Solitude

Cảnh như thị, nhân như thị

8.
Trường An April 27th, 2022

Phú Xuân là trái tim của Đàng Trong, thì Thiên Mụ là linh khí của Phú Xuân.

Mặc dù phải đến gần cả thế kỷ sau khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Nam, các chúa Nguyễn mới đến đóng đô ở Phú Xuân, nhưng đây là nơi chứng kiến những thái cực thịnh suy của họ Nguyễn cùng triều đại này. Rời khỏi dinh Ái Tử đến dinh Cát rồi làng Phước Yên, tới Kim Long, Phú Xuân, Dương Xuân, các chúa Nguyễn dần dà rời xa lãnh địa chiến tranh với nơi đất cũ. Các dinh phủ, phố thị dần được dựng xây, xác lập nên đô thành của Đàng Trong. Đến khi chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, phủ đổi thành điện, Phú Xuân đã mang vẻ xa hoa của một khu thành lớn ba lớp, có bảy cửa ra vào, một trăm năm mươi khẩu pháo bao bọc, đình điện la liệt nối tiếp nhau. “Mái lớn nguy nga, đài cao rực rỡ, mà giải vồ, tường, bao quanh, cửa bốn bề, chạm khắc vẽ vời, khéo đẹp cùng cực. Các nhà đều lát nền bằng đá, trên lát ván kiền kiện, những màng xối đều làm bằng kẽm để hứng nước; trồng xen cây cối, cây vả cây mít đều to mấy ôm. Vườn sau thì núi giả đá quý, ao vuông hồ quanh, cầu vông thủy tạ, tường trong tường ngoài đều xây đầy mấy thước, lấy vôi và mảnh sứ đắp thành hình rồng phượng, lân hổ, cỏ hoa.” Các trường súng, xưởng thuyền, công đường, trường học san sát nhau, khu nhà quân bày ô như bàn cờ. Nhà dân cũng “đều là mái ngói tường gạch”, thuyền bè đi lại như mắc cửi. Cảnh tượng Phú Xuân được Lê Quý Đôn miêu tả lại thậm chí còn có vẻ huy hoàng sung túc hơn cả dưới thời vua Nguyễn nhiều năm sau đó.

Nhưng có lẽ, công trình đầu tiên mà họ Nguyễn xây dựng ở Phú Xuân là chùa Thiên Mụ. Hơn ba mươi năm trước khi chúa Thượng dời đến Kim Long, ngay sau khi trở về từ Đông Đô, chúa Tiên đã đến Phú Xuân, ra lệnh cho dựng chùa trên ngọn đồi Hà Khê. Người vẫn kể câu chuyện truyền thuyết về lời tiên đoán một “chân mệnh thiên tử”, nhưng ở địa điểm chùa Thiên Mụ trước đã có một ngôi chùa của người Chăm thờ Thiên Mẫu – khá tương đồng với điện Hòn Chén cách đó không bao xa. Quanh địa phương Huế còn rất nhiều dấu tích thành, tháp, điện đài, bia đá cổ của Chiêm Thành, cho thấy một nền văn minh đã từng rực rỡ và một sự sống đã từng rất nhộn nhịp nơi đây. Chúa Nguyễn Hoàng trong chuyến đi kinh lý thủ phủ cổ của châu Ulik (châu Lý) hẳn muốn bày tỏ lòng kính trọng với dấu cũ tích xưa hoặc đơn giản hơn, mong linh khí ngàn năm còn lưu lại bảo hộ mình. Năm ấy, chúa bỏ trốn khỏi Đông Đô, biết rằng mình chẳng còn chốn dung thân nào ngoài mảnh đất này. Chùa Thiên Mụ được xây lên, với bao hy vọng và cầu mong của vị chúa khai nghiệp triều Nguyễn.

Và rồi như một tiếng gọi từ thiên không, các chúa Nguyễn chầm chậm dời dinh phủ về phía Nam, cuối cùng dừng lại ở Phú Xuân. “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, Phú Xuân xa cách phương Bắc bằng trập trùng núi cao sông sâu, bằng dải cát dài bị chắn ngang bởi thành lũy vững. Phú Xuân tựa lưng vào rặng Hải Vân “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” dẫn từ dãy Trường Sơn đổ ra biển. Phía Tây là dãy núi hùng vĩ bậc nhất Đông Dương, phía Đông là biển nhìn ra đại dương lớn nhất thế giới. Phú Xuân nằm sâu trong rừng xanh và những dòng nước quanh quanh, mang vẻ êm đềm hiếm hoi giữa bốn phương thiên nhiên hoang dã ẩn chứa sự khắc nghiệt không thể lường. “Tứ thời giai hạ thị. Nhất vũ biến vi đông” (Bốn mùa đều là hạ, chỉ một trận mưa đã biến thành mùa đông), “nắng thì bùn hóa đá, mưa thì đá hóa bùn”. Dòng sông hiền hòa bỗng chốc có thể cuồn cuộn cơn lũ dữ, cơn gió quen thuộc bỗng nhiên có thể trở nên buốt thấu óc người, tất cả được bao phủ bằng sa mù mơ ảo, bằng nước biếc sông xanh rì rào tiếng thông reo, bát ngát ánh mặt trời. Văn Cao đã viết Thiên thai về xứ Huế với những mộng cảnh lãng mạn tột cùng của “ánh trăng mơ tan thành khói trần gian” chiếu những “mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần”. Không hiểu vì lý do gì, Huế trong ký ức nhiều người luôn mang vẻ đẹp hư ảo của tuổi trẻ, mộng tưởng, và cả tình yêu – thứ tình yêu bàng bạc chôn chặt dưới vành trăng trong, nỗi bi thương đẹp đẽ của ký ức đã phủ bụi thời gian óng ánh.

Dẫu rằng, chỉ cần đi xa vài cây số khỏi trung tâm đô thành, người ta đã lọt vào núi rừng với bao loài ác thú chực chờ, đã đi ra cửa biển trùng trùng sóng nước như một tương lai không thể nào đoán định. Cũng có thể, đó chính là thân phận của tình yêu và mộng tưởng, của một miền hồi ức đã nằm giữa muôn trùng bụi gai.

Đó là nơi các chúa Nguyễn chọn lựa để dựng nghiệp cho mình sau hơn nửa thế kỷ dạt trôi và đã hoàn toàn không còn hy vọng để quay về. Khi những cố gắng cuối cùng tiến về phương Bắc của chúa Hiền đã không thành ở bờ lũy Trấn Ninh, đô thành mới được ngài và những người kế thừa xây đắp ngày càng hoa lệ trên mảnh đất còn ngổn ngang dấu tích vương quốc cũ. Nhưng ngôi chùa cổ được đánh thức vào khoảng thời gian rất lâu sau đó. Phải đợi thêm nửa thế kỷ nữa, chúa Minh Nguyễn Phúc Chu mới cho trùng tu chùa Thiên Mụ, chính thức biến chùa thành quốc tự Đàng Trong.

Dù triều đình theo Nho học, Phật giáo Thiền tông đã phát triển rực rỡ ở Đàng Trong những năm tháng ấy. Chiến tranh ở Trung Quốc, Nhật Bản cũng khiến nhiều sư tăng chọn cách tha phương, dừng chân ở Thuận Hóa. Họ cho xây những am tu nhỏ, dần phát triển thành chùa lớn. Thiền tông của Lục tổ Huệ Năng là tông phái Phật giáo phổ biến nhất ở Đông Á thời đại ấy, qua nhiều thế kỷ đã dung hợp với Tam giáo, rất nhanh trở nên phổ biến ở Đàng Trong, được các chúa Nguyễn hết lòng bảo trợ. Chúa Sãi được cho là chuộng Phật, và trước Thiên Mụ đã có những ngôi chùa lớn được xây ở Phú Xuân như chùa Quốc Ân của nhà sư Tạ Nguyên Thiều, chùa Pháp Vân của nhà sư Huyền Khê. Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu phát triển mạnh đạo giáo này với đàn chay lớn quy tụ ngàn người ở chùa Thiên Mụ, và hàng loạt chùa khắp Đàng Trong được chúa ban biển tặng phong. Phú Xuân trở thành trung tâm Phật giáo của Đàng Trong, giữ vai trò tôn giáo lớn hàng thế kỷ.

Khi trùng tu mở rộng chùa Thiên Mụ, chúa Minh có thể đã nghĩ đến việc dựng một ngôi quốc tự “hoàn toàn của Đàng Trong”, không do các nhà sư người Minh xây nên, một ngôi chùa có vai trò, truyền thống lịch sử lâu đời để xác lập vị thế cho mình. Đó sẽ là nơi chúa thực hiện các buổi lễ của triều đình và đất nước, đón rước người giảng đạo từ phương xa, tạo lập nên văn hóa và phong tục. Ngôi chùa trên ngọn đồi Hà Khê nhìn ra ngã ba sông mênh mông trời nước, nơi tích tụ linh khí ngàn năm của vương quốc cũ và sức mạnh chưa được khơi nguồn, một lần nữa trở thành cột mốc đánh dấu sự khởi đầu mới cho Đàng Trong.

Ngày ấy, cuộc biến loạn với Chiêm Thành vừa được dẹp yên. Nhị vương Ang Nan của Thủy Chân Lạp đã qua đời. Ang Sor vừa thoái vị ở Lục Chân Lạp. Chính biến mới lại lục tục trở dậy ở Nam Chưởng. Trong rối loạn, những cánh cửa cơ hội mới cũng đang mở rộng cho một tương lai đầy hứa hẹn ở phương Nam. Vị chúa trẻ lên ngôi năm mười bảy tuổi đã trải qua hàng loạt cuộc biến động, mưu phản, tranh chiếm trong thời đại cai trị của mình. Và bản thân ngài cũng có những ước mộng to lớn khi cho sứ sang Thanh cầu phong, mở rộng đất đai và ảnh hưởng bằng những liên kết chính trị khắp nơi. Nhà sư Thạch Liêm được chúa cho người sang Quảng Đông mời về vốn xuất thân là một chí sĩ bất mãn với Thanh triều, có ảnh hưởng rất lớn với người Minh khắp trong vùng, một biểu tượng liên kết cả về tôn giáo và chính trị. Chúa Minh đã dùng tôn giáo để kết nối lòng người, kêu gọi sự ủng hộ trong một xứ sở đầy phân tán. Dưới thời chúa Minh, chùa Thiên Mụ liên tục được tôn tạo với hàng chục công trình quy mô. Chuông lớn Đại Hồng Chung ngân nga vang dội đầu sông biếc, tháp cao án ngữ một khoảng trời.

Chùa Thiên Mụ có lẽ đã trở thành nơi thiết thân với chúa Minh. Sau này, qua nhiều cơn binh biến và hủy hoại, các công trình nguy nga sụp đổ, vàng ngọc tiêu tan, đã không ai còn biết bài minh mà chúa khắc trên bia đá năm ấy, nhưng người vẫn truyền tay nhau bốn bài thơ khóc bà Kính phi Nguyễn thị mà chúa đề trên tường chùa. Năm ấy, mùa thu, chúa làm đàn chay giỗ đầu cho người phi đã ở bên mình gần hai mươi năm. Văn nhân tài tử xưa có tục đề thơ tâm tình lên tường ghi di tích, một vị chúa đường hoàng viết lên tường ngôi quốc tự những câu thơ khóc thương nức nở.

“Vấn thiên hà sự chiết ngô phi!
Thời đương thất tịch ngân hà ám,
Sầu ký thiên niên giới lộ hi.
Mạn đạo tiếu nhân nhi phụ thái,
Cổ kim thùy cánh thử tình vi.”

(Hỏi trời sao lại giết vợ ta! Thất tịch nay ngân hà đen tối, Sầu đến ngàn thu ngâu chóng tan. Đừng cười người thói thường tình nhi nữ, Cổ kim ai tránh được tình này.)

Những bức tường của Thiên Mụ rồi trở thành bụi cát, nhưng bốn bài thơ vẫn lưu truyền mãi ngàn đời. Tình yêu và nỗi đau của một vị chúa được viết trên nơi tôn nghiêm nhất, chốn tưởng chừng thanh sạch không một hạt bụi trần ai. Nhưng chốn tưởng vô tình ấy vốn lại hữu tình bậc nhất. Dùng Phật pháp để siêu độ chúng sinh, lấy yêu thương để bao dung nhân thế. Ở nơi quốc tự do chính bản thân mình phục dựng, xây nên từng hòn đá ngọn cây, vị chúa mới có thể khóc thương cho sinh tử luân hồi của đời người. Mối thương tâm này kim cổ đều nhỏ lệ, mọi kẻ đều bình đẳng. Phật pháp sẽ dang tay ôm người vào lòng, không dùng lý lẽ thế tục để phán xét. Nhân gian rồi cũng chẳng dùng ánh mắt lạ lẫm đánh giá người, tình yêu và nỗi đau cũng là điều bình đẳng nhất của chúng sinh.

Mùa ngâu trời khóc lệ sầu, điệp âm ly thương ấy vang mãi nơi ngã ba sông bàng bạc sương giăng. Ngôi quốc tự tôn kính, chốn thanh tịnh nhất như Thiên Mụ không hiểu sao lại thường gắn liền với những câu chuyện tình yêu. Người kể, xưa có đôi trai gái đến nơi này tự tử vì bị gia đình ngăn cấm. Chàng trai chết, nhưng cô gái được cứu sống, rồi đi lấy chồng. Linh hồn chàng trai vẫn quẩn quanh mãi dưới những bậc thang đá dẫn lên chùa. Rồi người kể về những đàn chay lớn hàng ngàn bài vị tế chiến sĩ trận vong suốt chiều dài lịch sử. Người kể về bãi bể nương dâu như áng mây biến dạng thay hình cuối chân trời.

Có lẽ vì đây là một vùng đất hữu tình. Nơi một cô gái hái dâu chỉ vì câu hát “Tai nghe chúa ngự thuyền rồng, Thiếp thương phận thiếp má hồng nắng mưa” mà trở thành Chính phu nhân của chúa Thượng. Nơi Tống Thị có thể khuynh đảo triều đại bằng vẻ mỹ lệ ngát hương. Nơi đã chắp cánh cho Nguyễn Hữu Hào “Định tình nhân” như lời tuyên thệ của đời người. Để rồi, như những câu chuyện thảm liệt thường thấy, vùng đất này rơi vào hủy hoại ngay trong thời khắc huy hoàng nhất của nó – vì tình yêu.

Thật ra khó có thể nói rằng chuyện tình loạn luân của Võ vương và người cô họ làm lay chuyển triều Nguyễn. Ngay cả Võ vương cũng coi nhẹ điều này, khi việc kết hôn nội tộc vẫn được duy trì trong triều đình các nước xung quanh như Chân Lạp, Xiêm La cho đến tận thời kỳ cận đại. Họ đang sống trong một vùng đất quá đa dạng văn hóa lịch sử, những phong tục và luân lý trái ngược mà lại tồn tại song song với nhau như đều là lẽ hiển nhiên. Nhưng đó là điểm yếu của chúa Nguyễn Phúc Khoát bị kẻ bên ngoài nắm được. Người con được sinh ra từ mối tình ấy, Định vương Nguyễn Phúc Thuần, cũng là điểm yếu chết người để bị lợi dụng. Đứa trẻ mang dòng máu thuần họ Nguyễn bị Trương Phúc Loan dùng làm công cụ chiếm đoạt ngai vàng, đồng thời lấy chính thân phận ấy hủy hoại danh tiếng chúa, gây bất mãn và rối loạn lòng người, đoạt lấy quyền lực về tay. Võ vương dù đã rơi vào khinh suất khi ở trên đỉnh cao quyền lực, cũng chưa bao giờ muốn lập Nguyễn Phúc Thuần, nhưng vì yêu thương Nguyễn Phúc Ngọc Cầu, tất cả anh em của bà đều được chúa phong chức quyền khuynh triều chính. Và một lần nữa, tình yêu trở thành tội đồ của lịch sử.

Trương Phúc Loan cùng Nguyễn Cửu Thông câu kết với thái giám làm giả di chiếu, bắt giam người được chỉ định kế ngôi. Hai họ Trương Phúc và Nguyễn Cửu đều là công thần lâu đời theo chúa Nguyễn vào Nam, hiện tại khi ấy đều đang nắm những vị trí quan trọng ở Gia Định. Những viên tướng này lập nhiều công lao, nhưng cũng gây nên nhiều mâu thuẫn như việc Trương Phúc Vĩnh hại chết Trần Đại Định, con trai Trần Thượng Xuyên. Việc làm của Loan và Thông đến anh em trong họ cũng không đồng tình, nhưng Loan, Thông nhanh chóng lợi dụng quan hệ với chúa Nguyễn Phúc Thuần mà đưa con trai mình thành Phò mã, bản thân coi việc bộ Hộ và Tào vụ, nắm giữ huyết mạch kinh tế của Đàng Trong. Cùng với những người cậu của Định vương bảo hộ, Trương Phúc Loan thành Quốc phó khống chế triều đình, đến cả những lão tướng như Nguyễn Cư Trinh cũng bất lực.

Tuy nhiên, nếu cho rằng nền kinh tế Đàng Trong bị hủy hoại phần lớn từ bàn tay của Trương Phúc Loan vẫn là không thỏa đáng. Thư ẩn sĩ Ngô Thế Lân gửi Định vương cho biết, ba năm sau khi chúa lên ngôi, đói kém xảy ra luôn vì gạo quá đắt. Và đây là những năm mà trận chiến manh nha khởi phát ở biên giới Chân Lạp – Xiêm La, Hà Tiên chìm trong rối loạn. “Gia Định thóc đắt thì thóc các nơi đều đắt”, lạm phát tiền kẽm khiến giá gạo tăng, dân chúng cùng thương buôn đổ xô đi tích trữ gạo làm tình hình càng tồi tệ hơn. Trương Phúc Loan chỉ góp phần vào đó bằng sự lũng đoạn trong ngoài, vơ vét lợi ích về cho bản thân. Để rồi, toàn bộ oán giận đều trút lên đầu Trương Phúc Loan và chúa Nguyễn Phúc Thuần trước hết.

Nỗi oán giận này có thể không chỉ tích lũy trong sáu năm khủng hoảng tiền kẽm mà còn là thời gian rất dài trước đó. Thế chông chênh của Đàng Trong không thể duy trì sự cân bằng mãi mãi. Khởi đầu từ những đoàn người chạy trốn nạn đói và chiến tranh xuống vùng đất tân cương mới mở, chúa Hiền đưa thêm đến Quy Nhơn hơn ba vạn tù binh chiến tranh bắt được ở Nghệ An, và miền Nam đầy tranh chấp, phân tán vẫn còn nằm trong chiến cuộc chưa bao giờ tắt hẳn. Phía Đông là biển đưa những nhóm người đến từ nơi xứ lạ, phía Tây là núi với những tộc người tự trị di cư khắp vùng biên giới ba bốn đất nước. Một triều đình nằm sau dãy Hải Vân cách biệt chỉ có thể dùng sức mạnh của những đội quân để khống chế thế cục và tan vỡ khi không còn có thể giữ vững được chính nó. Tây Sơn khởi loạn ở Quy Nhơn, trong nhóm cầm đầu có hai tổ chức hải tặc người Thanh là Tập Đình, Lý Tài. Châu Văn Tiếp, một lái buôn ở Phú Yên, cũng đi theo hưởng ứng. Trịnh đánh xuống, thương buôn ở Hội An theo Nguyễn Phúc Dương tập hợp chống lại. Tống Phúc Hiệp đang chống Xiêm ở Gia Định nghe loạn đánh lên Phú Yên, đụng độ với nữ chúa Thị Hỏa ở Thạch Thành. Cuộc chiến khởi đầu bằng các thế lực nằm trong huyết mạch kinh tế Đàng Trong, các quyền lực luôn mâu thuẫn trong cốt lõi đất nước, với nạn đói thảm khốc chưa từng thấy quét qua khắp nơi vì không còn đường cung ứng gạo. Trịnh phá qua lũy Trấn Ninh dễ dàng trong tình thế hầu như chẳng ai còn muốn bảo hộ triều đình.

Khởi đầu từ một tình yêu không màng luân lý, kết thúc bằng rơi xuống đất đen của những cơm áo gạo tiền trần tục nhất. Khởi đầu từ một ước vọng cao xa có thể bay đến chín tầng mây, kết thúc bằng gió tanh mưa máu bi thương tàn khốc. Phú Xuân phồn hoa đô hội thành chốn địa ngục đầy tiếng khóc than, trong chợ bán thịt người. Những điện đài nguy nga, dinh phủ tráng lệ bị quân Trịnh dỡ phá ném vào lò lửa. Toàn bộ đỉnh vạc đồng, súng đồng tượng trưng cho quyền lực bị chúa Trịnh ra lệnh nấu chảy đem đúc thành tiền. Khu thành trên đất Dương Xuân bị vô số đợt đạn pháo tấn công cày nát. Và ngôi chùa cao quý trên đỉnh Hà Khê cũng bị san bằng đến không còn một dấu tích nào của ngày tháng cũ.

Ở phương Nam, Hội An cũng bị đốt cháy tan tành. Cù lao Phố, Mỹ Tho, Hà Tiên rồi cũng trở thành tàn tích của chiến tranh. Đàng Trong như một đóa hoa bỗng nhiên bị bẻ gãy vụn trong lúc mãn khai, tiếng sênh ca vẫn còn chưa kịp tắt. Năm Ất Mùi ấy, có người nhân sĩ đi qua để lại mấy câu cảm thán ngậm ngùi:

"Bảo các quỳnh lâu bán dĩ hoang,
Phạm cung y cựu đối tà dương.
Khả liên nhị bách niên cơ nghiệp,
Bất cập sơn tăng nhất mộng trường."

(Lầu quỳnh gác ngọc nửa đà hoang, Chùa vẫn như xưa đối ác vàng. Cơ nghiệp hai trăm năm đáng tiếc, Chẳng bằng giấc mộng của nhà sư trong núi.)

Nhưng người ấy cũng không ngờ đó mới chỉ là khởi đầu của chiến tranh. Rồi đến cả nhà sư trong núi cũng không thể nằm mộng với bão tố càn quét toàn đất nước. Cuộc chiến cuốn xoáy tất cả các mâu thuẫn, tranh đấu thế lực suốt bao nhiêu năm vào trong hố đen vô tận. Không chỉ là chuyện Đàng Trong – Đàng Ngoài, hay Tây Sơn – Lê – Trịnh – Nguyễn, mà còn cả Trung Quốc, Xiêm La, Chân Lạp, Tây Dương, Chiêm Thành hay thậm chí đến cả những sắc dân nơi núi cao, đảo xa. Tất cả cùng lao vào biến loạn, tìm kiếm vận may lẫn cơ hội cho điều mà mình đã theo đuổi bao nhiêu năm, kết quả đã được tạo thành từ thăm thẳm muôn vàn.

Nhân nhân quả quả, sinh sinh diệt diệt, mọi sự kiện trên thế gian đều diễn tiến là như thế. Muôn hồng nghìn tía, muôn núi ngàn sông rốt cuộc cũng chỉ là bóng ảnh từ lòng người mê ám. Lâu đài ảo ảnh giữa biển khơi chỉ là ánh sáng an ủi những kẻ lưu lạc bèo trôi nước nổi. Tất cả bị tàn phá sạch không, hết đợt này đến đợt khác, tất cả con người trong thời đại ấy đều như thế. Tất cả đều chỉ như cát bụi trước trường hư không của lịch sử, bị ngọn lửa phát ra từ chính lòng mình thiêu đốt cháy tan. Nguyễn, Trịnh, Lê, Tây Sơn rồi cũng đều sẽ trải qua quá trình hủy hoại từ chính những phân tranh trong bản thân triều đại, để rồi bị cơn gió bên ngoài bẻ gãy triệt tiêu. Những gì tưởng là chuyện của đôi ba người, ngỡ chỉ là việc của một thời, hóa ra tất cả đều nằm trong một guồng quay cuồn cuộn bất khả vãn hồi của thời gian và lịch sử.

Nhưng một trăm năm trước đó, ngược dòng về điểm khởi đầu, có lần chúa Hiền đã dựa lời thần nhân mà đưa cho quần thần của mình một bài thơ:

“Tiên kết nhân tâm thuận,
Hậu thi đức hóa chiêu.
Chi diệp kham tồi lạc,
Căn bản dã nan dao.”
(Trước đoàn kết lòng người thuận theo, Sau thi hành đức hóa rõ ràng. Cành lá có thể gãy rụng, Cõi gốc khó lung lay.)

Ngày ấy, vị chúa lên ngôi với chiến cuộc ngày càng gay gắt ngoài lũy Trấn Ninh, những đấu đá trong tối ngoài sáng của triều đình và một Đàng Trong đang hỗn loạn. Để thuyết phục các quan tướng dẹp yên mâu thuẫn, chúa Hiền đã đưa ra bài thơ nọ. Lời của thần nhân hay không, dường như nó cũng chính là lời giải cho trăm năm lịch sử Đàng Trong. Bài thơ chỉ phương cách cai trị, nhưng sâu xa cũng là quan niệm nhân quả của nhà Phật, đạo vốn chỉ chung đường. Lòng nhân mà chúa Hiền gieo trăm năm trước ở Gia Định đã bảo vệ những giọt máu cuối cùng của họ Nguyễn. Hà Tiên che chở Nguyễn Phúc Ánh trốn thoát khỏi những cuộc truy lùng, hậu thuẫn cho ngày trở lại. Ngay cả Chân Lạp, Xiêm La, với máu Mạc Thiên Tứ đổ xuống, cũng đã lựa chọn họ Nguyễn. Họ Nguyễn đã tồn tại và phục hưng trên chính mảnh đất do phân tranh tạo thành.

Tham vọng, sân hận khơi nguồn ở Đông Đô ngày ấy tạo nên cơn bão xé nát đất nước thành muôn mảnh. Cuộc chiến sinh tồn khốc liệt của biết bao vương quốc, triều đại, con người nơi phương Nam nhìn ra đại dương, trong thời đại của phân ly và chọn lựa, đã tạo thành những kết quả liên tiếp nhau hiển hiện. Bao nhiêu thế hệ con người sống và chết, bao nhiêu triều đại dựng lên rồi sụp đổ, mỗi sự sống trở về cát bụi đều để ươm mầm cho những mai sau. Tốt và xấu, đúng và sai, tất cả đều sẽ nhận được kết quả tương ứng. Dòng thời gian vẫn trôi đi, tưởng chừng như dòng sông biền biệt mất dấu về phía đại dương, ngờ đâu sương gió theo bầu trời quay trở lại. Tất cả tạo thành vòng luân hồi vĩnh viễn của đất trời.

Tiếng chuông Đại Hồng đã lặng tắt trên đồi Hà Khê, nhưng âm vọng còn mãi trong dòng nước, bầu trời, câu hát và chuyện kể. Tinh thần của Thiền tông “Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật” (chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật) không cần một lời nói, nghi thức nào để biểu đạt. Sau mộng hoàng lương, con người đốn ngộ sực tỉnh khỏi những mê man, nhìn rõ lòng mình mà thấu suốt hồng trần. Những yêu thương sân hận, khói lửa cùng tranh đoạt vẫn cuồn cuộn trôi qua dưới chân đồi, làm sáng trong thêm sự chân thật của cõi Phật vô ngôn như chiếc gương soi nhân thế.

Phật nói, Vô minh sinh Hành, sinh ra bản thể con người, sinh ra ái dục, khát vọng, sự sống và cái chết, tạo thành một vòng nhân duyên. Đã từng có người nhắc nhở bên dòng Hương giang rằng tình khởi từ tâm, phóng đãng sẽ thành vong phản, kẻ khao khát quá nhiều chỉ là vì lầm lạc chính mình. Một bên là núi cao, một bên là biển rộng, sông soi ánh trăng trong, núi đón mặt trời rực rỡ, nắng và mưa đều đến mức cực cùng, đọng thành một vùng đất lặng yên trong mù sương. Như một trường cảnh ảo trong lòng người.

Trong cơn sa mù, Phú Xuân như vùng đất giữa tầng mây. Đầu dòng nước, tiếng chuông trời bát ngát vọng khắp núi non trùng điệp. Mộng của người hay tâm của người, trong ngoài hư thực, đâu là thật giả?



Leave a Reply

(required)

(required)

:) :blush: :D :( :(( ;)) :banh: ;) ::) =)) :)) b-) :meo1: :meo2: :meo3: :meo4: :meo5: :meo6: :meo7: :meo8: :meo9: :meo10: :meo11: more »

Bộ gõ tiếng Việt đã được bật. Bạn có thể gõ tiếng Việt không cần phần mềm trong máy.
RSS feed for comments on this post.


Copyright © Trường An. All rights reserved.