Solitude

Cảnh như thị, nhân như thị

5.
Trường An April 16th, 2022

Ỷ bích nhân như túy
Xuyên song đối nguyệt minh
Càn khôn, xuân kỷ độ
Hương quốc, dạ tam canh.[1]

(Gia Định thành dạ giam khẩu chiếm – Lã Xuân Oai)

 

 

Biến chuyển lớn nhất xảy ra với phương Nam có lẽ là từ khi nhóm người Minh Hương nọ chia ba đường vào cửa sông Mekong.

Năm ấy, Chân Lạp đang chia rẽ thành hai nửa với hai vị vương Ang Sor (Nặc Thu) và Ang Nan (Nặc Nộn). Ang Nan được quân Nguyễn trợ giúp đưa về Thủy Chân Lạp làm Nhị vương, đóng ở Prey Nokor, và hai vương liên tục tìm cách kình chống nhau. Trong tình hình ấy, một lực lượng đến làm đổi thay tất cả: người Minh lưu vong Thanh triều.

Giữa thế kỷ mười bảy, quân Mãn Châu tràn qua Sơn Hải quan, đánh chiếm Bắc Kinh, xây dựng triều đại nhà Thanh kéo dài hơn ba trăm năm ở Trung Quốc, kéo theo đó là những cuộc thanh trừng, càn quét tiêu diệt người trung thành với triều Minh cũ. Một lượng lớn người Trung Quốc không phục nhà Thanh lưu vong xuống phương Nam, trú tại các quốc gia Đông Nam Á. Đàng Trong cũng nằm trong làn sóng di cư này, và các chúa Nguyễn đã chủ trương mở rộng vòng tay đón người lưu lạc. Ngoài phố Hội An ở Quảng Nam, phố thương có lịch sử lâu đời Nước Mặn ở Quy Ninh, chúa Thượng cho xây thêm phố Thanh Hà ở Quảng Bình dành cho các thương nhân, chúa Hiền dựng thêm một phố Thanh Hà nữa nằm cạnh dinh phủ Kim Long, nối liền mạch kinh thương khắp vùng.

Trung Quốc vẫn không ngừng biến động suốt năm mươi năm sau đó, cho đến trận chiến cuối cùng của vua Khang Hy tiêu diệt Tam phiên. Năm mươi năm dưới sự cai trị của Mãn Thanh, người Minh cũng muốn dồn tất cả sức lực trong trận chiến sống còn. Nhân sự việc Tam phiên phản Thanh, quân phục Minh ở phía Nam Trung Quốc kết hợp với họ Trịnh ở Đài Loan nổi dậy. Nhưng sau bảy năm chiến tranh, Tam phiên tan rã rồi bị quân Thanh tiêu diệt hoàn toàn ở Vân Nam, đẩy đợt lực lượng phục Minh cuối ra biển, trong đó có hai nhóm người đã đến vùng đất của Việt Nam hiện tại: nhóm của Tổng binh thủy lục Long Môn Dương Ngạn Địch và nhóm Lôi Châu của Mạc Cửu.

Mùa đông năm ấy, đoàn thuyền của Dương Ngạn Địch phải chạy trốn ra biển khi Nam Kinh thất thủ, gặp bão lớn mà thiệt mất nửa đội quân. Khi gió yên, họ thấy mình đã ở giữa muôn trùng sóng nước không biết đâu là phương hướng bến bờ. Cả đội thuyền trôi lênh đênh trên biển cả tháng trời, quân lính đói đến phải lấy giày da để ăn. Một ngày, trong nỗi tuyệt vọng, họ đã nhìn thấy dải đất phía chân trời phía Tây: Đàng Trong. Dẫu vậy, họ vẫn chưa biết điều gì sẽ chờ đợi mình, đã chuẩn bị đến cả phương án đánh nhau để cầu sinh nếu bị tấn công. Nói cho cùng, chẳng ai có thể không hoảng hốt lẫn cảnh giác khi thấy đoàn chiến thuyền đông đến hơn hàng ngàn người bỗng nhiên xuất hiện.

Tuy vậy chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đã cho đoàn thuyền này cập bến, đưa lương thực cứu giúp họ. Không còn nơi nào để đi, Dương Ngạn Địch xin ở lại. Nhưng bọn họ là một đội quân hoàn toàn xa lạ, lại quá đông đúc để có thể sắp đặt ở trong vùng Thuận Quảng, Quy Ninh vốn nhỏ hẹp và phức tạp. Người trong triều liền đưa ra ý kiến: đưa nhóm người này về Đông Phố - tên gọi cũ của vùng Thủy Chân Lạp.

Với tiếng nói của công nữ Ngọc Vạn, Nhị vương Ang Nan đã phải tuân lời cho phép đoàn tàu Minh Hương đến trú ngụ. Ba ngàn người liền chia thành hai nhóm: Nhóm do Dương Ngạn Địch cùng Phó tướng Hoàng Tiến chỉ huy đi về Mỹ Tho, nhóm của Tổng binh Cao Lôi Liêm Trần Thượng Xuyên đến Cù lao Phố. Triều Nguyễn cung cấp công cụ cho họ lập phố dựng nhà, xây dựng nên vùng đất rồi sẽ trở thành địa điểm sầm uất bậc nhất Biển Đông.

Vùng đất Thủy Chân Lạp ngày ấy, sau hoa lệ ngàn xưa của đất Phù Nam cũ, đã trở thành nơi chốn bị lãng quên trong cỏ lau và heo hắt dòng nước chảy dưới các vùng thấp trũng đúng như cái tên của nó. Cá sấu nhung nhúc trên bến dưới bờ, muỗi bay như sáo chiều hôm. Đây còn là vùng đệm của những trận chiến giữa Chiêm Thành và Chân Lạp, những xóm làng Cao Miên nhỏ sống ven dòng sông xa xôi rời rạc, dường tách xa khỏi sự nhộn nhịp của các cảng phố phía Tây. Gia Định thành thông chí kể, đồng lúa ở phương Nam bùn sâu lút đến trâu phải thật khỏe mới có thể cày. Những chiến binh từ phương xa đi tới, tay phải bỏ giáo gươm để cầm lấy cuốc cày, bước vào cuộc vật lộn với thiên nhiên hoang dã hung tàn lẫn con người đa đoan thù địch. Chỉ mấy năm sau, họ đã làm nên Mỹ Tho đại phố lẫn Cù lao Phố nổi danh trong vùng vịnh Xiêm La.

Có lẽ cùng thời gian ấy, Mạc Cửu ở Lôi Châu cũng đưa gia đình bỏ nước ra đi đến vùng đất cực Nam của bán đảo Đông Dương. Như Dương Ngạn Địch cầu cứu triều Nguyễn, Mạc Cửu cậy nhờ triều Chân Lạp ở Oudong. Trước nghe phong thanh về đoàn tàu Minh Hương tiến vào dòng Mekong, Đại vương Ang Sor bỏ hoàng cung chạy trốn, nay nhanh chóng đón đoàn người này, phong Mạc Cửu chức Ocnha.

Quả nhiên yên ổn được vài năm, ghi chép của người Tây Dương đã rì rầm về những cuộc đụng độ của Nhị vương và Đại vương Chân Lạp cùng sự giúp sức của người Trung Quốc, xung đột kéo cả Đại Thành vào cuộc. Sự sụp đổ của triều Minh ở Trung Quốc đã tạo nên một cục diện mới trong khắp Biển Đông từ vô số đoàn người bỏ nước ra đi, lấy vùng đất lạ trú ngụ, làm thương mãi, xây dựng nên quê hương cùng chỗ đứng mới cho mình. Và nơi có quyền lực thì thể nào cũng nảy lên tranh chấp. Một ngày, Phó tướng Hoàng Tiến giết Dương Ngạn Địch, chiếm lấy Mỹ Tho đắp thành dựng lũy. Đại vương Ang Sor nghe tin liền chăng dây sắt chặn dòng Mekong phòng thủ, Nhị vương Ang Nan cấp báo về cho triều Nguyễn.

Năm ấy, chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái vừa lên ngôi sau khi chúa Hiền qua đời, phố Kim Long phát hỏa cháy rụi hơn phân nửa, buộc chúa phải dời dinh phủ về Phú Xuân. Dù đã hòa đàm với Trịnh sau những trận chiến dữ dội, chẳng ai biết điều gì sẽ xảy ra với cái chết của vị chúa đã trị vì hơn bốn mươi năm trên vùng đất vụn nát đầy chia cắt. Cuộc nổi loạn của Hoàng Tiến cũng chỉ là khởi đầu cho một chuỗi các cuộc tạo phản của các nhóm thương nhân sau đó trên khắp Đàng Trong. Đây là thời đại của phân tranh giành giật mà mọi kẻ đều có cơ hội ngang nhau, dù là ba ngàn người của chúa Nguyễn hay ba ngàn người của Dương Ngạn Địch. Với muôn vàn mưu tính và sự vị kỷ, chỉ cần đốt một ngọn lửa nhỏ cũng có thể cháy lan thiêu rụi cả rừng già.

Triều Nguyễn hẳn đã nhận ra nguy cơ của nhóm người Hoàng Tiến. Và vị thế của Chân Lạp với Đàng Trong ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt khi Đại vương Ang Sor vô cùng thân cận với Đại Thành, không còn ai có thể thay thế vai trò của công nữ Ngọc Vạn bên Ang Nan. Ở phía Tây, Đại Thành đang trở thành một thế lực đáng gờm khi nhà vua Narai ra sức liên kết với các quốc gia Tây Dương, tấn công Miến Điện, thu phục các tiểu quốc trên bán đảo Mã Lai. Vị chúa mới lên ngôi cũng cần một hành động để khẳng định vị thế bản thân. Họ quyết định: Nhân cơ hội thu phục Chân Lạp. Quân đội triều Nguyễn được phái đi, hợp với đội quân ở Cù lao Phố của Trần Thượng Xuyên tiến đến Tiền Giang.

Hoàng Tiến giết Dương Ngạn Địch dẫu sao cũng chỉ là chuyện riêng của nhóm người này, trên vùng đất mà Đàng Trong không có quyền quyết định. Thế là nhân cớ xuất quân trừng phạt vua Ang Sor bỏ triều cống, quân đội Nguyễn kêu gọi Hoàng Tiến đến góp sức rồi lập mưu giết chết cả gia đình họ Hoàng, phá hủy doanh trại ở Mỹ Tho. Quân Long Môn hợp nhất, chặt đứt xích sắt đưa quân Nguyễn vượt dòng Mekong tới Oudong. Do nhiều lý do, quân Nguyễn không thể triệt hạ được vua Ang Sor, thế cục phân tranh của Thủy Lục Chân Lạp vẫn kéo dài. Từ đó, quân Long Môn do Trần Thượng Xuyên làm chủ tướng đã sát cánh cùng quân Nguyễn trong các cuộc giao tranh.

Nhiều năm về sau, khi đưa Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh đến kinh lý Đông Phố, chúa Minh đã đặt cho vùng đất này một cái tên mới: Gia Định.

Gia nghĩa là phúc lành, Định là an định, một ước mong dành cho những lưu dân. Tuy nhiên, có khả năng cái tên này còn mang một ý nghĩa khác: Gia Định cũng là một vùng đất gần Tô Châu của Trung Quốc. Do điều kiện văn hóa lịch sử, nhiều địa danh ở Việt Nam trùng với Trung Quốc. Chúa Minh là một vị chúa hay chữ giỏi văn thơ, và Gia Định lại là một cái tên có ý nghĩa đặc biệt với người Minh Hương, đánh dấu một trong những cuộc chiến đấu thảm khốc và anh hùng nhất chống Thanh triều của họ.

Gia Định thành ngày ấy nằm ở vùng biên của Tô Châu và Thượng Hải hiện tại, Giang Nam xa hoa thịnh vượng, văn vật lâu đời. Khi Mãn Thanh đánh chiếm Trung Quốc, Nam Kinh thất thủ, huyện lệnh trốn theo vua Minh, dân chúng Gia Định thành nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Tổng binh Ngô Chí Quỳ. Đội quân hơn trăm người ban ngày thì phục ngoài cửa, ban đêm đốt đuốc truy lùng viên quan do Thanh phái tới, khiến hắn phải trốn đi. Thanh triều phát lệnh cạo tóc, hai chí sĩ là Hoàng Thuần Diệu, Hầu Động Tằng treo cờ ‘Gia Định khôi tiễu nghĩa sư’, kêu gọi dân chúng thủ thành. Nam nữ già trẻ toàn thành nhập quân kháng Thanh, các chí sĩ lãnh đạo phân trận mà giữ thành, phá bỏ tất cả cầu đường, lấy đá tảng lấp cửa. Quân Thanh đến bao vây bốn mặt, tướng Thanh là Lý Thành Đống ra lệnh nã pháo vào thành, tấn công dồn dập. Dân chúng Gia Định ngoan cường phản kháng, chỗ nào thành sập thì lấy vải lót gỗ mà bịt, người nào thương vong lập tức bổ sung. Đánh đến hoàng hôn, đột nhiên mưa bão như trút, cuồng phong tối mịt khiến thành không thể thắp đèn, Lý Thành Đống cho quân xuống ẩn dưới kênh huyệt thành. Đến khi mưa bão ngừng, dân chúng ba ngày thủ thành chống bão đã sức cùng lực kiệt, Lý Thành Đống liền cho phát pháo công thành. Pháo động đất trời, nhà cửa tan nát, đá rơi như mưa. Rốt cuộc, quân Thanh phá được một góc thành, chen nhau mà vào. Hầu Động Tằng tự sát ở phía Đông thành, Hoàng Thuần Diệu tự sát ở cánh Tây, các đầu lĩnh đều chết. Lính Thanh binh vào thành tàn sát không ngơi tay, không kể lớn bé. Khắp thành xương thịt rơi rụng, tử thi nát bấy, phụ nữ có người bị đóng đinh vào hai tay mà đem đi cưỡng bức. Ba ngày sau, xác chết ngập sông Tô Châu, thuyền đi không qua được, máu ngập dòng nước.

Nhưng dân chúng Gia Định tiếp tục phản kháng. Nửa tháng sau, Thanh một lần nữa công thành. Nhân lúc sáng sớm, có kẻ gian mở cổng, đưa quân vào tàn sát dân chúng thậm chí chưa ngủ dậy. Một lần nữa, thây phơi trắng thành.

Một tháng sau, Tổng binh Ngô Chi Phiên đưa quân phản công chiếm lại Gia Định. Dân chúng lại tập trung trước Ngô tướng, nhưng đội quân ô hợp chống không được quân Thanh. Lần thứ ba, máu ngập Gia Định thành – Trong thành không còn một mạng.

Cuộc thảm sát này chỉ là một phần trong những cuộc tàn sát mà quân Thanh thực hiện trong cuộc bình định Trung Quốc, và cũng chỉ là một trong vô vàn sự tàn nhẫn mà con người làm trong lịch sử. Nhưng thứ cao hơn hết, khó có thể thấy được ở bất cứ đâu là khí tiết anh hùng của thành trì này. Tất cả, toàn bộ con người, già trẻ lớn bé, dẫu bọn họ chỉ là thường dân áo vải, chỉ quen hát ca với dòng sông mềm như lụa Giang Nam, cũng đã đồng lòng tử thủ đến người cuối cùng trước một thế lực hung tàn, trước cả một cái chết khủng khiếp dường không thể thay đổi. Vua quan Minh triều đã bỏ chạy, Dương Châu, Nam Kinh ngập trong máu đỏ, hẳn họ không hy vọng chiến thắng hay thậm chí là cầm cự được với vó ngựa Nữ Chân. Thứ họ chiến đấu bảo vệ chỉ là tôn nghiêm của bản thân, tình yêu nước của họ, chí khí của họ. Những điều mà không một quyền lực, sự tàn ác, nỗi sợ hãi nào có thể đe dọa tước bỏ khỏi họ.

Gia Định thành cũ đã bị tiêu diệt, nhưng cái tên này sẽ tồn tại ở phương Nam, qua bao bão tố của lịch sử. Gia Định anh hùng, mọi người lặp đi lặp lại câu nói trong những thời khắc đen tối nhất, trước bao thất bại, sụp đổ đầy máu và nước mắt. Gia Định rồi sẽ trở thành cái tên mà cả đất nước này kêu gọi. Gia Định ngoan cường chống chọi, Gia Định sẽ lại phục sinh đứng dậy từ tro tàn. Gia Định là nỗi đau, cũng là hy vọng.

Gia Định ôm tất cả vào lòng, không kể nguồn gốc xuất thân. Những thuyền nhân ngày ấy bật khóc giữa biển khơi vô tận đã tìm được một chốn dung thân, người lưu lạc từ mọi phương đổ đến, cả những kẻ đã sai lầm phạm tội đi làm lại cuộc đời mới. Đẵn rừng làm nhà, săn thú làm thức ăn. Những bàn tay chỉ quen đao kiếm lần đầu tiên cầm lấy cuốc cày. Những bàn tay tưởng đã chai cũng đã vô số lần rách tướp dưới những sợi mây sắc. Những bàn tay xạm đi vì nước mặn cầm lấy búa đóng thuyền. Những đêm nghe mưa rừng cuồn cuộn ầm ào. Những đêm nghe tiếng những ngọn cau vừa trồng xào xạc cùng tiếng dòng nước âm thầm chảy. Những đêm tưởng như rơi nước mắt vì nỗi cô đơn nơi tận cùng thế giới.

Bọn họ, thậm chí ngay cả Hoàng Tiến, đã lựa chọn ở lại, đứng bên người đã mở rộng vòng tay cứu giúp, lòng trung thành chưa từng lay động, giản đơn như nhất. Những thương phố do họ mở mang dần trở thành nguồn lực của Gia Định, kết nối mọi xóm làng lẻ tẻ, những khu đất mới lập. Và cùng với quân đội Nguyễn, họ dùng máu để bảo vệ Gia Định.

Ở nơi cực Nam của vùng đất, Mạc Cửu cũng đã lập thành giang sơn của riêng mình. Vị Ocnha của Chân Lạp bị viên tướng Đại Thành nhắm trúng, buộc phải đến vùng Vạn Tuế Sơn của Đại Thành. Mấy năm sau, khi đất nước này biến động, ông đem người trốn về vùng Mang Khảm, rồi dựng xây nên Hà Tiên. Bị quân Đại Thành tấn công, Mạc Cửu phái người đến xin thần phục chúa Nguyễn. Họ Mạc chọn Đàng Trong để chống đối Đại Thành, có lẽ vì Trần Thượng Xuyên là người cùng quê, nhưng hơn tất cả là do Gia Định. Cuộc sống của thương nhân Minh Hương ở các nước trong vùng vốn luôn tràn đầy bất an với những cuộc tàn sát, xua đuổi kéo dài khắp trong lịch sử. Điều này lại chưa từng xảy ra với Gia Định dù qua bao thăng trầm sóng gió. Gia Định, nơi những con người bị bỏ rơi, mất đi cội nguồn tụ họp để bảo vệ lẫn nhau, hát vang bài ca của phẩm giá và khí tiết. Và chỉ bằng một hành động đơn thuần xuất phát từ lòng nhân từ quảng đại, chúa Hiền đã kêu gọi được lòng người, mở ra cả một mảnh đất phương Nam trù phú bậc nhất Đông Dương. Họ Mạc, tưởng chừng chỉ thần phục Đàng Trong do hoàn cảnh bức bách nhất thời, lại đã luôn luôn đứng bên họ Nguyễn với biết bao trả giá, hy sinh. Hà Tiên đã đứng bên Gia Định điều hòa quan hệ với Chân Lạp, chống các cuộc tấn công của Đại Thành – sau là Xiêm La, tạo thành diện mạo hoàn chỉnh của miền Nam hiện tại. Vận mệnh của tất cả mọi người đã gắn chặt với nhau như thể chỉ bằng một thề hứa sắt son vĩnh cửu, bằng tấm lòng tri kỷ không cần thành tiếng thành lời.

Thế nhưng sự tập hợp quá đông đúc một lượng người không cùng cội nguồn lại có quá nhiều thế lực cũng đem đến vô vàn sự phức tạp cho Đàng Trong. Thời đại của chúa Minh về sau chứng kiến hàng loạt cuộc tạo phản do thương nhân dẫn dắt. Chỉ mấy năm sau sự việc Hoàng Tiến, một người Thanh tên A Ban xách động Chiêm Thành tấn công Phú Yên, nối tiếp sau đó là một thương nhân tên Linh và con rể là Quảng Phú mưu phản tại Quy Ninh. Nhiều năm sau lại thêm một vụ tạo phản khác ở Gia Định cũng do lái buôn người Thanh khuấy động. Kinh tế Đàng Trong quá phụ thuộc vào thương nghiệp và chịu ảnh hưởng lớn của giới thương buôn cùng hoạt động của họ. Ngay cả các đại quan thượng tướng trong triều cũng ăn lương bổng từ hoa lợi của các nguồn được cấp riêng cho họ gọi là ngụ lộc, mối quan hệ của tiền bạc và thế lực từ đó càng gắn chặt với nhau.

Nguồn là một khái niệm đặc biệt ở Đàng Trong, là nơi tập hợp hàng hóa từ các vùng phụ cận để trao đổi với thương lái, rồi đưa đến các phố cảng. Phủ biên tạp lục ghi nhận hàng chục nguồn như thế khắp Đàng Trong, cùng hàng trăm chợ, bến, bãi làm thành một mạng lưới thương mãi dày đặc. Nguồn thu chính của triều đình đến từ thuế của hoạt động buôn bán trong những địa điểm này. Nguyễn Nhạc của Tây Sơn cũng vốn là một chủ thu thuế ở nguồn như thế, được ghi nhận rằng “có quan hệ rộng rãi với thương buôn Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản”. Và một khi dùng hoa lợi từ nguồn để trả lương cho các đại quan thay vì để triều đình cấp phát chế độ lương bổng rõ ràng, mỗi địa phương lại có một lệ thu thuế riêng, nhiều chức danh trong ngành kinh thương có thể dùng tiền để mua, triều chúa Nguyễn đã để ngỏ một lỗ hổng lớn cho sự lạm dụng quyền lực. Khủng hoảng tiền kẽm dẫn đến Tây Sơn khởi loạn cũng từ một người thương buôn Trung Quốc họ Hoàng khuyên chúa Nguyễn mua kẽm của Hà Lan để đúc tiền, và rồi những kẻ có quyền thế xin mở đến hơn một trăm lò đúc, chất lượng tiền ngày càng kém, hỏng hàng loạt, dẫn đến lạm phát bùng nổ khắp Đàng Trong.

Nhưng triều đình này vốn khởi đầu từ sự chắp vá trên mảnh đất quá phân tán, chia rẽ. Các quy định cơ bản về tuyển binh, sổ sách, tô thuế đều theo luật Hồng Đức. Các đời chúa dùng những đoàn sứ vào trong núi rừng đưa quà tặng để đổi lấy sự thần phục và cống nạp của các tộc người. Đến thời chúa Sãi mới bãi bỏ tam ty, cắt đứt sự khống chế của Lê Trịnh, chúa Thượng tìm mọi cách ổn định những xung động dữ dội khi trận chiến mới bắt đầu và đặt nền móng cho nền kinh tế, chúa Hiền an định chiến tranh với Trịnh và xác lập quan hệ với biết bao thế lực dòm ngó bên ngoài. Từ thời chúa Nghĩa, họ lại bị cuốn vào cuộc chiến với Chân Lạp, Chiêm Thành, sau này mở rộng ra tới cả Xiêm La, Vạn Tượng, cùng những xung động liên tục ngay trong chính lòng Đàng Trong. Võ vương Nguyễn Phúc Khoát thực hiện những cải cách hành chính nhưng chưa thể chạm vào gốc rễ những thế lực làm cột chống cho họ Nguyễn, từ dòng dõi các công thần lâu đời cho đến giới thương nhân. Mảnh đất Đàng Trong đã sinh sôi như một cánh đồng hoang dại, tự do phóng khoáng, rực rỡ sôi trào nhưng cũng đầy hiểm nguy cùng bẫy rập.

Tất cả những điều đó đem đến một vẻ hoa lệ khó mà miêu tả cho Đàng Trong, như thực, như hư, như một giấc mộng trong quang hoa nhất hiện. Cuối thế kỷ mười tám, khi vượt qua lũy Trấn Ninh đến Phú Xuân, dù mảnh đất này đã bị chiến tranh và nạn đói tàn phá, những viên quan đất Bắc vẫn phải lấy làm kinh ngạc về sự xa hoa của nó. “Từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa khắc chạm, tường xây bằng đá bằng gạch, màn dùng bằng sa bằng đoạn, khí dụng bằng đồng bằng thau, bàn ghế làm bằng gỗ đan gỗ trắc, cốc chén bằng đồ sứ, yên ngựa dây cương nạm vàng bạc, quần áo là lượt, nệm hoa chiếu mây, lấy sự xa xỉ khoe khoang lẫn nhau. Những nguời có chức vị ở dân làng cũng mặc áo đoạn vẽ kiểu bát ty và áo lương, áo sa, áo địa đều là áo mặc thường. Ăn vận áo vải mộc mạc thì cho là đáng hổ thẹn. Ngay đến binh sĩ cũng ngồi chiếu mây, dựa gối xếp, ấp lò hương cổ, uống nước trà ngon, chén sứ bịt bạc, ống súc bằng thau, chén bát đĩa dùng để ăn uống đều là đồ sứ của Trung Quốc. Một bữa ăn ba bát sứ to. Đàn bà con gái vận áo sa, áo lụa đỏ, thêu hoa ở cổ áo. Quen thói hoang phí, coi tiền bạc như rác, thóc gạo như bùn”. “Ở mặt truớc chính doanh về mạn thượng lưu và hạ lưu, phố phường liền lạc, đường cái đi ở giữa, hai bên nhà ngói san sát, cây cối um tùm, thuyền buôn thuyền chở khách đi lại như thoi đưa mắc cửi.”[2]

Không chỉ có những chiếc đồng hồ Tây Dương, ngọc quý cùng gấm vóc bốn phương, Đàng Trong còn có những hội Tao đàn, những cuộc tụ họp văn nhân thi sĩ khắp nơi đổ tới. Chúa Minh từng đem thuyền mời nhà sư Thích Đại Sán đến làm đàn chay quy tập hơn một ngàn bốn trăm sư sãi đàm luận đạo pháp. Mạc Thiên Tứ làm mười bài vịnh Hà Tiên được thi nhân khắp Thuận Quảng, Trung Quốc xướng họa lại. Thơ nhạc và chiến tranh, vàng ngọc và máu đỏ, hòa hợp và phân rẽ, đó là cuộc sống của Đàng Trong, của Gia Định và Hà Tiên. Mọi người đều đang hát khúc ca của mình trong hành trình tha phương dằng dặc, nơi cánh đồng cỏ lau chưa biết đến ngày mai, bờ sa mù không hẹn ngày trùng ngộ.

Một điều gì đó nằm trong bản chất của họ, kẻ sống bên nước và đại dương. Họ mộng mơ và liều lĩnh, họ tin tưởng và bất chấp, họ sống trong tiếng ca và đốt cháy mình trong một vầng dương, nơi sự sống cũng tuyệt đẹp như cái chết.

Bầu trời vô tận mở ra những giấc mơ. Bầu trời chứa mây, gió, những cánh chim, cùng bão tố và bóng tối. Tất cả, là phương Nam. Vô hạn, là phương Nam.

 

Chú thích:

[1] Người dựa tường ngỡ như say, Nhìn qua song cửa đối mặt trăng. Đất trời bao nhiêu độ xuân qua, nước nhà đêm đã chuyển canh ba.

[2] Phủ biên tạp lục



Leave a Reply

(required)

(required)

:) :blush: :D :( :(( ;)) :banh: ;) ::) =)) :)) b-) :meo1: :meo2: :meo3: :meo4: :meo5: :meo6: :meo7: :meo8: :meo9: :meo10: :meo11: more »

Bộ gõ tiếng Việt đã được bật. Bạn có thể gõ tiếng Việt không cần phần mềm trong máy.
RSS feed for comments on this post.


Copyright © Trường An. All rights reserved.