Solitude

Cảnh như thị, nhân như thị

4.
Trường An March 29th, 2022

Nước non ngàn dặm ra đi

Mối tình chi

Mượn màu son phấn

Dấu chân của người Việt trên đất phương Nam được đánh dấu bằng nước mắt nữ lưu. Từ ngày nước mắt công chúa Huyền Trân rơi xuống dòng Nhật Lệ trong cuộc chia ly, những cuộc ra đi vẫn không ngừng tiếp tục. Nước mắt rơi xuống, theo dòng sông ra biển, cuốn về phía Nam, về phương trời thăm thẳm như viễn mộng không hẹn ngày tái ngộ. Không được như công chúa Huyền Trân có thể trở về gửi gắm tháng năm tàn nơi quê hương, bóng dáng họ chìm vào sa mù lịch sử, cuộc đời họ vùi chôn nơi đất lạ, trong bão cát chiến tranh miên viễn dường chẳng bao giờ chấm dứt.

Cuộc chiến ấy có lẽ đã mở ra từ ngày đầu họ Nguyễn đặt chân đến phương Nam. Dải đất Thuận Quảng nho nhỏ nằm lọt thỏm giữa các vương triều cũng đầy loạn lạc với thế lực đang lên ngùn ngụt biên Tây của các quốc gia trẻ Đại Thành[1], Miến Điện, Ai Lao, xung đột lâu đời của các đất nước cổ như Chân Lạp, Chiêm Thành. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đánh dẹp các thế lực cát cứ ở Quảng Nam, cống lễ cho Lê Trịnh để giữ hòa bình cho Đàng Trong, nhưng khi chiến tranh với Trịnh vừa phát, vùng biên giới ngay lập tức rục rịch biến động. Hai người em của chúa Sãi chiếm kho Ái Tử làm phản, năm sau quân từ Ai Lao kéo sang đánh phá. Khi cải cách lại Đàng Trong nhằm thoát khỏi tầm khống chế của Lê Trịnh, chúa Sãi đã phải cân nhắc đến việc ổn định biên thùy phương Nam, tìm kiếm thêm đồng minh. Khi chiến tranh càng leo thang, nhu cầu này càng thêm bức thiết, mở đường cho các cuộc hôn nhân về phương xa của các công nữ họ Nguyễn.

Nếu công nữ Ngọc Hoa gả cho nhà phú thương Nhật Bản chỉ là con gái nuôi của chúa Sãi, thân thế của hai công nữ Ngọc Vạn, Ngọc Khoa lại hiển hách hơn rất nhiều. Cả hai đều là con gái ruột của Chính phu nhân Nguyễn Thị Giai, trưởng nữ Khiêm vương Mạc Kính Điển. Họ Mạc bị Lê Trịnh đánh đuổi khỏi Đông Đô, một nhóm người theo Mạc Cảnh Huống vào Quảng Trị ẩn náu, rồi lại kết thông gia với họ Nguyễn như một tình huống trớ trêu của lịch sử. Để rồi, nhằm chống lại Lê Trịnh, người con cháu của Nguyễn-Mạc trở thành nhân vật đầu tiên mở lối phương Nam.

Một công nữ dòng dõi như Ngọc Vạn phải gả đến phương Nam vì vai trò quan trọng của Chân Lạp với Đàng Trong khi ấy. Họ không chỉ muốn nhờ Chân Lạp khống chế Chiêm Thành cùng các tiểu quốc nhỏ phía Tây, mà nhiều hơn vì mục đích kinh tế. Lúa gạo từ Chân Lạp đóng vai trò rất quan trọng với sự sống còn của Đàng Trong, nơi giàu tài nguyên trên rừng dưới biển nhưng chưa được canh tác mở rộng trồng cấy[2]. Thời chúa Thượng, hai nạn đói xảy ra liên tiếp vì dân chúng nghe theo thương lái nhổ lúa trồng mía và dâu để nấu đường, dệt vải hòng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn, và Chân Lạp cấm xuất khẩu gạo do khó khăn trong nước. Cuối thế kỷ mười tám, Lê Quý Đôn cho biết giá gạo thóc ở Gia Định chỉ bằng một nửa tại Thuận Quảng, “không nơi nào rẻ như thế”. Các thương buôn Nhật Bản buôn bán tiêu thụ tài nguyên đem lại tiền bạc, và Chân Lạp cung cấp thóc gạo nuôi sống Đàng Trong, cơ cấu kinh tế sơ khai của Đàng Trong đã bắt đầu như thế.

Năm ấy, công nữ Ngọc Vạn được gả cho nhà vua Chey Chettha II của Chân Lạp, đem về cho họ Nguyễn không chỉ quan hệ đồng minh mà cả dinh điền Mô Xoài (Bà Rịa) làm nơi trú đóng, và sau đó là Prey Nokor (Sài Gòn) làm trạm thu thuế. Người con gái trẻ tuổi của chúa Sãi được đưa đến thủ phủ Oudong bên bờ Mekong – một địa danh lạ lẫm, cũng như một triều đình xa lạ với nàng. Nhà vua Chey Chettha II khi ấy đã hơn bốn mươi tuổi, có nhiều hơn ba người vợ chính với những người con có thể lớn hơn cả nàng. Nàng trở thành Neak Ang Chov, một cung phi trong hoàng cung Chân Lạp, sinh được một người con gái, và có lẽ cũng chẳng thể ngờ cuộc chiến của đời mình chỉ vừa mới bắt đầu.

Mười năm sau khi kết hôn với Ngọc Vạn, vua Chey Chettha II qua đời, truyền ngôi cho người con trai cả. Không may mắn, vị vua này bị người chú Outey giết chết chỉ sau ba năm lên ngôi. Ngai vàng chuyển đổi cho người con trai thứ hai cũng chỉ tồn tại được mười năm nữa, và Outey đưa con ông ta là Ang Non đoạt ngôi vị. Người con này lấy con gái của Neak Ang Chov, tức Nguyễn Phúc Ngọc Vạn.

Chỉ được hai năm, Ang Non cùng Outey bị con trai thứ ba của vua Chey Chettha II là Ponhea Chan giết chết. Gia tộc Outey cũng bị truy lùng tàn sát, hai con trai của ông ta là Ang So và Ang Tan được công nữ Ngọc Vạn che chở chạy đến lưu vong ở Phú Xuân. Mười sáu năm sau, hai người này được quân đội chúa Nguyễn hộ tống trở lại bắt giết Ponhea Chan, chính thức xác lập quyền khống chế của họ Nguyễn trên đất Chân Lạp.

Bốn mươi năm, năm đời vua chuyển đổi với những cuộc ám sát, giết chóc, xử trị khốc liệt trong hoàng cung dát vàng lộng lẫy. Nhưng phía sau những sự kiện ấy còn là trường tranh đấu lớn hơn rất nhiều. Bốn mươi năm, Đàng Trong cũng đổi thay ba đời chúa với biến động chưa bao giờ ngơi nghỉ. Mười năm sau khi Ngọc Vạn rời khỏi dinh Ái Tử, Quảng Trị trở thành chiến trường với lũy Trấn Ninh cắt ngang bờ Nhật Lệ. Cũng trong năm ấy, vùng đất Phú Yên xảy ra loạn lạc, dẫn đến em gái của Ngọc Vạn là công nữ Ngọc Khoa phải hòa thân đến Chiêm Thành.

Vào những năm cuối của triều chúa Tiên, Chiêm Thành đã tấn công vùng biên, nhà chúa sai một viên tướng là Văn Phong đi bình định, rồi đóng quân trấn giữ Phú Yên. Đến khi chúa Sãi quyết tâm chống Trịnh, Văn Phong lấy quân Chiêm Thành làm phản, và một người con của họ Mạc khác là Nguyễn Phúc Vinh (lấy họ của chúa Nguyễn) được phái đi đánh dẹp, lập dinh Trấn Biên. Trong tình trạng chiến tranh ngặt nghèo nguy hiểm, trận tử chiến sống còn không thể thua ở phía Bắc, chúa đã dùng đến công nữ Ngọc Khoa để đổi lấy hòa bình với nhà vua Chiêm Thành Pôrômê. Nhờ đó, Đàng Trong đã an toàn vượt qua những trận chiến đầu tiên với Trịnh, cuộc tạo phản của Nguyễn Phúc Anh, những nạn đói càn quét qua Thuận Hóa đầu đời chúa Thượng, và cả cuộc chiến với Hà Lan.

Sử sách Việt nói rất ít về xung đột của Đàng Trong với Hà Lan những năm ấy, cũng như vai trò của những nhà truyền giáo phương Tây thường chỉ được cho là chứng nhân qua đường. Nhưng ngoài biển Đông, lực lượng từ phía Tây đang đến, các tiểu quốc tại Nam Dương, Chà Và, Mã Lai cho tới đảo Ma Cao, Đài Loan đều bị đánh chiếm, khống chế. Những thế lực mới như Hà Lan, Anh Cát Lợi mâu thuẫn, tranh chiếm với Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, gây chiến với nhau trên biển. Các đoàn truyền giáo được phái đi khắp nơi, trở thành một phần của kế hoạch thống trị. Những công ty thương nghiệp như Đông Ấn Hà Lan cũng được thành lập như đại diện của nhà nước, tìm kiếm cơ hội bành trướng thế lực. Lợi dụng xung đột của các quốc gia trong vùng, người phương Tây cung cấp vũ khí, tàu thuyền, hứa hẹn sức mạnh để thỏa thuận đổi lấy những cảng biển cùng quyền lợi ngày càng lớn, dần dà thâu tóm, nuốt chửng những tiểu quốc phân tán trong biển Đông.

Tình trạng này cũng xảy ra với Đàng Trong và Đàng Ngoài. Khi chiến cuộc phân tranh xảy ra, người Hà Lan đến kết liên với chúa Trịnh hòng đổi lấy Quảng Nam, dẫn tới quan hệ với Đàng Trong ngày càng căng thẳng. Thương quán Hà Lan ở Đàng Trong bị đóng cửa, hai chiếc tàu cùng thủy thủ Hà Lan mắc cạn bị bắt giữ. Và khi được thả ra, những tàu buôn này không may mắn bị hải tặc tấn công, tất cả đều mất tích, khơi ngòi cho cơn cuồng nộ của người Hà Lan. Không đợi chúa Trịnh ra quân, Hà Lan bắt đầu những cuộc tấn công vào vùng ven biển trả thù, bắt giữ ngư dân, đốt nhà phá kho khắp từ Quy Ninh đến Đà Nẵng. Những cuộc đánh phá này chỉ ngừng lại khi Dũng Lễ hầu Nguyễn Phúc Tần chỉ huy một đội thuyền nghênh chiến đánh đắm tàu Hà Lan ngay trên biển, giết chết thuyền trưởng chỉ huy.

Hai năm sau, ở Chân Lạp, Hà Lan cũng phải rút lui sau một cuộc xung đột lớn với triều vua Ponhea Chan, mất gần hết sức ảnh hưởng ở bán đảo Đông Dương, khiến cuộc xâm lấn của Tây Dương chậm lại hơn một thế kỷ. Nhưng việc này đồng thời cũng đẩy Chân Lạp vào tình thế chênh chao mới. Nhà vua Chey Chettha II khi vừa mới lên ngôi đã nuôi tham vọng giành lại sức mạnh cho Chân Lạp bằng những mối kết liên. Ngoài công nữ Ngọc Vạn, ngài còn có một người vợ từ Nam Chưởng, mẹ của Ponhea Chan. Công ty Đông Ấn Hà Lan và Pháp quốc cũng được đặt thương quán gần thủ đô Oudong dưới triều đại Chey Chettha II, thúc đẩy nền thương mại nhộn nhịp trong thời gian này, và Phnom Penh trở thành một thương phố nườm nượp những đoàn buôn bán từ bốn phương đổ tới. Nhà vua Ponhea Chan lên ngôi sau đó với sự trợ giúp của những thương nhân Hồi giáo từ Mã Lai, bản thân ngài cũng tự theo đạo Hồi – một việc chưa từng có trong lịch sử Chân Lạp.

Dưới sự ảnh hưởng của người Mã Lai, nhà vua Ponhea Chan đánh đuổi Hà Lan, giết chết đại diện công ty Đông Ấn, tiêu diệt hàng trăm binh lính và hàng loạt tàu thuyền trong cuộc chiến kéo dài suốt hai năm. Nền kinh tế Chân Lạp bị ảnh hưởng nặng nề khi thương nhân Nhật Bản và Hà Lan cùng rút khỏi, và thương buôn từ Đàng Trong bắt đầu tràn xuống mua lúa gạo phục vụ cho nhu cầu vùng đất thiếu thốn tài nguyên. Những sự chuyển đổi âm thầm diễn ra, từ Phú Yên đến Mô Xoài, dần sang Prey Nokor.

Trong khi đó, nội bộ triều đình Chân Lạp phân hóa mạnh mẽ với nhà vua duy nhất theo đạo Hồi giữa một đất nước Phật giáo ngàn năm. Ở phía biên Tây, vua Narai của Đại Thành nhờ người Hà Lan trợ giúp cướp được ngôi vị lại rục rịch chuẩn bị cho cuộc tấn công vào Chân Lạp. Ang So, con trai của Outey, thấy thế liền phát động nổi loạn từ phía Thủy Chân Lạp, dẫn đến cuộc phản công của Ponhea Chan đánh đến tận gần vùng biên Đàng Trong. Quân Nguyễn từ phía Bắc tấn công xuống, bắt giữ Ponhea Chan, đưa Ang So thành vua Chân Lạp.

Chiến tranh với Trịnh kéo dài suốt mười năm dưới thời chúa Hiền đang bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, thu hút toàn bộ nhân vật lực của Đàng Trong. Chúa Hiền đã thất bại trong tham vọng hướng về phương Bắc, nhưng ngược lại, lịch sử đẩy bước chuyển biến này về phía phương Nam. Trước Chân Lạp, quân Nguyễn cũng đã thành công đánh lui vua Bà Tấm của Chiêm Thành, lấy được vùng đất Kauthara phía Đông ven biển, nối liền một dải tới Bà Rịa – và sau đó, là Prey Nokor.

Cuộc hôn nhân của công nữ Ngọc Khoa và vua Pôrômê chỉ giữ được sự hòa hảo hai mươi năm. Em trai của Pôrômê là vua Bà Tấm lên ngôi, nhân lúc đại quân Nguyễn đang mắc kẹt trong trận địa Nghệ An mà đánh lên Phú Yên. Quân Chiêm bị đánh lui, phải nhường đất cầu hòa. Tuy nhiên từ đó, cũng không ai còn biết vận mệnh của Ngọc Khoa.

Lại thêm một dấu chân người chìm vào cơn bão cát lịch sử, trận chiến với Trịnh rồi cũng lắng xuống và im tiếng, nhưng ở cực Nam vùng đất, công nữ Ngọc Vạn vẫn kiên trì chống chọi trong cuộc chiến của mình, trong trường tàn sát đẫm máu của hoàng cung Chân Lạp. Nhà vua mới Ang So rồi cũng chỉ tại vị được hơn mười năm, cho đến khi bị con rể của mình ám sát. Người con rể này là con trai duy nhất của Ang Non – và là cháu ngoại của công nữ Ngọc Vạn. Chỉ năm tháng sau, ông ta lại bị thuộc hạ của Ang So giết chết báo thù. Con trai Ang So lên ngôi, mâu thuẫn với cháu Outey là Ang Nan. Bị nhà vua đương thời dùng thế lực của Đại Thành đánh đuổi, Ang Nan chạy đến dinh Thái Khang cầu cứu triều Nguyễn. Quân Nguyễn đưa Ang Nan về lập làm Nhị vương ở Thủy Chân Lạp, để người con thứ hai của Ang So là Ang Sor làm Đại vương tại Oudong. Thế cuộc phân tranh giằng co của Chân Lạp chính thức được xác lập.

Từ vô vàn những đầu dây mối nhợ, vô số những mối quan hệ cùng xung đột, những sợi tơ của lịch sử dần nối lại như dải đất mỏng manh liền mạch từ Quy Nhơn đến tận Cà Mau. Đàng Trong, kể cả Chiêm Thành cùng Chân Lạp, vùng vẫy trong cuộc chiến tồn sinh giữa vô vàn thế lực trong ngoài, rốt cuộc nhận được vận mệnh của mình.

Chiến cuộc giành ngôi ở Chân Lạp mang những dấu ấn rất đặc trưng của nhiều triều đại trong thời kỳ này. Xung động ở phía Bắc từ thế kỷ mười bốn đẩy nhiều tộc người xiêu lạc về phương Nam, rồi họ xây dựng nên những vương quốc của riêng mình, dần trở thành một thế lực đè ép các vương quốc cổ. Sau cuộc thám hiểm của Marco Polo, người Tây Dương phát hiện ra phương Đông, đưa thuyền chiến cùng vũ khí của mình tới. Để tồn tại trong cuộc nội chiến và chống lại các lân bang, những triều đình ra sức kêu gọi, liên hiệp, trao đổi sức mạnh với kẻ bên ngoài. Để rồi, kẻ không đủ sức tập hợp cùng sự khôn ngoan để ổn định quyền lực cho bản thân, nắm giữ vận mệnh, sẽ bị chính những toan tính của mình nuốt chửng, bị xé nát bởi chính những kẻ từng là đồng minh. Bị mê hoặc, thao túng bởi những quyền lực sau màn, thúc đẩy bởi những tranh chấp vặt vãnh, anh em, chú cháu, cha con lao vào cuộc tàn sát không còn đạo lý hay chính nghĩa, biến đất nước thành miếng mồi cho muôn kẻ xâu xé.

Vai trò của công nữ Ngọc Vạn trong triều đình Chân Lạp suốt sáu mươi năm rất mơ hồ, khi mọi phe phái đều có xu hướng đẩy trách nhiệm gây ra loạn lạc cho bà. Nhưng nhìn lại sự khởi đầu, từ khi người chú Outey giết người cháu đầu tiên, mầm mống biến loạn nảy trong hoàng cung Chân Lạp, người con gái của công nữ Ngọc Vạn còn chưa đầy mười tuổi, Đàng Trong còn đang trong cơn hoang mang trước chiến tranh với Trịnh và chúa Sãi vừa qua đời. Những sự kiện xảy ra sau đó, khi Outey tìm cách kết liên với công nữ Đàng Trong để tìm một chỗ dựa rồi soán ngôi người cháu thứ hai, xung đột kéo dài giữa hai phe phái Outey và con cháu vua Chey Chettha II, đều tuần tự như lẽ tất dĩ ngẫu. Khi Đàng Trong trụ vững sau lũy Trấn Ninh, nhìn lại đã thấy con đường phương Nam mở ra trước mắt. Và công nữ Ngọc Vạn, quyền lực đại diện cho Đàng Trong ở hoàng cung Chân Lạp, đã tồn tại qua bấy nhiêu sóng gió, loạn lạc cùng thù hằn, hẳn không chỉ nhờ cậy vào vận may và lòng nhân từ. Một thiếu nữ bơ vơ nơi đất nước hoàn toàn xa lạ cả về tiếng nói, phong tục, một thái phi chỉ có duy nhất cô con gái nhỏ trong muôn vàn tranh đoạt của các thế lực bao quanh, và rồi như cái gai nằm trong thịt những vị vua nối ngôi sau đó. Đàng Trong lâm vào cuộc chiến dài đằng đẵng, cha mẹ, anh em của bà dần dà qua đời, một mình bà ở Chân Lạp không chỉ kiếm tìm đường sống cho bản thân mà còn phải duy trì quan hệ giữa hai nước, duy trì nguồn lương thực nuôi sống vùng đất đang trong chiến tranh. Từ ngày rời khỏi dinh Ái Tử, cuộc đời bà hẳn chưa bao giờ biết đến bình an. Biển cả mênh mông đón bà đi rồi cũng đưa bà vào bão tố bất tận.

Chỉ đến những ngày cuối đời, bà rời khỏi bờ dòng Tonle Sap cuồn cuộn sóng nước, ẩn cư trong núi Chứa Chan nghe tiếng kinh cầu mù khói sương mờ mịt, cuộc đời bà mới có một điểm dừng chân – trong nỗi cô độc tận cùng. Chẳng còn một ai của ngày tháng cũ, khắp thế gian rộng lớn này lại chẳng có chốn dung thân, đến một vài giọt máu con cháu nhỏ nhoi cũng đã bị tiêu diệt. Biển cả đưa bà đi không đường quay lại. Đằng đẵng tháng năm, triều đại nổi chìm, khói súng và máu đỏ, cuối cùng tan thành tiếng mõ gõ vào hư không.

Nhưng có lẽ bà vẫn còn may mắn hơn người em gái. Truyền thuyết Chiêm Thành kể, công nữ Ngọc Khoa lợi dụng lòng yêu thương mà ép vua chặt cây thần kraik phù trợ cho vương quốc, khiến vương quốc sụp đổ. Khi quân Nguyễn tấn công bắt giết nhà vua, Ngọc Khoa cũng bị dân chúng truy lùng, phải tự sát ở Tháp Chàm. Phụ nữ luôn là cái cớ cho những triều đại suy sụp bại vong, truyền thuyết luôn là những câu chuyện đơn thuần không cần lý lẽ, nhưng vận mệnh của nàng công nữ nơi đất địch dường như là lẽ đương nhiên. Vua Pôrômê khi theo Văn Phong tạo phản năm xưa vốn đã không mang thiện ý với triều Nguyễn, chỉ là không còn cơ hội dưới sự khống chế của anh em họ Mạc trấn thủ ngay tại địa đầu, và đồn Mô Xoài chặn phía sau lưng. Sự hiện diện của hai công nữ đã nắm giữ cục diện phương Nam, và người trở thành nơi gánh chịu mọi nguyên do oán hận. Người tan vào cát vàng sóng bạc, không để lại dù chỉ một tiếng thở dài.

Người ta vẫn kể về các nàng công nữ với nhan sắc khuynh thành, với những vương quốc bị các nàng làm sụp đổ, thanh xuân, cuộc đời đã mất đi trong lặng im dằng dặc. Các nàng chẳng bao giờ cất tiếng trong những câu chuyện về mình, chẳng để lại dấu vết nào ngoại trừ cái tên. Trong truyền thuyết, lịch sử được tạo ra bởi các nàng, xoay quanh các nàng, nhưng nhân thế lãng quên, cơn bão chiến tranh bỏ mặc những kẻ không còn vai trò như thế. Rồi Ang Sor và Ang Nan vẫn tiếp tục đánh nhau xẻ đôi Chân Lạp, với hai thế lực Đại Thành và Đàng Trong đứng sau hậu thuẫn. Rồi Chiêm Thành tiếp tục suy yếu và nghiêng đổ trong những cuộc phản công bất thành. Rồi Đàng Trong tiếp tục hùng khởi với những mâu thuẫn dai dẳng ngay trong lòng nó để rồi một ngày vụn nát. Thế giới vẫn cứ chảy trôi, con đường lịch sử vẫn luôn diễn ra theo lý lẽ ngàn đời. Số phận con người trong dòng sông năm tháng cuồn cuộn chẳng hơn bụi cát.

Thì có là gì đâu, nước mắt rơi những hoàng hôn thăm thẳm trông về quê cũ ngút dấu chim chiều. Một cuộc đời giữa muôn vạn con người mà vẫn chỉ là bóng đơn tịch mịch soi đêm thâu vô tận. Những bước chân lảo đảo trốn chạy trong loạn lạc và nỗi tuyệt vọng tột cùng, tay đưa ra chỉ đón được gió qua. Cánh hồng bay tuyệt mù khơi, rơi tan trong bùn đất chẳng một ai hay ai biết. Những câu chuyện truyền thuyết vẫn kể trong ngưỡng vọng hay oán hận, điệu Nam Bình vẫn đang hát khúc tiếc thương phận hồng nhan. Dòng sông vẫn đang trôi và biển vẫn gầm gào mãi trong giấc mộng. Như thế gian vẫn chộn rộn xoay vần quanh sân khấu kịch trường tháng tháng năm năm.

Sáu mươi năm, ngai vàng đổi chủ gần chục lần, hàng trăm cuộc binh biến, chiến chinh lớn nhỏ. Cuối cùng, bà ở đây, ngôi chùa dưới chân núi vắng, nơi ánh trăng cũng không chiếu rọi, chỉ tràn ngập tiếng mưa miên miên không dứt trong màn đêm.

Sáu mươi năm, một kiếp hồng nhan. Khói biếc sông xanh, đốt cháy giữa hồng trần.

Nước non ngàn dặm ra đi. Một lần quay đầu, đã ly xa vĩnh viễn. Hương sắc tàn phai, cũng chẳng thể khóc cho mình. Dấn thân vào gió tanh mưa máu, ngoảnh đầu nhìn lại không một bóng cố nhân.

Chiếc bóng soi trên tường. Tiếng kinh cầu lẫn vào trong đất. Điệp trùng ngày tháng, mất giữa hư vô.

 

 

Hoa bay hoa rụng ngập trời

Hồng tiêu hương đoạn ai người thương hoa.[3]

 

 

Chú thích:

[1] Ayutthaya, tên nước cũ của Thái Lan theo Hán Việt.

[2] Phủ biên tạp lục: “Trước kia sự buôn bán với Đồng Nai được lưu thông, gạo ở Phú Xuân 10 thưng là 1 hộc (ngang 20 bát quan đồng) chỉ giá 3 tiền, có thể đủ cho 1 người ăn 1 tháng, nên dân chưa sốt sắng với việc làm ruộng. Nay ở Quy Nhơn có loạn, Gia Định cách trở, người ta mới lo thiếu lương thực.”

[3] Hồng lâu mộng



Leave a Reply

(required)

(required)

:) :blush: :D :( :(( ;)) :banh: ;) ::) =)) :)) b-) :meo1: :meo2: :meo3: :meo4: :meo5: :meo6: :meo7: :meo8: :meo9: :meo10: :meo11: more »

Bộ gõ tiếng Việt đã được bật. Bạn có thể gõ tiếng Việt không cần phần mềm trong máy.
RSS feed for comments on this post.


Copyright © Trường An. All rights reserved.