Solitude

Cảnh như thị, nhân như thị

7.
Trường An April 24th, 2022

Hải khoát, thiên không,
Vân cao, thuỷ dung.
Thời hoa nhược cựu.
Thế sự vô cùng.[1]

Đất cực Nam của Đàng Trong có một khu thành của hương thơm – Phương Thành. Trong dòng chảy của lịch sử, khu thành này chỉ tồn tại được vài chục năm cho đến khi hoàn toàn thành tro bụi, để lại một làn hương thanh ngát soi bóng trăng bàng bạc ngàn đời.

Người kể, Phương Thành bốn mặt trồng tre trúc, nằm giữa núi, biển và hồ. Đảo xa ngân nga chuông sớm, bóng thuyền in mặt nước chiều. Chỉ cách một rặng núi thấp là biển xanh ngút ngàn trải ra vô tận. Mặt trời cùng mặt trăng mọc lặn đôi bờ. Trong núi chứa hạt huyền, bãi cát ẩn ngọc, thăm thẳm hang sâu có đường dẫn đến thủy cung, nơi chàng Thạch Sanh cứu công chúa. Sóng rì rầm kể câu chuyện tha hương, núi trầm mặc rào rạt than thở thời suy thịnh. Thị thành chỉ hiện diện trong một khoảng thời gian ngắn ngủi rồi tan biến như lâu đài ảo ảnh trên biển khơi mang đầy sắc màu hoang liêu. Sớm mai mộng tỉnh, nắng rực sóng tràn, núi sông cùng yên lặng, đâu ai tưởng đến tang thương bãi bể nương dâu.

Người ta vẫn kể câu chuyện đẹp đẽ về nơi ấy, Hà Tiên nghĩa là tiên trên sông, một bóng hình xuất hiện trong khói sương mờ ảo nơi Đông Hồ Nam Phố mỗi lúc đêm về. Mọi câu chuyện truyền kỳ về nơi này đều đẹp đẽ, dù có là quần đảo Hải Tặc ngoài khơi xa hay Bình San nhấp nhô mộ địa. Mọi dấu vết cũ dường như đã biến mất trong cây lá, trong hương hoa thoang thoảng kéo vệt nắng mờ. Vùng biên giới yên ả đón ngày sang, sẽ không ai ngờ đây là trung tâm của những cuộc phân tranh dài hàng thế kỷ, với bao lần bị hủy hoại nát tan, với biết bao tranh giành toan tính để khống chế cục diện toàn phương Nam.

Hà Tiên hiện nay được coi là một tỉnh thành nằm ở vùng biên giới, nhưng địa danh Hà Tiên xưa kia chỉ một vùng đất rộng lớn bao bọc phía Đông vịnh Xiêm La, kéo dài đến biên giới với Thái Lan. Đây là năm vùng đất mà vua Chân Lạp cắt cho Mạc Thiên Tứ để trả ơn cùng với đất đai họ Mạc đã chiếm lĩnh sẵn. Nắm giữ vùng đất cực Nam thông suốt vịnh Xiêm La, họ Mạc đã xây dựng nên một tiểu quốc của mình, dấu tích còn lưu lại ở đàn tế trời trên đỉnh Bình San. Cùng với đó là nền kinh tế nhộn nhịp phong phú mà đến giữa thế kỷ mười chín vẫn còn ghi nhận được những cộng đồng người lai Bồ Đào Nha, người Mã Lai, Nam Đảo sinh sống trong địa phận Hà Tiên.

Mạc Cửu đã khởi đầu từ phủ Sài Mạt (Cheal Meas), vùng duyên hải nằm gần Kampot – phố thương lâu đời tấp nập nhất của Chân Lạp, đón những đoàn tàu thuyền từ bốn phương qua lại vịnh Xiêm La. Ông thu thuế hoa chi từ những sòng bạc, trở nên giàu có, và cho quy tập người suốt từ Rạch Giá, Cà Mau sang đến Kampot lập thành bảy xã thôn. Thời điểm Mạc Cửu manh nha lập nên Hà Tiên cũng là khoảng thời gian mà cả Đại Thành lẫn Chân Lạp đều đang biến động dữ dội. Chân Lạp đang mắc vào tranh chấp của Ang So và Ang Nan, trong khi cuộc chiến ở Đại Thành còn phức tạp hơn: Đất nước này bắt đầu phải đối phó với chiến thuyền Tây Dương đánh đến.

Nhà vua Narai của Đại Thành chủ tâm thu hút mọi nguồn lực ngoại quốc về cho đất nước, từ những chiến binh người Nhật giúp ông bành trướng tại bán đảo Mã Lai cho đến thương buôn Tây Dương. Triều đình Đại Thành thời kỳ này có sự gắn bó mật thiết với châu Âu đến mức cận thần thân tín của nhà vua Narai là một người Hy Lạp tên Phaulkon, công chúa con gái độc nhất của ông cải giáo theo đạo Thiên Chúa. Vua Narai cho mở lớp dạy tiếng Tây, phái đoàn sứ đầu tiên từ châu Á đến triều đình Pháp. Sự can thiệp quá sâu sắc của thế lực Tây Dương vào cả văn hóa và chính trị của đất nước Phật giáo lâu đời như Đại Thành thể nào cũng gây nên đổ vỡ. Phaulkon gây sự giết chết hơn sáu mươi người Anh, nước này liền đưa thuyền chiến đến bao vây cảng Marit, đòi bồi thường đến hàng chục ngàn đồng vàng. Pháp nghe tin cũng cho thuyền chiến tới, tiếng là bảo vệ nhà vua nhưng đặt ra điều kiện phải đoạt được cảng Bangkok và nhà vua phải cải đạo.

Trong lúc tình hình hỗn loạn, nhà vua Narai lâm trọng bệnh, ra chiếu cho con gái nối ngôi. Một viên tướng chỉ huy đội Tượng binh Hoàng gia tên là Phra Phetracha dấy quân chiếm ngai vàng, bắt giết Phaulkon. Vua Narai qua đời, Phra Phetracha lên nối ngôi, ra lệnh cho quân đội tấn công những chiến lũy của Pháp tại Marit và Bangkok. Hàng vạn quân Đại Thành đánh bật tàu Pháp ra biển, trục xuất toàn bộ người Pháp, khiến Pháp phải mất hơn một thế kỷ sau mới có thể quay lại Đông Dương. Cuộc thay đổi triều đại này còn gây hậu quả kéo dài với những cuộc nội loạn trong khắp đất nước, tiếp tục khi con cả của Phra Phetracha giết em trai cướp ngôi. Những thành thị đông thương nhân phía Bắc của Đại Thành nổi loạn, kéo theo cả những quan chức trông coi ngoại thương trong triều đình bị bắt giết. Đây có lẽ là khoảng thời gian Mạc Cửu đưa người bỏ trốn khỏi Vạn Tuế Sơn trở về Lũng Kỳ.

Vạn Tuế Sơn ngày nay là thành phố Ratchaburi thuộc miền Tây Nam Thái Lan, cách Bangkok khoảng 100km, ở gần biên giới Miến Điện với dãy núi Tanawsri làm vạch ngăn cách tự nhiên, có dòng Mae Klong chảy qua. Nơi này cạnh thành phố cảng Samut Sakhon - trước đây thành phố lẫn con sông bên cạnh được gọi là Tha Chin vì là hải cảng tập trung thuyền bè Trung Quốc cập bến, năm 1704, nó được đổi tên thành Mahachai. Mạc Cửu được một quan chức trong triều đình Đại Thành đặc cách đưa đến Vạn Tuế Sơn, địa đầu kinh tế với Miến Điện, cho thấy ông được đánh giá cao và có địa vị khá quan trọng trong nền ngoại thương địa phương này. Khi rời khỏi Đại Thành trong tình thế đất nước này rơi vào bất ổn, Mạc Cửu đã mang theo không chỉ các thuộc hạ trung thành của mình mà cả những mối quan hệ nơi một trong những bến cảng lớn nhất vịnh Xiêm La.

Thiên thời địa lợi nhân hòa, họ Mạc đã thừa hưởng được địa điểm giao thương nhộn nhịp nhất của Chân Lạp để nối tiếp nền thương mãi đang bị nứt vỡ ở vịnh Xiêm La sau cuộc chiến của Đại Thành và biến động tại Đông Phố, nhanh chóng trở nên lớn mạnh.

Trong khi đó, biến loạn ở Chân Lạp vẫn tiếp tục, kéo cả vùng đất của họ Mạc ở Lũng Kỳ vào cuộc. Thất bại trong việc giành lại Thủy Chân Lạp, vua Ang Sor nhường ngôi cho con trai là Ang Tham (Nặc Thâm), Ang Tham liền dựa thế Đại Thành đánh đuổi Ang Em (Nặc Yêm), con trai Nhị vương Ang Nan. Ang Em chạy sang cầu cứu Đàng Trong, và quân Nguyễn một lần nữa dấy binh đánh đến Lovek, đẩy Ang Tham chạy sang Đại Thành. Quân Nguyễn lui đi, Ang Tham lại quay về tấn công. Một trận chiến nữa xảy ra, lần này đẩy hẳn Ang Sor và Ang Tham lưu vong ở Đại Thành. Đại Thành tìm cách phản công bằng cách đánh ngược lên từ phía Nam – đất Hà Tiên của Mạc Cửu.

Sử sách Việt không chép cụ thể về cuộc tấn công này của Đại Thành sang Hà Tiên, nhưng ghi nhận từ ngoại quốc cho biết có đến năm vạn quân bộ, hai vạn quân thủy tiến đánh Lũng Kỳ. Không thể chống lại đại quân này, Mạc Cửu cho người lui về phía sông Giang Thành, đốt toàn bộ Lũng Kỳ để tạo thế vườn không nhà trống. Quân từ Gia Định đến hỗ trợ Hà Tiên, đẩy lực lượng Đại Thành vào tình thế đói kém, bị phục kích, dẫn dụ mắc kẹt ở các đoạn sông cạn, cuối cùng phải bỏ chạy về.[i] Từ đó, mối liên hệ của Hà Tiên và Gia Định – Đàng Trong được thiết lập, Mạc Cửu cùng thuộc hạ đến Phú Xuân dâng biểu xưng thần. Và lỵ sở của Hà Tiên cũng được dời về Phương Thành – thành phố Hà Tiên hiện tại. Hà Tiên được quyền đúc tiền, xây dựng thành quách, tuyển quân lính, mở rộng phố chợ để chiêu tập thêm dân cư, nghiễm nhiên trở thành khu trấn thịnh vượng.

Hai mươi năm sau, Mạc Cửu qua đời. Ngay lập tức, Ang Tham từ Đại Thành mang quân trở về chiếm lại ngôi vương Chân Lạp. Lúc này ở Phú Xuân, chúa Ninh Nguyễn Phúc Trú cũng hoăng thệ, Võ vương Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi bận rộn việc xây dựng đô thành và cơ chế triều đình. Vừa nghe tin chúa Ninh qua đời, Ang Tham đánh xuống Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ đốc suất quân sĩ ứng chiến, vợ lẽ Mạc Thiên Tứ là Nguyễn thị lập đội vợ quân tướng chuyển lương cho quân. Chân Lạp bị đánh bại, Mạc Thiên Tứ được chúa Nguyễn phong chức Đô đốc, Nguyễn thị được phong Phu nhân.

Lại hai mươi năm sau nữa, vua mới của Chân Lạp là Ang Snguon (Nặc Nguyên) tấn công Côn Man (cộng đồng người Chiêm ở phía Bắc Chân Lạp), âm mưu liên kết với chúa Trịnh. Đoàn quân của Võ vương phát binh, Ang Snguon phải chạy đến Hà Tiên nhờ cậy Mạc Thiên Tứ. Dưới sự điều đình của Mạc Thiên Tứ, Ang Snguon dâng hai phủ Tầm Bôn, Soài Rạp cầu hòa. Ang Snguon mất, một hoàng thân là Ang Tong nhờ lời Mạc Thiên Tứ xin dâng đất cho chúa Nguyễn để được lập làm vua, cắt năm phủ cho Mạc Thiên Tứ tạ ơn. Địa đồ hoàn chỉnh của Hà Tiên từ đó đã thành hình.

Hà Tiên dưới thời Mạc Thiên Tứ không chỉ là vùng đất phong phú, giàu có về văn hóa, văn vật, mà dường như đã trở thành địa điểm trú thân, cầu cứu của nạn nhân từ những cuộc xung đột quyền lực. Mạc Thiên Tứ đã cứu giúp cả con trai của Phong vương Đại Thành – kẻ mới năm trước dự định đưa quân tấn công Hà Tiên – khi quân Miến Điện càn quét san phẳng Ayutthaya. Tiếng thơm của Hà Tiên lan rộng, Tao đàn Chiêu Anh các do Mạc Thiên Tứ thành lập tập hợp thi nhân khắp vùng biển về xướng họa. Phương Thành tre trúc quanh quanh, trăng soi Đông Hồ thơm ngát. Tao đàn dập dìu tiếng nhạc, Bình San mênh mông hương mai. Hà Tiên nở bừng rực rỡ trong những năm tháng ấy, trong vùng đất bao quanh bởi chiến loạn và những oán thù tranh chấp chực chờ. Nguyễn Cư Trinh sau những cuộc bình định cũng ghé lại Hà Tiên cùng ngâm vịnh với Mạc Thiên Tứ. Thơ họ Mạc vằng vặc vầng trăng trong trên đỉnh Tô Châu, lấp lóa quang hoa sóng nước Đông Hồ. Tiếng trống điểm canh vọng khắp biên thùy “Ba đào thế tiệt đông Nam Hải” (sóng gió đã dứt tuyệt ở phía đông biển Nam Hải). Con người vừa thảnh thơi buông câu nơi bến Lư Khê nhàn tĩnh, vừa sẵn sàng khoác chiến bào canh gác Giang Thành.

“Nhất phiến lâu thuyền hàn thủy nguyệt,
Tam canh cổ giốc định ba đào.
Khách nhưng cánh dạ tỏa kim giáp,
Nhân chính can thành ủng cẩm bào.
Vũ lược thâm thừa anh chủ quyến,
Nhật Nam cảnh vũ lại an lao.”

(Giang Thành dạ cổ)

(Một bóng thuyền lầu lạnh vầng trăng nước, Ba canh tiếng trống định yên sóng gió. Khách vẫn suốt đêm mặc áo giáp vàng, Làm kẻ canh thành cho người mặc áo gấm. Đem võ lược đáp lại lòng yêu của vị chúa anh minh, Để cương vực Nhật Nam lại yên ổn.)

Ngẫm cũng thật là lạ với mối tình tri kỷ của họ Mạc và họ Nguyễn, Mạc Thiên Tứ và triều đình ở Phú Xuân. Vốn tưởng chỉ là bèo nước tương phùng, cần dựa vào nhau để sinh tồn, nhưng Mạc Thiên Tứ đã thực sự coi chúa Nguyễn là vị chân chủ mình cần trung thành và hết mực coi trọng. Dù sau này bờ cõi của Hà Tiên đã mở rộng, ngay cả Đại Thành cũng đã bị Miến Điện hủy diệt và trải qua bao thăng trầm, tấm lòng như nhất của Mạc Thiên Tứ vẫn chưa bao giờ thay đổi. Hà Tiên và Phú Xuân, hai nhóm người hoàn toàn xa lạ dường như đã được kết nối với nhau bằng sự thông hiểu âm thầm của những kẻ tha hương giữa đất trời mênh mông, bằng cả nỗi bi hoài lẫn kiêu hãnh của người tự chọn đẩy mình vào nơi sơn tận thủy tuyệt. Cả hai tiếng ca cùng cất lên, mang mác buồn thương vạn cổ.

“Giác thiên địa hề vô di,
Cực phong sương hề tự mãnh.
Bạc phù sinh ư âu vân,
Thị vạn vật như hào dĩnh,
Sưởng hoàng hoa hề dã vong,
Bi phiêu linh hề độc cảnh.”

(Lư Khê nhàn điểu phú – Mạc Thiên Tứ)

(Biết đất trời chẳng khác, Gánh sương gió tự cường. Phận phù sinh như bóng mây, Coi vạn vật như lông tơ hạt thóc. Xót xa hoàng hoa trôi dạt, Buồn cảnh cô độc phiêu linh.)

“Hải khí sơn phong táp táp kinh,
Tiệm khan yên thấp tán thiên thanh.
Ngư đăng kỷ điểm tri giang ngạn
Lữ khách lạc tiêu thính vũ thanh.
Thiền tụng bất văn u khánh vận
Hương tư nan xích cố nhân tình.”

(Hà Trung Yên Vũ – Nguyễn Phúc Chu)

(Khí biển gió núi thổi mà kinh, Khói tỏa sương tan lộ trời xanh. Bên sông có mấy điểm đèn đánh cá, Lữ khách đêm thâu lắng nghe tiếng mưa rơi. Tiếng tụng kinh chẳng vọng âm vui, Nhớ quê khó dứt tình người cũ.)

Dẫu họ đều sinh ra trên mảnh đất mới, hầu như chẳng còn ký ức nào với những ngày xưa, nhưng cảm xúc về thân phận phiêu linh vẫn chẳng thể dứt bỏ. Cả hai đều đang cố gắng để tồn tại, để sống giữa thiên hạ mênh mông, biển khơi vô tận, nơi đất trời cũng chẳng có gì khác biệt trong hỗn mang. Tiếng lòng đồng vọng ấy tìm được điểm giao thoa, cảm thông, trân trọng, tán thưởng lẫn nhau, từ Nguyễn Phúc Chu với Mạc Cửu cho đến Nguyễn Cư Trinh và Mạc Thiên Tứ sau này, trải suốt biên cương bát ngát đìu hiu từ bờ Hà Trung tới bến Giang Thành. Tất cả đã tạo ra một mối giao tình đặc biệt độc nhất vô nhị trong lịch sử, tạo ra hoàn toàn diện mạo của đất phương Nam.

Với sự trợ giúp của Mạc Thiên Tứ, ngoài những vùng đất cống nộp, Đàng Trong đã giành được quyền khống chế hoàn toàn triều đình Chân Lạp. Nhà vua Chân Lạp mới lập là cháu ngoại của Ang Nan thuở trước, đã bày tỏ lòng trung thành lớn lao với triều đình người Việt. Thế nhưng cũng giống như tình hình Đàng Trong trước kia, sự phát triển quá nhanh của Hà Tiên kéo theo sau là những âm mưu tranh giành khởi phát. Đại Thành bị Miến Điện tiêu diệt, ném ra biển những toán người lưu lạc. Trong mấy năm liền, Mạc Thiên Tứ phải liên tục đối phó với những nhóm người Trung Quốc tập hợp trong hoang đảo hay núi cao để mưu đánh vào chiếm Hà Tiên. Và mục tiêu tấn công đầu tiên của triều đình Xiêm La dưới triều đại Trịnh Quốc Anh trong chiến dịch chinh phục Chân Lạp cũng lại là Hà Tiên. Mọi cuộc tấn công từ phía Tây vào Gia Định đều bắt đầu từ Hà Tiên.

Lần này, cuộc chiến dữ dội đã hủy hoại hoàn toàn Hà Tiên, đốt cháy Phương Thành thành bình địa. Mạc Thiên Tứ phải chạy về Trấn Giang (Cần Thơ) cầu cứu chúa Nguyễn. Quân Xiêm – Lạp đánh cả vào Gia Định, tiến quân gần sát Sài Gòn. Quân Đàng Trong đến, dồn sức phá được quân Xiêm, đẩy lui Xiêm khỏi địa phận Nam Vang, Hà Tiên. Nhưng hậu quả của trận chiến này còn lớn hơn thế. Cùng với cuộc khủng hoảng tiền kẽm đồng loạt xảy ra, Gia Định chìm vào chiến tranh ba năm liền đã khiến cả triều đình Đàng Trong sụp đổ.

Tây Sơn khởi loạn, quân Trịnh vượt qua lũy Trấn Ninh chiếm Phú Xuân, Định vương phải lên thuyền bỏ chạy vào Gia Định. Hà Tiên đã bị phá hủy nặng nề, Mạc Thiên Tứ phải dời về đóng ở Trấn Giang. Lúc này ông đã hơn bảy mươi tuổi, vẫn một lòng phò tá bảo hộ chúa Nguyễn. Tây Sơn đến tấn công, Mạc Thiên Tứ cho chúa Nguyễn rời đi trước, bản thân ở lại giữ Kiên Giang. Quân Nguyễn bị đánh tan, Định vương bị giết, Mạc Thiên Tứ sang Xiêm cùng Nguyễn Phúc Xuân. Năm sau, vua Xiêm nghe lời gièm pha nghi ngờ họ Mạc muốn chiếm Bangkok bèn bắt giết cả nhà. Mạc Thiên Tứ phải tự sát trong ngục.

Những năm tháng Gia Định trở thành chiến trường, Hà Tiên cũng biến thành con đường luân chuyển những đội quân. Mọi cuộc tấn công đều bắt nguồn từ Hà Tiên. Bằng cách nắm giữ những người con cháu còn bé của Mạc Thiên Tứ, triều đình Xiêm La tìm cách khống chế Hà Tiên. Nhưng họ Mạc vẫn đứng bên họ Nguyễn, từng người một trở về Hà Tiên để tiếp sức cho Gia Định, bảo hộ biên giới phía Tây. Không chỉ người mang họ Mạc mà còn là cả thuộc hạ, thân nhân của họ. Dù từ ấy, Hà Tiên đã vĩnh viễn mất đi ánh hào quang của vùng đất. Phương Thành biến mất trong lửa đỏ ngợp trời. Mai nở trên Bình San chỉ còn quẩn quanh bên bia đá mộ địa lạnh tanh. Từng người con của họ Mạc trở về và chết đi trong chiến tranh, bị thuyên chuyển hoặc rời khỏi để bảo toàn bản thân. Và rồi vùng đất này lại rơi vào cuộc chiến dài, rất dài, ngọn lửa hung tàn của bao cuộc binh biến liên tục cháy lên trên tro tàn hết lần này đến lần khác. Những đẹp đẽ huy hoàng được dựng nên chỉ để tiêu tan.

Nhưng linh hồn của nó dường như vẫn còn đó. Những người con họ Mạc vẫn chiến đấu và hy sinh vì nó. Có một sự hiểu lầm lớn trong ghi chép về hậu nhân họ Mạc sau này, kể cả với bản ký của các quan trong triều Nguyễn. Họ cho biết, chắt của Mạc Thiên Tứ là Mạc Hầu Hy, Mạc Hầu Diệu đi theo Lê Văn Khôi, khiến họ Mạc bị tru diệt cả nhà. Sau chiến tranh, đến đầu thời Thiệu Trị đã không còn dấu tích của họ Mạc, khiến vua phải cho đi tìm một hậu nhân xa để làm người cúng tế.

Phải đến mấy chục năm sau, Đại Nam thực lục được biên, sự thật mới sáng tỏ: Năm ấy, con trai cựu Trấn thủ Hà Tiên Mạc Công Du tên là Mạc Hầu Hy phạm lỗi bị giam giữ ở thành Phiên An, lọt vào tay Lê Văn Khôi khởi loạn. Mạc Hầu Hy buộc phải nhận chức quan của quân Lê Văn Khôi, và viên quan đang coi quản Hà Tiên bắt giữ cả nhà họ Mạc vào dinh phủ giam lỏng. Quân Lê Văn Khôi chiếm Hà Tiên cùng cả nhà họ Mạc đang ở trong ngục. Không còn cách nào khác, em trai Mạc Công Du là Mạc Công Tài cùng con trai là Mạc Hầu Diệu nhận chức Thống lãnh Hà Tiên để an định tình hình.

Chỉ tháng sau đó, khi toàn Nam Kỳ nổi dậy chống lại Lê Văn Khôi, Mạc Công Tài và Mạc Hầu Diệu cũng cầm quân bắt giết quan tướng của Khôi đóng ở Hà Tiên, bắt lại thuyền đi sứ sang Xiêm cầu cứu. Biến loạn khiến trộm cướp nổi lên khắp nơi, họ Mạc đưa quân đi đánh dẹp. Mạc Hầu Hy cũng theo quân triều đình bao vây thành Phiên An. Nhưng bởi quan triều nghi ngờ, họ Mạc được lệnh chuyển về Huế tra xét. Mạc Công Du qua đời vì bệnh, Mạc Hầu Hy bị tống giam, Mạc Công Du và Mạc Hầu Diệu được cho tại ngoại. Khi chiến tranh với Xiêm nổ ra, Mạc Hầu Diệu chủ động xin đi làm thám tử dò xét tình hình nơi biên giới. Mấy năm sau, Mạc Hầu Hy cũng được lệnh thả sang Xiêm để do thám, nhưng nửa đường quay về, thay thế bằng Mạc Công Tài. Mạc Hầu Hy qua đời ở Huế, nhưng những người họ Mạc còn lại hoàn toàn tự do.

Không một tung tích hay ghi chép nào về nhà họ Mạc sau này có lẽ vì thân phận và nhiệm vụ đặc biệt của cha con Mạc Công Tài. Người đương thời không biết điều gì về họ, và bí mật chỉ được lưu trữ trong sâu thẳm thư khố Cơ mật viện triều đình. Những đóng góp, hy sinh âm thầm của thế hệ cuối cùng họ Mạc chỉ được ghi lại khi tất cả không còn nữa. Họ cũng là nạn nhân của chiến tranh, nhưng họ tiếp tục lựa chọn cống hiến và đứng lên bảo vệ vùng đất của mình, chưa bao giờ lùi bước. Bóng họ đã lùi xa, đã biến mất vào biển khơi vô tận không hẹn ngày về, nhưng những cây nam mai trăm tuổi trên Bình San vẫn lặng lẽ nở hoa. Hương thơm vẫn mãi vấn vít Phương Thành, như hương từ hồn cũ dấu xưa thoảng lại.

Người xưa đã xa, thành cũ đã mất, tất cả dấu vết đã lấp vùi dưới tro bụi thời gian, nhưng lạ thay vẫn còn làn hương theo nắng tỏa sương giăng quẩn quanh mảnh đất này. Hà Tiên vẫn là Hà Tiên của vùng biên cương giao thoa vô vàn thanh âm đan xen chẳng phân biệt cội nguồn, nơi nhìn ra đại dương mà “Nhật nguyệt cùng chói lọi cả đất trời”[2], tựa một tấm lòng son sáng soi vào tháng năm vô tận.

Chuyện kể rằng, có một chàng trai mồ côi lưu lạc ngồi dưới gốc đa. Vì một lời kết nghĩa kim lan, chàng dốc lòng hết sức, không ngại hy sinh chính bản thân mình mà chưa bao giờ oán hận. Trước đây chàng có búa, có tên để giết Đại bàng, Chằn tinh, nhưng sau này chàng chỉ giữ một cây đàn biết thấu tỏ lòng người và chiếc niêu cơm ăn mãi vẫn đầy. Chàng dùng chúng để dẹp yên đội quân mười tám nước, giữ lấy hòa bình.

Chuyện kể rằng, có bóng người tiên thấp thoáng trên sông, lặng yên chưa bao giờ cất tiếng. Người trở thành một giấc mộng giữa vạn trượng hồng trần. Chim hồng mây xám âm vang đồng vọng khúc thương ngàn. Ngư long tỉnh mộng sóng đào, sông in bóng nguyệt trôi dằng dặc.

Chuyện kể rằng, có người mẹ vượt muôn trùng biển khơi để đến bên con sau ba mươi năm lưu lạc. Có những cuộc đoàn tụ nơi đất lạ viễn phương. Có những bàn tay giúp đỡ trong cơn khốn khó ba đào. Có những cam kết và chung thủy bền bỉ qua bao thế hệ. Có những sự sống trong cái chết. Có những kiếm tìm và hy vọng nơi tưởng chừng đã là tận cùng thế giới.

Lớp lớp tro than của Phương Thành đã lắng yên trong đất, trong sông, trong bụi mờ khói biếc. Hà Tiên trước mặt là biển, sau lưng là núi, vằng vặc vầng nhật nguyệt đôi bên.

 

 

Chú thích:

[1] Lư Khê nhàn điếu phú: Biển rộng trời quang, Mây cao nước trong. Tuế nguyệt như cũ, Việc đời vô cùng.

[2] Nhật nguyệt quang hồi thượng hạ thiên – Kim Dự lan đào của Mạc Thiên Tứ.

[i] "Account of Pegu and the Voyage to Cambodia and Siam in 1718" của Alexander Hamilton



Leave a Reply

(required)

(required)

:) :blush: :D :( :(( ;)) :banh: ;) ::) =)) :)) b-) :meo1: :meo2: :meo3: :meo4: :meo5: :meo6: :meo7: :meo8: :meo9: :meo10: :meo11: more »

Bộ gõ tiếng Việt đã được bật. Bạn có thể gõ tiếng Việt không cần phần mềm trong máy.
RSS feed for comments on this post.


Copyright © Trường An. All rights reserved.