trường An in "Thiên nhạc" September 1st, 2014

Năm ấy, mùa hạ, Vương thượng Bắc triều thân chinh dẫn hai mươi vạn đại quân đánh xuống miền Nam.

Chiến tranh giữa hai vương triều đã diễn ra trong hơn năm mươi năm, vừa có một khoảng thời gian yên bình sau những cuộc đụng độ tàn khốc mười năm trước. Vương thượng Bắc triều ghi mối hận cũ, năm ngoái cho sứ giả đến Nam triều, bị lính canh ở ngoài lũy chặn đường, mỉa mai nhục mạ không cho vào, vị Vương thượng nóng tính này đùng đùng nổi giận. Năm nay, nhân lúc được mùa no ấm, Bắc triều kéo gần hết quân đội cả nước đánh Nam triều.

Sau này, vị lão tướng Tiết chế trải trăm trận, đã từng tham gia từ trận chiến đầu tiên cho đến trận chiến cuối cùng của hai vùng đất tổng kết: Họa từ miệng mà ra.

Dù sao, nói như vậy thì vẫn có đôi phần chủ quan. Vì trong hơn năm mươi năm chiến tranh, có nhiều vị đại tướng đã lập nên công nghiệp to lớn cho quân đội Nam triều. Mảnh đất phương Nam vốn chỉ là một rẻo đất hẹp, diện tích bằng một phần mười, dân số bằng một phần hai mươi đất Bắc. Triều đình này có thể đứng vững và tồn tại nhờ vào hệ thống thành lũy đắp cắt đôi nút thắt biên giới – và những viên chiến tướng tài ba. Nhưng trải qua năm mươi năm, bọn họ rơi rụng dần dần. Năm trước nữa, đồng liêu của Tướng quân Tiết chế, người đã từng được phong là quyền Nguyên soái của Nam triều, qua đời. Đó mới hẳn là lý do chính khiến Vương thượng Bắc triều động binh lần này.

Năm mươi năm, những chiến dịch tấn công của quân đội Bắc triều ngày càng lớn hơn cả về quân số lẫn thanh thế. Lần này, họ huy động quân đội cả nước kéo đến, quyết tiêu diệt triều đình ở dải đất bé nhỏ phía Nam cho được.

Hai vương triều tiếp giáp với nhau bởi một vùng đất cát bên biển rất hẹp, có chiều ngang chỉ khoảng vài chục dặm, biên Tây bị chắn bởi lớp lớp núi cao hào sâu. Trên vùng đất này, sáu mươi năm trước, Nam triều đã cho xây một hệ thống thành lũy lớn, bao gồm nhiều lớp bọc hậu cho nhau, dựa vào thế sông thế núi mà phòng ngự, tiếp ứng lẫn nhau. Trong nhiều đợt tấn công trước, quân Bắc triều chưa bao giờ xuyên thủng được hệ thống lũy này. Mà ẩn trong lũy, dựa vào sông ngòi, quân Nam triều có thể dùng thủy quân phục kích doanh trại địch, buộc họ phải lui.

Từ trên thành lũy nhìn xuống, chỉ thấy đất cát nhấp nhô lẫn với vài cụm cỏ cây thưa thớt, sông ngòi cong cong dẫn ra biển, nước chảy xiết. Bên kia sông, quân Bắc triều cũng đã cho đắp lũy xây thành, lập đồn phòng ngự kiên cố chẳng kém quân bờ Nam. Rút kinh nghiệm những lần thất bại trước, Vương thượng Bắc triều thân chinh, chỉ còn thiếu cách xây cả phủ đệ hành dinh bên chiến trường.

Bây giờ, lá cờ Nguyên soái bay phần phật trên thành lũy, đội thuyền chiến Nam triều đậu kín cửa sông Tre, ngoài cửa biển cho đóng cọc gỗ, bên cầu qua sông dựng đồn phòng thủ. Nguyên hệ thống thành lũy này có năm đồn lũy chính gồm lũy Cát, lũy Chính, lũy Động, lũy Lũng và lũy Mâu Sơn; hiện tại trên các lũy đều giăng cờ Trấn thủ, Tiết chế, Chưởng cơ Phò mã trấn giữ.

Điều quân khiển tướng đóng giữ các nơi xong, Nguyên soái đích thân cho người hộ vệ dân chúng vùng biên giới vào trong lũy Động, đặt lũy này dưới quyền thủ hộ của Trấn thủ dinh Biên. Lũy này dựa vào núi Mâu Sơn cực Tây của rẻo đất, soi xuống dòng sông Yên Chi chảy giữa các rặng núi cao. Người dắt díu bồng bế nhau mà đi leo núi vượt rừng, vẻ kinh sợ lẫn chịu đựng hằn sâu trên gương mặt. Trẻ con gào khóc, người già lụm cụm rơi rớt lại, đoàn người di tản xao xác, chẳng mấy chốc đã chia năm xẻ bảy thành nhiều nhóm.

“Họ không chịu đi nữa, Nguyên soái.” Trấn thủ Biên dinh về doanh báo với Tứ công tử, vẻ bất đắc dĩ hiện lên trên nét mặt. “Họ bảo có ở ngoài thì cũng chẳng còn gì cho quân Bắc triều đến cướp. Vả lại, doanh Biên còn giữ được, sao lại bắt họ về lũy Động?”

Doanh Biên ở đầu chiến trường, có thể chống được bao lâu với quân Bắc? Nguyên soái nghĩ thầm, nhưng không nói ra. Nghĩ một lúc, chàng gật đầu.

“Bảo họ rằng ai muốn bảo đảm an toàn thì cố sức di chuyển về lũy Động, quân đội sẽ theo hỗ trợ. Còn ai không đi được thì ở lại sau đồn lũy Biên dinh, quan Trấn thủ hãy trông coi bọn họ.” Câu sau, chàng nói rất nhẹ nhàng, hẳn viên Trấn thủ này cũng chẳng mấy coi đó là quan trọng.

Vả lại, chàng cho rằng, lời mình đối với các viên lão tướng này cũng chẳng có mấy sức thuyết phục.

Điều quân khiển tướng trấn giữ quan ải là điều mà ai cũng làm được, huống hồ bọn họ là người đánh trận trực tiếp, Nguyên soái là chàng đóng quân phía sau bọn họ, không biết đến lúc nào mới phải ra chiến trường. Danh tiếng chàng có được chẳng qua cũng chỉ nhờ vài cuộc tập trận, đấu quân, đấu sức nơi thao luyện binh tướng, vài cuộc luận bàn đấu trí nơi kinh kỳ. Đối với những viên tướng võ biền lập thân bằng chiến công trận mạc, có thể đến chữ nghĩa cũng chẳng thông, trận pháp càng không biết, thì toàn bộ thứ gọi là ‘danh tiếng’ của chàng công tử mới đôi mươi này là một loại trang sức hoàn toàn vô dụng dành để đeo cho các vương tôn. Lần này Vương thượng để con út ra chiến trường chứ chẳng phải Đông cung Thế tử thì cũng đã cho thấy địa vị của chàng ta trong lòng người.

Nên bên ngoài, họ vẫn giữ lễ quân thần tôn kính với Nguyên soái, bên trong thì chàng thể nào chẳng rõ.

Nhưng xem ra, đúng như Nguyên soái đã từng nghĩ, ‘mưu kế’ phóng đại quân lực, hù dọa đối thủ của Tri bạ chẳng giữ được bao lâu. Sau một thời gian quan sát động tĩnh quân Nam, Vương thượng Bắc triều phát lệnh tiến đánh. Đoàn quân khổng lồ ồ ạt tiến qua sông Tre, tấn công doanh Biên. Trấn thủ dinh Biên tính khí cương cường nên mở cửa thành đem quân chặn địch. Số quân ít ỏi không chống cự nổi, dinh Biên vỡ trận, Trấn thủ phải đem quân bỏ chạy về lũy Động. Quân Bắc thừa thắng đuổi theo càn quét, chiếm dinh Biên, dẫn quân đóng kín vùng đất tiếp giáp Chính lũy, khóa chặt các đường tiếp ứng, đắp đồn dựng trại. Vương thượng Bắc triều đem quân vào đóng trong doanh Biên, quân lực ép thẳng vào toàn bộ hệ thống phòng lũy quân Nam.

Chỉ trong vài ngày, quân Bắc đã đắp thành lũy dài cắt ngang dinh Biên, nối từ núi ra biển. Vương thượng Bắc triều cho tám trăm thuyền chiến đến cửa sông Tre, đe dọa đoàn quân của Tướng quân Tiết chế ở lũy Cát. Súng thần công trên đài cao mới đắp của quân Bắc giã xuống đánh sập cầu Nai không cho quân Nam qua sông. Đến cửa biển, đại quân Bắc bỏ thuyền lên bộ, định đánh vào sau lưng quân Nam ở lũy Cát.

Được tin báo, Nguyên soái vội phát lệnh đắp đài súng thần công trong lũy Trấn Ninh, nhằm thẳng vào mặt sau lũy Cát để phòng ngự. Một đài súng khác được đắp ở cầu Nai, nhắm vào đội quân định vượt sông mà chặn. Thấy hai đường tiến công bị đại pháo chắn đường, Vương thượng Bắc triều ngừng tiến, cho quân lui về giữ dinh Biên.

Bên kia, Nguyên soái chỉ cho quân phòng giữ chắc chắn các thành lũy, cũng không phản công.

Tin mất dinh Biên báo về triều đình, chỉ chừng mười ngày sau, Nguyên soái đã nhận được tin hồi đáp: Vương thượng cùng Đại công tử sắp thân chinh dẫn mười vạn đại quân đến tiếp cứu.

Tứ công tử nhìn qua tờ tin, không đọc mà ném ra sau lưng.

“Cử người báo cho các tướng, Vương thượng đem mười vạn quân tiếp ứng, đóng ở cửa biển Bốn.” Ngoảnh đầu về phía viên Tham mưu, chàng nói. Khi ông ta đã vâng lệnh ra ngoài, còn lại một mình trong doanh, chàng nghĩ ngợi một lát, chợt bật cười.

Hóa ra viên Tri bạ khi nói ‘mười sáu vạn’ đã lường trước ngày này. Họ vẫn còn muốn cầm cự, muốn nhờ thủy thổ, bệnh dịch hay bất cứ vận may nào đó để cầm giữ, hầu khiến quân Bắc phải lui. Trò chơi này họ đã thành thạo suốt năm mươi năm, nhưng chả lẽ Vương thượng Bắc triều lại không hiểu?

Một tin này có thể khiến Vương thượng Bắc triều phải ngần ngại, nhưng cũng có thể khiến ông ta đẩy mạnh tấn công hơn.

Hoặc là, đẩy mạnh tấn công một cách khôn ngoan hơn.

Quả nhiên, nghe tin Vương thượng Nam triều dẫn quân tiếp ứng, những đợt pháo kích của quân Bắc ngớt đi. Thay vì thế, đội quân này đổ ra đào những đường hầm ngoằn ngoèo, sâu chừng năm, sáu thước, từ trong dinh quân Bắc áp sát mặt lũy Lũng. Những đội quân do thám luồn rừng băng núi, vào sâu trong từng xóm làng để nhắm đường tấn công lũy Động, Mâu. Cùng đội thủy quân ngoài cửa biển bao vây bãi Cát Dài, Vương thượng Bắc triều chầm chậm chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công toàn diện.

“Nguyên soái có kế sách gì hay không?” Đứng trên đài cao của thành Lũng nhìn những đường hầm như rắn bò đang tiến lại gần, Đại Phò mã hỏi. “Chúng ở dưới đó, đạn pháo không bắn trúng được.”

“Thì chúng cũng phải lên thành thôi. Chuẩn bị tốt những vật dụng chống công thành là được.” Nheo mắt trong cái nắng gay gắt, Nguyên soái trả lời. Hai bên đấu pháo, phòng ngự qua lại đã hơn hai tháng. Trời đã sắp qua thu. Nếu vận may mà họ cầu sắp đến, thì là quân Bắc sẽ không chống chọi nổi trong mùa đông mà phải lui. Nhưng một khi đã chiếm được dinh Biên, lấy được toàn bộ cơ sở vùng biên giới của quân Nam nơi ấy, thì đoàn quân này cầm cự qua mùa đông là hoàn toàn có thể.

“Nghe dân chúng chạy về bảo, chúng cho quét sạch các làng trong vùng.” Đại Phò mã lại nói. “Bắt được người ủng hộ ta, chúng đem úp đầu vào sọt cứu hỏa mà quay, cổ đứt đầu nát. Ngày ấy họ không nghe lời Nguyên soái, mới có cớ sự bây giờ.”

“Dân chúng chạy về?” Nguyên soái nhìn Đại Phò mã, ướm hỏi. Đại Phò mã gật đầu, chỉ về phía Tây. “Họ không thể vượt qua thành lũy này, chỉ có thể chạy về phía Tây đến lũy Động. Người báo tin của Trấn thủ dinh Biên hôm trước đến đây có nói.”

Nguyên soái lại quay nhìn những đường hầm ngoằn ngoèo dưới chân, im lặng.

Chiều tối hôm đó, chàng cho người đi thám thính tình hình quân ở lũy Động, bản thân dẫn một nhóm binh đến đóng ở ngôi làng gần đó.

Lũy Động là nơi đón chứa dân chạy loạn, nghe tin này hẳn không yên. Trấn thủ dinh Biên thua trận, mất doanh, hẳn vẫn còn oán hận chưa nguôi. Hơn nữa, so với hệ thống thành lũy kiên cố ở rìa biển, lũy Động, Mâu chỉ nhờ vào địa thế hiểm yếu mà giữ. Nếu muốn phát động tấn công, Vương thượng Bắc triều hẳn phải chặt bỏ hai cánh lũy Động Mâu và Cát Dài, sau đó từ hai bên ép lại, trực diện tấn công tiêu diệt Chính lũy. Những ngày quan sát động tĩnh quân Bắc đã khiến chàng hiểu ra ý định của ông ta.

Với số quân ít ỏi có trong tay, chàng chỉ có thể dựa vào thành lũy để chống giữ. Nhưng một hệ thống trường lũy quá hiểm trở và chắc chắn cũng có thể tạo nên sự chủ quan khó có thể ngờ.

Vài hôm sau, người thám thính báo về: Trấn thủ Biên dinh và các tướng quả nhiên đang nổi giận. Các tướng bảo, vùng rừng núi này hiểm trở, bọn họ đã có kinh nghiệm chiến đấu lâu năm, thông thạo thủy thổ. Vương thượng Bắc triều lại cho hàng đoàn quân vào do thám, chẳng mấy chốc mà cho xây cả đồn lũy trong này. Các tướng đang bàn với nhau đánh phủ đầu quân Bắc. Lũy này ở một vùng đất rộng giữa những mỏm núi trập trùng, gần đó là núi Mật. Theo tin báo, các tướng Nam e sợ quân Bắc chiếm núi Mật rồi có thể nhìn vào trong lũy, bày mưu đánh trước. Bọn họ đóng trên đỉnh núi Mật, lập đồn lũy định làm thanh thế. Ban đêm, vẫn có thể thấy ánh lửa sáng trên núi cao.

Hôm sau, tin do thám lại báo về: Quân Bắc điều thêm một nhánh tới phía Tây.

Tối hôm đó, Nguyên soái dẫn theo đoàn quân hơn ngàn người, vượt rừng đến lũy Động.

Chàng đã cho người báo với một viên tướng tâm phúc cạnh Trấn thủ Biên dinh cẩn trọng, đưa một toán quân đóng ở bìa rừng dưới chân núi Mật, nếu thấy có động ở đỉnh núi thì đến ngay tiếp cứu. Không tiện làm rộn trong lũy, Nguyên soái cho quân đóng ở bìa rừng, đầu đoạn đường vào núi. Đợi đến đêm, quả nhiên nghe tiếng ồn ào, lửa cháy sáng rừng rực trên đỉnh núi Mật. Quân Bắc đã im lặng phục kích đồn trại trên núi, đốt đồn, đánh giết quân trú đóng. Một lát, lại nghe dưới chân núi có tiếng binh khí vang, quân Nam phục kích đổ ra, đánh úp sau lưng nhóm quân đang đánh lên núi. Trời tối, rừng dày, quân Bắc thấy bị đột ngột tấn công với đội quân không rõ là bao nhiêu, vội phát lệnh thu quân. Trong lũy nghe tiếng động cũng đốt lửa sáng trời, đem voi ngựa ra thị uy. Tướng chỉ huy quân Bắc tưởng bị mắc bẫy phục kích, liền cho quân nhanh chóng bỏ chạy về.

Vừa chạy đến bìa rừng bên kia, đồn lũy của quân Bắc cũng đột nhiên phát hỏa, bốc cháy sáng trời.

Thấy tướng Bắc đã đem gần hết quân đi đánh núi Mật, Nguyên soái liền cho người đến phóng hỏa doanh trại quân Bắc bên kia. Trong rừng rậm, tên lửa bắn rào rào vào đồn, bắt lấy gỗ, vải dựng trại mà cháy bùng. Trong bốn phương rừng, tiếng thanh la, trống đánh dồn dập vang động. Nhóm quân ít ỏi ở lại coi trại ngỡ bị tấn công vội bỏ trại mà chạy. Nhóm quân đang chạy về thấy đồn trại đã hóa thành một mồi đuốc thì cũng không dám đến tiếp cứu, băng rừng chạy về doanh.

Nhác thấy bóng người ngoài bìa rừng, Nguyên soái giật cương, định thúc ngựa đuổi theo. Viên tùy tướng bên cạnh vội nắm chàng lại.

“Chúng ngỡ ta có mười sáu vạn quân thì phải cho chúng biết chứ.” Nguyên soái mỉm cười, phát lệnh tấn công. Nhóm lính ở phía sau đã chuẩn bị sẵn, lấy trống, thanh la, chiêng đánh vang rền. Tiếng vang truyền giữa những vách đá cao càng nghe như có cả một đại quân đang xông tới.

Nguyên soái ra roi, phóng ngựa đuổi theo toán quân đang vội vàng bỏ chạy.

Nơi này vẫn nằm trong địa phận Biên dinh mà chàng vô cùng thân thuộc. Từ năm mười tuổi chàng được phát hiện ở đây, sau khi chiến tranh tạm yên, chàng vẫn đi theo Vương thượng duyệt quân mỗi năm nơi này. Với một đứa trẻ ham chơi như chàng, các quan tướng vẫn chẳng từ chối đưa chàng đi thám thính mọi nơi, từ rừng sâu núi cao đến sông dài biển rộng.

Chàng biết đội quân kia đang chạy về hướng một ngôi làng gần đó. Nơi này đồng ruộng lẫn với cát, rừng lẫn với đá, chàng vòng qua đường tắt, men theo bóng cây để chặn đầu. Đến sau làng, nhác thấy toán quân kia phía xa, chàng ra lệnh bắn tên lửa vào làng. Những mái nhà rơm bốc cháy. Người trong làng đổ ra, nhìn thấy toàn quân đang chạy tới trước mặt, liền cho rằng chúng đốt làng. Bọn họ bị những nhiễu, ức hiếp đã lâu, nay nhà bị đốt thì bừng bừng nổi giận, hô hào nhau lấy đá chọi chúng.

Toán quân vừa bị phục kích vừa rối vừa tức, cũng đâm nổi nóng, giơ đao kiếm xông vào. Dân làng có vũ khí gì thì chộp lấy mà chống cự. Cuộc ẩu đả diễn ra ngày càng lớn. Toán lính kia, ngay cả tướng của chúng, cũng không giữ nổi bình tĩnh lao đến chém nhóm chúng dân.

Chỉ đợi đến lúc ấy, Nguyên soái cho quân trong bụi cây ào đến. Thấy quân Nam vẫn còn đang truy đuổi, toán quân Bắc hơi hoảng hốt muốn thoái lui, nhưng mắc kẹt vào những dân làng đang ngày càng hung hãn. Nhóm quân Nam dù ít nhưng được trợ lực bởi dân trong làng, lao vào cuộc chém giết xáp lá cà. Cưỡi ngựa chạy trước đoàn quân, đao sáng loáng như tuyết, Nguyên soái lướt thẳng đến nơi của viên tướng Bắc quân. Ánh đao sáng loáng vung lên, xẻ đôi thân người trước ngựa. Lưỡi đao như cuồng phong ngàn cân bổ xuống, đánh dạt bất cứ kẻ nào chắn đường.

Viên tướng kia giật mình, đã thấy Nguyên soái đến ngay trước mặt, vội vã đưa đao đỡ. Trên đà phi tới, đao chàng đâm thẳng về trước, đột ngột đánh móc lên. Đao trên tay viên tướng kia bay thẳng lên không, rơi xuống đất. Đao chàng đã kề cổ ông ta.

“Ngươi là Tham đốc Bắc quân?” Chàng mỉm cười hỏi. Theo thám báo, cầm đầu toán quân phía Tây là một viên Tham đốc.

“Ngươi là ai?” Thấy cái chết khó tránh, viên Tham đốc trừng mắt hỏi lại. Người thanh niên còn trẻ măng, nhưng lại mặc áo giáp bạc của đại tướng, chẳng lẽ lại là…

“Ta là Nguyên soái Nam triều.” Chàng ta thừa nhận. Liếc mắt qua nhóm người đang hỗn chiến, chàng hất cằm. “Bảo họ dừng tay, rồi ta sẽ tha cho các ngươi.”

Nghĩ mình đã lọt vào tay quân địch, chống cự cũng vô ích, viên Tham đốc quát bảo quân lính dừng chém giết. Thấy tướng chỉ huy đã lọt vào tay địch, bọn họ hoảng hốt bỏ chạy. Nguyên soái cũng quát bảo quân lính không truy đuổi.

“Về bảo với Vương thượng của các người, không những mười sáu vạn, ta cũng có thể có cả trăm vạn quân, trên đất này.” Đưa mắt ra hiệu về phía đám chúng dân phẫn nộ, chàng cười, hạ đao xuống. “Đừng để ta thấy lần nữa ngươi chém giết chúng dân của ta.”

Thấy đao đã hạ, viên Tham mưu giật cương ngựa lùi lại, quay đầu bỏ chạy. Nguyên soái dừng ngựa nhảy xuống trước toán dân làng. Bọn họ vội quỳ sụp xuống trước chàng. Ngẩng đầu nhìn ngọn lửa đã cháy to, gần như nuốt chửng cả ngôi làng toàn bằng tranh tre, Nguyên soái thở dài.

“Các ngươi theo ta về lũy Động sống tạm. Khi chiến tranh đã an ổn, ta sẽ phát ít tiền cho các ngươi xây dựng lại cuộc sống.” Khi chàng nói, gió thổi cát bay mù, đưa ngọn lửa bốc lên ngùn ngụt. Có lẽ vì khói và cát, vài người đưa tay lau mắt. Chàng gọi quân lính kiểm kê thương vong, chôn cất người đã chết, nhóm còn lại tách ra, nhanh chóng đưa dân về lũy Động kẻo quân Bắc lại kéo đến.

Khi phân phối mọi việc đã xong, mọi người tản ra, chàng quay lưng định lên ngựa, bỗng nhiên nghe tiếng hét chói tai sau lưng. Theo bản năng, chàng tuốt gươm đeo bên hông, đâm ngược trở lại. Gươm đâm ngọt qua thịt trong tiếng phụ nữ kêu nghẹn.

Nhận lãnh hai cú đâm trước ngực, sau lưng, cô gái chỉ kịp kêu lên, nghèn nghẹn.

“Cô…” Nguyên soái sững sờ trước gương mặt quen thuộc trước mắt. Sau lưng cô, tên lính Bắc quân buông gươm, vội vàng bỏ chạy. Thanh gươm của Nguyên soái đâm tới, lia qua vai, hất gã lăn lộn trên đất.

Khi chàng nhìn lại, mắt cô gái đã trợn trắng. Một kiếm xuyên tim, máu trào lên miệng, cô hớp nghẹn từng đợt. Chỉ còn có thể co giật thêm vài lần, cô duỗi tay, tắt thở.

Người lính kia vẫn lăn lộn trên đất. Chàng rút đao, từ trên cắm thẳng qua tim gã.

Khói vẫn đang dày đặc, bay mù trong cát. Mùi khói và máu tanh nồng, khét đắng cổ, cay cả mắt. Chàng nhìn đôi mắt người thanh niên kia trợn trắng, máu ồng ộc tuôn khỏi thất khiếu. Thân người quằn quại, giần giật trong cái chết truyền lên qua thanh đao nắm trong tay chàng. Cái chết đau đớn, thống khổ nhất in trong mắt chàng.

‘Ngu ngốc!’ Chàng nghe mình thì thầm. Đừng bảo rằng thần linh nào đó gọi cô tới đây, hy sinh cho ta. Hy sinh vì một thứ mình còn không biết?

Cả tên lính này, giết ta rồi thì ngươi sẽ bị phân thây, trong khi chẳng ai biết ngươi là ai. Vì cái gì?

‘Ôi, thần linh, ngài không hiểu.’ Bỗng nhiên, chàng nghe thanh âm lan truyền, giữa những tiếng lao xao, tiếng ồn ào của con người và lửa. Sau đám khói, một bóng trắng hiện lên, đôi môi đỏ như máu mỉm cười.

Vẫn như mười năm trước.

Từ đêm ấy, tin truyền đi khiến Vương thượng Bắc triều phải nao núng: Dân chúng trong vùng tạm chiếm bất mãn, e rằng có biến.

Còn nàng thì chỉ mỉm cười. Nguyên soái, ban đầu ngài bảo ai muốn đi thì đi, nghĩa là chỉ có những người một lòng theo Nam triều mới vào Động lũy, những kẻ do dự hoặc hai lòng thì cứ ở lại. Bằng không, những kẻ không chạy được cũng đã già yếu, chẳng có lợi gì cho ngài. Rồi sau đó, ngài cho phao tin khắp nơi, đánh vào lòng quân ở địa điểm nhạy cảm nhất. Họ hồ đồ làm việc khinh suất, ngài lại ra tay, từ đó trở thành ‘ân nhân’ của họ. Cũng như trở thành ‘anh hùng’ của đám chúng dân.

Cô gái này lọt ra ngoài dinh Biên, cũng do đi theo quân thám báo mà ngài tung ra. Cô ta đi khắp nơi, ca tụng ngài.

Lửa do ngài đốt lên, cũng do ngài bỏ vào tay người khác.

Nguyên soái, thần linh vĩ đại, ngài không hiểu gì về con người, nhưng lại quá thành thạo trò chơi của con người.

 

 

 

Chú thích:

Thích vô ác đạo: Trích trong chương Hóa cầm diễn pháp, nghĩa là "Cõi Phật không có đường ác".




Leave a Reply

(required)

(required)

:) :blush: :D :( :(( ;)) :banh: ;) ::) =)) :)) b-) :meo1: :meo2: :meo3: :meo4: :meo5: :meo6: :meo7: :meo8: :meo9: :meo10: :meo11: more »

Bộ gõ tiếng Việt đã được bật. Bạn có thể gõ tiếng Việt không cần phần mềm trong máy.
RSS feed for comments on this post.


Copyright © Trường An. All rights reserved.