Solitude

Cảnh như thị, nhân như thị

6.
Trường An April 16th, 2022

“Cửa xe đài án việc rồi,
Màn trong giảng kể, sách ngoài dọn biên.
Hơi đâu nông nổi chê khen,
Chấp kinh mặc thích, tòng quyền dầu ai.
Chúng sinh nhúc nhúc dưới trời
Khỏi loài rằng lạ, hơn người rằng ngoan.
Định tình biết đủ mới an,
Trải từng sự vật mấy trang anh hùng.”

 

Đàng Trong dày đặc những cuộc chiến, và nói đến chiến tranh không thể thiếu các vị tướng. Trong tất cả những gương mặt tài hoa kiệt xuất phương Nam, có một nhân vật rất đặc biệt. Ông không ghi dấu ở chiến trường mà lại trong lịch sử thi ca Việt Nam.

Gần hai thế kỷ trước Truyện Kiều của Nguyễn Du, trước cả những Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, truyện thơ Nôm cổ nhất đã ra đời ở Đàng Trong. Song Tinh truyện, còn có tên Song Tinh bất dạ, với tác giả là Nguyễn Hữu Hào, một nho tướng trong triều chúa Nguyễn.

Song Tinh truyện mang những nét rất đặc trưng của truyện thơ phương Nam. Được viết lại từ tác phẩm Định tình nhân của Trung Quốc, truyện kể về một chàng thư sinh tên là Song Tinh phải lòng nàng tiểu thư khuê các Giang Nhụy Châu, được cha mẹ nàng đồng ý hứa hôn. Song Tinh đi thi đậu Trạng nguyên, lại bị Đỗ phò mã ép gả con gái, Song Tinh từ chối, liền bị đẩy đi đánh Phiên vương. Ở nhà, Nhụy Châu cũng bị người bức hôn, không thành công thì hắn lập mưu đưa nàng tiến cung. Nhụy Châu tự sát giữa đường, may được đầy tớ của Song Tinh cứu sống, đưa về nhà mẹ Song Tinh.

Song Tinh đi sứ, dùng lý lẽ thuyết phục Phiên vương xưng thần mà không tốn một hòn tên mũi đạn. Khi về đến nhà, Song Tinh mới hay tin Nhụy Châu đã qua đời, để lại di ngôn cho Song Tinh phải lấy người hầu của nàng là Thể Vân. Không còn cách nào khác, Song Tinh buộc phải cưới Thể Vân nhưng không động phòng, rồi tìm cách gửi Thể Vân về nhà mẹ. Nhụy Châu gặp lại Thể Vân, báo tin cho Song Tinh nối lại duyên xưa.

Đọc sơ qua có thể thấy đây là một nội dung rất phổ biến trong các tác phẩm xưa. Thậm chí Song Tinh truyện dài hơn hai ngàn câu lục bát nhưng không có những khúc quanh ly kỳ khúc chiết như những Lục Vân Tiên, Phạm Công Cúc Hoa sau này, phần nhiều chỉ kể về chuyện tình yêu của Song Tinh và Nhụy Châu với những khó khăn ngáng đường cuộc tình của họ. Song Tinh gặp gỡ Nhụy Châu, cùng nhau xướng họa, tương tư thành bệnh, thề nguyện giữ lòng, đau đớn chia ly, vui mừng đoàn tụ. Nhụy Châu của Song Tinh truyện còn yêu kiều rực rỡ hơn cô khuê nữ trong Định tình nhân xứ Trung, chuyện tình của họ cũng say đắm thẳng thắn hơn dưới sự mô tả của Nguyễn Hữu Hào. Quan điểm thời xưa cho rằng tuyệt tự là tội bất hiếu nặng nhất, nhưng nhân vật Song Tinh lại vì một chữ tình mà trên thì chống đối đại quan triều đình, dưới thì mưu định cả đời không tái giá một khi Nhụy Châu đã mất. So với đặc trưng văn hóa thuở xưa, đây là một câu chuyện và nhân vật rất lạ thường, và nhìn vào xuất thân của Nguyễn Hữu Hào thì tác phẩm này càng lạ thường.

Nguyễn Hữu Hào là con trai cả của Nguyễn Hữu Dật, anh của Nguyễn Hữu Cảnh, hai cái tên sáng chói trong lịch sử Đàng Trong, thuộc dòng họ có mối quan hệ gắn bó thân thiết lâu đời với chúa Nguyễn. Hai họ có chung tổ tiên là công thần Nguyễn Công Duẩn đầu đời Lê. Cha Nguyễn Hữu Dật là Nguyễn Triều Văn đã theo chúa Tiên Nguyễn Hoàng từ Đông Đô về Đàng Trong. Anh em Nguyễn Hữu Hào thuở còn trẻ theo cha giữ lũy Trấn Ninh, trải qua những trận đại chiến khốc liệt với Trịnh. Đời chúa Nghĩa, Nguyễn Hữu Hào được phong đến Cai cơ. Khi trận chiến tại Chân Lạp nổ ra, chúa phái ông làm Thống suất lãnh binh tiến đánh Ang Sor ở Oudong.

Trước đó, đợt tấn công đầu tiên của quân Nguyễn dưới quyền Lãnh binh Mai Vạn Long đã rơi vào thế bị động. Hoàng Tiến bị giết, quân Đàng Trong ngược dòng Mekong hạ liền ba thành, tiến chiếm Phnom Penh. Nhưng mùa mưa đến sớm, Chân Lạp ở đầu nguồn kết bè lửa thả xuống, quân Nguyễn đành phải lùi trở về Mỹ Tho. Đại vương Ang Sor phái sứ đến giảng hòa. Đoàn sứ giả này ngoài một hoàng thân của Chân Lạp còn có nhân vật rất đặc biệt: một cô gái người Chiêm Thành tên là Chiêm Dao Luật.

Không rõ bằng cách nào, Chiêm Dao Luật đã thuyết phục được Mai Vạn Long dừng binh, cho đóng quân lại vùng Mỹ Tho để cày cấy làm ăn, cũng không tiếp tục đòi triều cống của Chân Lạp. Nửa năm thấy quân án binh bất động, một viên tướng tố cáo về Phú Xuân, chúa Nghĩa liền cách chức Mai Vạn Long, đưa Nguyễn Hữu Hào đem đại binh từ ba vùng Phú Yên, Thái Khang, Phan Rí đến thay thế.

Đội quân của Nguyễn Hữu Hào nhanh chóng tiến đến đóng tại Bích Đôi, gửi thư cho vua Ang Sor đòi khoản tuế cống đã thiếu ba năm có lẻ. Chiêm Dao Luật lại được phái tới, dùng lời lẽ thương thuyết tìm cách trì hoãn, “trả nợ” thuế cống nhỏ giọt. Nguyễn Hữu Hào vẫn kiên trì chờ đợi cho đến khi các tướng trong quân thảy đều mất kiên nhẫn mà phản đối. Thấy tranh cãi nổ ra, Nguyễn Hữu Hào liền cho lệnh rút quân trở về Mỹ Tho. Sự việc báo lại Phú Xuân, chúa Nghĩa trừng phạt tước bỏ tất cả quan tước của Nguyễn Hữu Hào, truất làm thứ dân.

Mấy năm sau, khi chúa Nghĩa qua đời, Nguyễn Hữu Hào lại được chúa Minh Nguyễn Phúc Chu gọi vào triều phục chức Cai cơ, dần thăng lên Chưởng cơ, rồi Trấn thủ Quảng Bình. Khi mất, ông được tặng phong Đôn Hậu công thần.

Không rõ Song Tinh truyện được viết vào thời gian nào, nhưng có lẽ sau khi Nguyễn Hữu Hào bị cách chức vì sự việc tại Chân Lạp. Những dòng thơ đề từ mở đầu Song Tinh truyện “Hơi đâu nông nổi chê khen”, “Định tình biết đủ mới an” và nhân vật Song Tinh dùng lời lẽ thuyết phục Phiên vương quy thuận, tất cả như sự ngầm bày tỏ thái độ của Nguyễn Hữu Hào. Sử chép, Nguyễn Hữu Hào tin lời phỉnh phờ của Chiêm Dao Luật mà bãi việc quân, tự phụ cho rằng mình có tài không tốn binh tốt mà Chân Lạp quy thuận, các tướng đều ngầm chê cười chế giễu. Sự mâu thuẫn tăng cao đến nỗi Nguyễn Hữu Hào phải cho lui quân, kế hoạch tiến đánh Ang Sor năm đó hoàn toàn thất bại. Và hậu quả là con trai trưởng của công thần nhất đẳng Nguyễn Hữu Dật mất đi toàn bộ mọi thứ, bị truất thẳng làm thứ dân. Đối với người đã theo cha chinh chiến từ ngày còn nhỏ, đã từng đứng trên vinh quang tót vời của những chiến thắng lẫy lừng, hình phạt này có thể là một sự sỉ nhục khó chịu đựng nổi.

Nhưng Song Tinh truyện vẫn rất điềm nhiên, điềm nhiên trong cả những dòng thơ ca ngợi vẻ đẹp và tình yêu, điềm nhiên trong thái độ sống của con người. Song Tinh chỉ là một chàng thư sinh yếu đuối đến mức đã từng vì tương tư Nhụy Châu mà bệnh thập tử nhất sinh. Nhưng trước quyền thế, trước cả hòn tên mũi đạn, sự thù địch, đấu đá của những thế lực khổng lồ, chàng chưa bao giờ nhân nhượng. Rồi đến đạo lý ngàn xưa tưởng chừng là lẽ đúng đắn duy nhất của con người ràng buộc lấy chàng, chàng vẫn tìm cách vùng vẫy, không chịu để lòng mình khuất phục. Từ đầu đến cuối, Song Tinh chỉ nghe theo trái tim mình, chân lý, lẽ đúng duy nhất của chàng.

Những ngọn gió của thế gian không ngừng quăng quật, muôn vàn áp lực, nỗi khổ, trách nhiệm của thế tục bao vây, buộc con người phải nhủ lòng “tùy thời” mà trôi dạt, mà chấp nhận. Song Tinh vẫn là người của thời đại, vẫn sống theo phong tục văn hóa của thời đại ấy, như cuối truyện chàng đã chấp nhận cả Thể Vân theo lời khuyên của Nhụy Châu. Vậy thì chàng từ chối Thể Vân ban đầu chỉ vì – đó không phải là Nhụy Châu. Đó không phải là thứ trái tim chàng mong muốn. Một khi cánh hoa đào trong trái tim đã không còn nữa, cả một rừng hoa có ý nghĩa gì? Thứ cảm xúc chân thành, trong khiết nhất ấy mới chính là điều có thực, niềm tin và lý tưởng chàng theo đuổi mới chính là điều chàng coi trọng nhất.

Trong đề từ của Định tình nhân – tác phẩm gốc của Song Tinh truyện, tác giả viết: “Luân thường của quân thần phụ tử, vốn tự tính mà có, trung hiếu một lòng đến tận cùng. Còn tình nghĩa phu thê, có tính mà cũng kiêm tình. Tính mà kiêm tình, tất tình sinh tình diệt, tình cạn tình sâu, khó mà nắm bắt, người không thể tự chủ. Một khi gặp người có thể khiến hồn say tâm lạc, đã mãn ước vọng, tất sẽ không thay lòng. Tình của ta, tự có sinh diệt nông sâu của tình ta. Tình ta nếu nhìn sắc hồng của hoa đào đã động, tất vì sắc hồng của hoa đào mà định, tất ta đem đào hồng thành biển mà nguyện chung thân cùng người đến già. Tình ta nếu thấy sắc trắng hoa lê mà không động, tất không vì sắc trắng hoa lê mà định, tất ta đem hoa lê thành nước, tuy chỉ nhất thời cũng không nguyện đồng tâm.” Định tình nhân là câu chuyện theo đuổi tình yêu của Song Tinh, người ngay từ ban đầu đã xác định “chỉ tìm một người đáp ứng tất cả các nguyện vọng của tôi”. Tình yêu của chàng nảy sinh qua một thời gian dài làm bạn với Nhụy Châu, và trở thành duy nhất. Định tình nhân – thực chất là định những mong muốn của chính bản thân mình, thấu tỏ lòng mình.

Phải chăng đó cũng là lời giải cho tình yêu? Đã bao nhiêu chuyện tình tưởng nghiêng trời lệch đất rồi cũng rơi vào tiêu vong. Đã bao nhiêu lời thề nguyện trở thành bội phản, yêu thương trở thành thù oán, tình yêu trở thành nỗi thất vọng truyền đời. Dù nhân loại vẫn viết, kể về tình yêu đời đời kiếp kiếp, nhưng cũng lại như chưa từng biết điều gì về nó. Mỹ nhân và tài tử, anh hùng và giai lệ gặp nhau, cảm vì tài sắc, mến vì tính cách, nhớ nhung quyến luyến, nhưng lại cứ như trời sinh một đôi, sắp đặt một đời. Những câu chuyện đẹp đẽ ly kỳ mở ra sau đó mang vẻ lung linh của một giấc mộng như không hề chạm đến khói lửa nhân gian. Nhân gian của những yêu thương cùng phản bội, kỳ vọng và thất vọng, kiếm tìm và sai lạc. Nhân gian của những con người sống theo luân lý thế tục lẫn dục vọng của chính bản thân mình. Tình yêu và hôn nhân trở thành một phần của luân lý, thành công cụ để xác lập địa vị và quyền lợi, là điều mà con người bắt buộc phải thực hiện. Con người bị những câu chuyện đẹp đẽ phỉnh phờ dẫn dắt, lao đi tìm tình yêu như tìm kiếm một giấc mộng làm vui. Và rồi khi mộng tan, cơn say đã hết, tình yêu lại được đem đong đếm theo tiêu chuẩn cuộc đời, đọng đầy những tính toán cùng vị kỷ. Con người thất vọng bởi nhau, bởi chính bản thân mình. Những ngọn gió Bát phong triền miên thổi qua xác thân hư vô trần tục, thói người lại đem giả xem như là thật, lấy thứ không làm có. Và rồi họ cứ thế sống mãi trong giấc mộng riêng, trong vòng xoay dường không bao giờ chấm dứt của thất tình lục dục mờ mịt hỗn mang.

Có lẽ ngay từ đầu, tiêu chí của Song Tinh “chỉ tìm người phù hợp tuyệt đối với nguyện vọng của mình” đã là sự ngông ngạo dũng cảm vô cùng. Con người ai cũng có ước muốn như thế, nhưng không phải ai cũng là giai nhân và anh hùng, nhiều người chỉ đành tìm kiếm trong ranh giới mình chạm tới, chấp nhận những tạm bợ và tương đối. Để rồi cả đời họ tiếp tục quắt quay trong ước vọng cùng thất vọng, tiếp tục bị cuốn theo trò chơi của dục vọng từ trái tim không bao giờ an định, cố gắng bắt lấy thứ họ chưa từng có. Sống trong một cuộc đời bị biết bao vòng vây hữu hình và vô hình khống chế, trải qua biết bao hoàn cảnh, chịu biết bao xung kích, con người thực ra rất dễ đổi thay, và cuối cùng lầm lạc trong cánh rừng mê vọng của chính mình. Cho đến cuối cùng, mấy ai còn có thể nắm giữ giấc mộng thuở ban đầu, tình yêu tuyệt đối mình đã mơ bằng trái tim thanh sạch nhất?

Đó là chuyện tình yêu, nhưng cũng là chuyện đời người, thậm chí còn rộng hơn – vận mệnh của đất nước. Đàng Trong căng mình trước biển, phải chống chọi với bao thế lực trong ngoài, phải biến đổi để trở nên mạnh mẽ - Và cuối cùng, đã đưa mình vào một cuộc chiến bất tận. Từ ba ngàn người đi theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam, từ những đoàn người gánh gồng thất thểu chạy trốn nạn đói và chiến tranh, từ những thân phận lưu lạc như rong biển lênh đênh không một nơi dung chứa, từ cả những mảnh đất bị xé nát bởi loạn lạc và tranh chấp, Đàng Trong đã tập hợp thành một sức mạnh mới. Thoát khỏi chiến tranh với Trịnh, một chiến trường lại mở ra ở phương Nam. Để có thể sống, Đàng Trong buộc phải giữ Đông Phố trong khi quan hệ với dòng chính Đại vương Chân Lạp đã đổ vỡ không thể phục hồi. Nhưng đằng sau Ang Sor là đất nước Đại Thành, là cả thế lực Tây Dương hay thậm chí Mã Lai, Đồ Bà cũng sẵn sàng nhảy vào trận chiến khi có cơ hội… Nhưng ngay ở Đông Phố vẫn đang tồn tại một triều đình nhỏ của Nhị vương Ang Nan và Mỹ Tho trống trải chưa qua loạn lạc. Quân Nguyễn đã phải lui về ngay lập tức khi gặp chống trả từ Tonle Sap theo dòng lũ tới vì hiểu rõ đằng sau họ chẳng có gì. Dù đã phái đại tướng đưa đại quân tới, họ cũng chẳng thể duy trì cuộc chiến với bao nhiêu thế lực ngay trên đất Chân Lạp. Họ có thể đuổi giết Ang Sor, và lại phải lùi bước chấp nhận hòa ước, chấp nhận một vị vua được Đại Thành đồng ý khác. Và sự tranh chấp trong triều đình Chân Lạp tiếp tục tiếp diễn, đem họ thành công cụ để xử trị lẫn nhau. Những cuộc chiến chẳng để làm gì.

Khi từ Quảng Bình trở lại Phú Xuân, đưa quân tới Chân Lạp, Nguyễn Hữu Hào đã đi qua những con đường vượt núi rừng, sa mạc đến đồng hoang. Chiến trường Chân Lạp sau này được Nguyễn Công Trứ mô tả lại trong nỗi bất lực trước lau sậy và sông ngòi chằng chịt, hoàn toàn lạ lẫm với người phương Bắc[1]. Rút kinh nghiệm từ người trước, Nguyễn Hữu Hào đã cẩn thận chầm chậm tiến quân, xây dựng những đồn lũy thủy bộ bọc lót cho nhau, nhưng ông cũng hiểu rõ thế chênh vênh của đoàn quân này. Là một đại quan trong triều, dòng dõi đệ nhất công thần, ông càng hiểu rõ điều mà Đàng Trong này cần – Không phải là một chiến trường cho các tướng lập công, mà là một sự ổn định lâu dài hơn.

Vị chúa cai trị suốt hơn bốn mươi năm vừa qua đời, để lại một triều đình vẫn như xưa với các dòng dõi công thần quyền thế ngang cả chúa, để lại một vùng lãnh thổ vẫn chia rẽ nằm dưới các quyền lực địa phương và hỗn loạn con người. Chúa Nghĩa vừa lên ngôi, hơn nửa phố Kim Long bị đốt thành tro bụi, đẩy triều chúa phải dời về Phú Xuân để có địa thế phòng thủ tốt hơn. Qua mấy năm ngắn ngủi dưới thời chúa Nghĩa, chúa Minh nối ngôi và đối mặt với hàng loạt cuộc mưu phản từ trong chính triều đình, dòng họ mình, những mâu thuẫn tranh chấp chưa bao giờ ngơi nghỉ. Xung đột ở lũy Trấn Ninh đã lắng, nhưng các viên tướng cần chiến trận để lập công thăng chức ra sức phát động một cuộc chiến khác, và rồi họ trừ khử lẫn nhau ngay ở biên cương. Đàng Trong với cốt lõi triều đình họ Nguyễn ở Phú Xuân mới lập chưa được trăm năm, nói cho cùng chỉ là một mảnh đất quá nhỏ bé, xa cách và chưa đủ sức khống chế toàn cục diện. Đông Phố - Chân Lạp với sự phân rã sau cuộc nổi loạn của Hoàng Tiến còn đang hoang mang với lòng người đầy bất an. Một cuộc chiến xảy ra sẽ càng thúc đẩy thêm sự bành trướng của những quyền lực quân sự mới, tham vọng mới và những rối loạn không thể lường ở vùng đất này.

Hơn mười năm sau, người đến kinh lý Gia Định là em trai Nguyễn Hữu Hào, Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Khi ấy, Nhị vương Ang Nan đã qua đời. Khi ấy, Chiêm Thành lại vừa nổi dậy đánh Phú Yên và bị đẩy lui, cuộc khởi loạn của thương buôn ở Quy Ninh, những âm mưu tạo phản trong triều cũng bị dập tắt. Triều đình của chúa Minh thực hiện một đường lối mềm dẻo và hòa hợp hơn. Năm sau, Đại vương Ang Sor tiếp tục tấn công muốn chiếm lại Thủy Chân Lạp, Nguyễn Hữu Cảnh được phái đi đánh dẹp. Thuyền quân Đàng Trong lại tiến thẳng tới Bích Đôi, khiến Ang Sor phải bỏ chạy. Nhưng Nguyễn Hữu Cảnh chấp nhận lời cầu hòa của Chân Lạp, cho phép Ang Sor trở lại vỗ yên dân chúng, rút quân trở về Gia Định. Đàng Trong tập trung phát triển Gia Định, rồi thu hút thêm được Hà Tiên cùng những tiểu quốc nhỏ chầu về. Gia Định ấy rồi sẽ trở thành nguồn lực để họ tái sinh từ trong cái chết, bằng sự ủng hộ của bao người.

Tiến trình mở rộng đất đai của chúa Nguyễn không đi kèm với những sự việc tàn sát, phá hoại, tận diệt như thường thấy trong lịch sử, đội quân Nguyễn ở Gia Định luôn chỉ phản kích khi bị tấn công trong suốt hàng trăm năm. Và người chặn đứng làn sóng ấy ngay từ lúc khởi đầu chính là Nguyễn Hữu Hào. Trong tình thế đầy hoang mang, chông chênh của thời kỳ thay đổi triều đại, trước sức ép của một vùng đất quá phức tạp, cuộc xử trị tận diệt tàn khốc xảy ra với người đã muốn quay đầu như Hoàng Tiến, đoàn quân hăng máu muốn trừ diệt cả triều đình Chân Lạp đến nỗi tự trừ khử cả hai viên chỉ huy của nó. Trong luồng xoáy thù hận tăng cao, rồi sẽ chẳng ai khống chế được bản thân mình. Nguyễn Hữu Hào, con nhà tướng được sinh ra và lớn lên ở chân thành lũy Trấn Ninh, trải qua cả thời thanh xuân trong những cuộc chiến thảm khốc nhất của chiến trường địa ngục, hiểu rõ những xung động thúc đẩy con người. Nguyễn Hữu Hào, viên nho tướng đã từng tranh luận Phật pháp với vị đại sư Thích Đại Sán, cũng hiểu rõ những nhân quả đúng sai của từng hành động trong đời. Dù đã thấy hình phạt dành cho Mai Vạn Long, ông dùng chính bản thân mình, cả cuộc đời mình để gánh chịu toàn bộ hậu quả, chặn lại những tham vọng cùng hận thù đang bùng phát, cơn bão Bát phong cuộn nổi khuấy đảo lòng người.

Nguyễn Hữu Hào được phục chức, rồi thăng đến Chưởng cơ dưới thời chúa Minh, là vị đại quan được chúa Nguyễn Phúc Chu trọng vọng, có thể thấy ảnh hưởng của ông với những đối sách ở Gia Định và Chân Lạp. Đàng Trong không dùng chiến tranh cùng chiến lợi phẩm để xoa dịu xung đột chính trong lòng nó mà bằng cách thu phục con người dù có bao nhiêu khó khăn trắc trở. Để vòng quay của lịch sử đã dần dần đưa Gia Định vào sự kiểm soát của Đàng Trong. Từ Nguyễn Hữu Hào đến Nguyễn Hữu Cảnh, những người anh em tuy hai mà như một. Bao giờ cũng điềm nhiên, quảng đại và thấu hiểu. Hiểu người, hiểu chính mình.

Đây có lẽ cũng là tư tưởng và tinh thần đã nằm trong máu thịt xương cốt họ. Ông nội của hai người, Nguyễn Triều Văn, đã rời khỏi Đông Đô đi theo chúa Nguyễn Hoàng đến phương Nam vì không thể khuất phục trước quyền lực họ Trịnh. Cha họ, Nguyễn Hữu Dật, đại tướng giữ lũy Trấn Ninh người người đều sợ hãi, nhưng xuất thân là một văn thần. Mười sáu tuổi, Nguyễn Hữu Dật nhờ văn học mà được bổ làm quan. Cũng trong năm đó, chúa Trịnh Tùng bệnh nặng ở Đông Đô, con thứ là Trịnh Xuân tranh ngôi đem quân đốt cháy thành Thăng Long, bức Trịnh Tùng phải bỏ chạy chết ở dọc đường. Nghe tin, chúa Sãi chê cười Trịnh Tùng giết vua để nay con giết cha, cho bắn ba phát súng, kêu ba tiếng. Trước hành động của chúa Sãi, Nguyễn Hữu Dật tỏ ý phật lòng mà đứng ra nói thẳng: “Muốn giữ thì giữ, đánh thì đánh, sai nổ súng kêu to là sao?”. Vì một câu nói, Nguyễn Hữu Dật ngay lập tức bị cách chức, mấy năm sau mới được vào triều. Chúa bảo ông còn nhỏ không hiểu chuyện, nhưng trái tim đơn thuần ấy lại hiểu rõ lẽ đúng sai phải trái hơn tất cả. Trịnh Tùng giết vua, Trịnh Xuân hại chết cha, nhưng hành động của chúa Sãi cũng chỉ là việc ấu trĩ buồn cười, những cái sai liên tiếp nhau không thể nào thành đúng. Người đối mặt với cái sai của kẻ khác không dám đối đầu trực diện thì chẳng hề đáng kể đáng khen.

Từ Nguyễn Hữu Dật tuổi mười sáu đến Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Cảnh tại Đông Phố sau này, tất cả như sự nối dài của chí khí ấy. Họ có thể dùng sống chết để xông pha trận mạc, nhưng cũng coi danh chức tựa phù vân, không hề e dè quyền lực lẫn thế thời. Những trận gió vẫn quay cuồng thổi trong nhân thế hỗn độn tốt xấu đúng sai, những viên tướng chống giữ giữa bão cát mịt mù chỉ có trái tim mình chỉ đường dẫn lối. Họ chiến đấu vì điều gì, họ bảo vệ điều gì?

“Ngày thường xem Trung Dung của Khổng Tử để tu tâm dưỡng tính, thấy rằng mọi tính người hỉ, nộ, ai, lạc, yêu, hận đều là vì có tình. Một khi động tình, hôn ám sẽ trở thành mê dục, phóng đãng thành vong phản, không phải chỉ chữ tình thiếu, mà tâm tính cũng sẽ liên lụy theo. Cho nên minh tâm chính tính, lại phải kiên định tình ấy.” Người xưa xem việc kiểm soát tình cảm chính là để làm sáng rõ tâm tính, rèn luyện nhân cách, kẻ không hiểu rõ lại quy kết thành những thể thức kỷ luật khắc nghiệt lễ nghi bề mặt, cho rằng thiếu nhân tính, nhân tình – Trong khi chỉ những người thấu rõ nhân tâm nhất mới có thể trở thành bậc vĩ nhân. Chỉ những kẻ thấu tỏ trái tim mình nhất mới có thể hoàn toàn tự do – thoát khỏi chiếc lồng xương thịt trong hồng trần luân hồi muôn kiếp. Thứ tình tuyệt đối trong sáng như chiếc gương soi ấy mới có thể lấp đầy giấc mộng của một đời người. Chỉ những kẻ dám kiếm tìm, dám kiên định, dám trả giá mới đạt được đến bến bờ ước vọng hằng mong.

Văn thơ là tiếng nói của thời đại. Không thở than cũng chẳng răn dạy luân lý cương thường như thi ca chiến loạn những thế kỷ sau, truyện thơ Nôm đầu tiên được phổ biến ở Đàng Trong là bài ca về tự do và phẩm chất con người. Thoát ra khỏi những ràng buộc ngàn xưa, bước vào biển cả mênh mông bát ngát mà cũng đầy hiểm nguy cùng tương lai vô định không thể biết, con người phải nhìn lại chính bản thân mình. Đường dưới chân, đường ở trong tim. Tình dành cho người chính là tính của mình.

Để rồi, thế gian vẫn cứ chảy trôi trong biến loạn, trường dục vọng của con người không ngừng va đập, tàn phá, hủy hoại lẫn nhau, những vương triều vẫn cứ huy hoàng rồi sụp đổ. Nhưng đã từng có một bài tình ca cất lên trên chiến lũy xương thịt nát tan, trên những cánh rừng và dòng sông bát ngát, như trường khúc chiêu hồn nhân thế.

 

Chú thích:

[1] Thư tấu của Nguyễn Công Trứ trong Đại Nam thực lục: “Nay bọn thổ phỉ này không thống nhất một nơi, ở tản mát trong các chỗ: bằng phẳng, hoang vu, cây rậm, cỏ tốt, bát ngát 4 phía, phần nhiều tre xanh um tùm, nước đọng bùn lầy không thể đi lại được, không như núi cao cây lớn, có thể phá đẵn đi tắt làm đường… Chỗ nào cũng như đàn muỗi tụ, không có nơi hạ thủ.”



Leave a Reply

(required)

(required)

:) :blush: :D :( :(( ;)) :banh: ;) ::) =)) :)) b-) :meo1: :meo2: :meo3: :meo4: :meo5: :meo6: :meo7: :meo8: :meo9: :meo10: :meo11: more »

Bộ gõ tiếng Việt đã được bật. Bạn có thể gõ tiếng Việt không cần phần mềm trong máy.
RSS feed for comments on this post.


Copyright © Trường An. All rights reserved.