Solitude

Cảnh như thị, nhân như thị

2.
Trường An November 4th, 2021

Câu chuyện về phương Nam bắt đầu, có lẽ là từ chàng trai nọ.

Không phải là vua chúa, tướng lĩnh hay các đội quân, mà là chàng chăn trâu trong núi. Áo thô khăn lông, trong vẻ cứng cỏi phong trần lại man mác nét mong manh hoang hoải, ánh mắt chứa cả tang thương lẫn kiên cường, có cả trời sao lấp lánh lẫn biển cả cô liêu. Trong lòng chứa bao dung dịu dàng lẫn quyết tuyệt tàn nhẫn, trong tim có cả tiếng ca và kiếm đao. Trong mộng của người là cả bầu trời vô tận lẫn vực sâu vạn trượng.

Người đã từng đứng trong phong quang vô hạn trước sân rồng Đông Đô, cũng từng trải qua nỗi nhục nhã không chịu đựng nổi khi bị đánh đuổi trước muôn ánh mắt thế gian. Người đã từng nhận được tình yêu và sự bảo bọc êm đềm tha thiết nhất, cũng từng trải qua tình cảnh cô độc không chốn dung thân phiêu bạt đến chân trời. Người đã từng cam lòng để thanh xuân vùi chôn nơi rừng sâu vực thẳm, lại cũng là người ghi dấu muôn đời trong cuộc chiến trăm năm. Người tạo nên khúc ca điệu múa, cũng tạo nên thành lũy và binh pháp. Người hát lên bài ca độc nhất vô nhị trên vũ đài lịch sử ngợi ca tự do và sự tái sinh, đồng thời cũng là khúc chiêu hồn đầy mất mát cho những ngây thơ đã chết và những giấc mộng đẩy con người vào một cuộc trường chinh mê vọng.

Lịch sử thường được miêu tả bằng các đội quân, nhưng chứng nhân cho những rung chuyển vi tế từ nền tảng của nó là tầng lớp dân chúng bình thường nhất. Cuộc đời của Đào Duy Từ, người đi lên từ tận cùng bùn đất của xã hội, là tấm gương soi của cả một thời đại như thế.

Ngày đầu năm Đào Duy Từ sinh ra, chiếc lư hương khấn trời rơi khỏi tay vua Lê giữa đàn Nam Giao. Khi ấy, cuộc chiến của Lê - Mạc đã kéo dài hai mươi năm tròn, vùng Thanh Nghệ “đồng ruộng bỏ hoang, không thu được một hạt thóc, dân đói to lại thêm bệnh dịch, chết đến quá nửa”[i], người sống thì xiêu dạt ra Bắc vào Nam, toàn hạt tiêu điều. Cũng năm ấy, tham vọng của họ Trịnh lộ rõ khi Trịnh Tùng đuổi giết vua Lê Anh Tông, lập người con mới năm tuổi làm vua, đoạt lấy hoàn toàn quyền bính.

Suốt khoảng thời gian tuổi thơ Đào Duy Từ là chiến loạn chưa bao giờ nguội tắt trên vùng đất Thanh Nghệ. Từ khi vua Lê được quân đội Nguyễn Kim đưa về mưu phục hưng cơ nghiệp, Thanh Nghệ và vùng phụ cận trở thành chiến trường chính cho các cuộc giao tranh. Sau những cuộc tấn công của quân Trịnh lên phía Bắc, họ Mạc mở những chiến dịch thanh trừng lớn càn quét toàn vùng nhằm triệt tiêu căn cứ và tiếp viện của nhà Lê, cướp phá hủy hoại cả những khu vực dân cư. Để đối phó lại, vùng Thanh Hoa được tướng Trịnh Tùng tổ chức thành một thành lũy liên hợp sản xuất và chiến đấu, tiếp ứng bảo vệ cho nhau. Đến khi Khiêm vương Mạc Kính Điển qua đời, chiều gió của trận chiến dần thay đổi quay về phía họ Trịnh. Ở tuổi trưởng thành, Đào Duy Từ hẳn nhìn thấy Trịnh Tùng thống suất binh lính đánh chiếm lại Thanh Hoa bằng những cuộc giao tranh khốc liệt của những đội quân đến chục vạn người. Năm Đào Duy Từ hai mươi tuổi, Tiết chế Trịnh Tùng đem mười vạn quân của bốn trấn, bốn vệ, năm phủ tiến đánh thẳng một đường tới Đông Đô. Thành Đông Đô bị châm lửa đốt “khói bụi kín trời” trong cuộc thảm sát xác chết chất đầy hào rãnh, thành Đại La dài hàng ngàn trượng cũng bị san phẳng thành đất bằng. Chiến tranh lan toàn miền Bắc khi quân Trịnh truy đuổi họ Mạc suốt ba năm, dìm vùng đất này trong các cuộc xử trị, tàn sát đẫm máu. Vua Lê được đón về từ Tây Đô, nhã nhạc vang lừng ngày khánh tiết vọng trên khu thành tiêu điều sạch không, ngổn ngang hành tại xây vội ngả nghiêng cờ xí như lòng người tan tác. Truyền thuyết kể, năm ấy cũng là lúc Đào Duy Từ đặt chân đến Đông Đô chuẩn bị cho kỳ thi Hội đầu tiên của triều Lê Trung Hưng, với bài văn được ngợi ca hay nhất trường thi Thanh Hoa.

Người thanh niên năm ấy ôm chí ra chính trường với tâm thái gì? Chàng lớn lên trong chiến tranh, trong những cuộc chiến bạo tàn, trên vùng đất Thanh Hoa vẫn chìm ngập trong đói nghèo, thiên tai và chết chóc. Cuộc chiến vẫn diễn ra, khi Thanh Hoa nhiều năm “lụt đến bảy lần”, liên tục xảy ra nạn đói và dịch bệnh. Vô số cuộc giao tranh, vô số sự kiện, vô số người chết đi như lá cỏ vô nghĩa vô danh suốt bốn mươi năm ròng. Con đường chàng đến Đông Đô – cái đích mà mọi kẻ ước mơ – vẫn là dải đường nát bươm chưa tan mùi máu tanh. Kinh kỳ mà họ hướng tới, cái quá khứ huy hoàng mà họ nói về, những dư vọng của ngày tháng cũ, chỉ còn là tro tàn xiêu đổ, bị chính họ hủy hoại tan tành. Và chính những giáo điều cao cả như trung quân ái quốc cũng trở thành trò dối lừa chót lưỡi đầu môi với những ông vua sẵn sàng bị quyền thần hạ sát như con rối hết vai, trước một triều đình lẳng lặng cúi đầu, những quan tướng chỉ chăm chăm tìm mọi cách đoạt lấy quyền lực, lợi ích cho bản thân. Và ngoài kia, chiến tranh vẫn còn đang tiếp tục. Triều đình của họ Mạc bị Trịnh truy lùng tàn sát, những cuộc chém giết ghi con số hàng trăm hàng ngàn mỗi đợt ra quân. Loạn lạc lan toàn miền Bắc với những toán cướp đông hàng trăm hàng ngàn hoành hành giữa nhiễu nhương kinh động. Hơi thở chết chóc vẫn bao phủ nơi nơi trong tro than và tai dịch, có những vùng người chết đến một nửa, một phần ba. Thời kỳ cai trị của họ Trịnh được dựng xây trên những tao tác của lòng người, những chia rẽ, oán thù và biến loạn chưa từng ngơi nghỉ kéo dài gần cả thế kỷ.

Có thể là chàng vẫn còn ngây thơ. Trong hoàn cảnh ấy, trong một trường đồ sát bi thảm của lịch sử, một người con mồ côi nhà ca kỹ như chàng vẫn có thể bình an trưởng thành, được đi học chữ đọc sách, tất cả nhờ tình yêu bao la của mẹ. Cha chàng đã mất trong nạn đói năm Đinh Sửu quét qua Thanh Hoa. Mỗi năm mùa thu hoạch, quân Mạc lại đến cướp phá nhằm triệt hạ nguồn lương cung cấp cho Lê Trịnh. Mẹ đã nuôi chàng lớn lên giữa bão lũ cuồng quay, nạn dịch, thiên tai cùng nhân họa, lại có thể cho chàng một mộng ước lớn lao vượt lên trên hoàn cảnh, thân phận lẫn cả thế thời. Xướng ca được coi là tầng lớp thấp nhất trong xã hội, có đi học cũng chẳng để làm gì, nhưng để bảo vệ giấc mơ của con, mẹ đã trăm phương ngàn kế tìm cách che giấu xuất thân cho chàng. Và chàng quá ngây thơ để tin rằng có thể vĩnh viễn giấu giếm được thân phận mình một khi đã xuất hiện trên vũ đài chính trị, trong một triều đình và thời đại đầy mùi máu tanh. Cũng có thể, xuất thân của họ Trịnh từ một người chăn ngựa như Trịnh Kiểm – và thời đại của những viên tướng lập thân bằng chiến trận, cũng khiến cho người ta mơ.

Nhưng canh bạc này, mẹ con chàng đã thua ngay từ khi khởi đầu. Dù triều đại, vua chúa, vương tướng đổi thay, cái cốt lõi ngàn đời kia vẫn chưa từng thay đổi. Thành Đông Đô dù tan nát đến tận cùng đón vị vua mới lên ngôi, nhận vị chúa có cha là người chăn ngựa, vẫn từ chối vị Á nguyên xuất thân từ gia đình ca kỹ. Chàng bị lột mũ áo đuổi về trong tiếng chê mắng nhục mạ của muôn người, mẹ chàng tự vẫn trong nỗi tuyệt vọng cô độc thê lương. Cuộc đời không phải là sân khấu để ngợi ca vẻ đẹp và kỳ tích, giấc mộng vỡ tan trong những sự phản bội và sự thật đắng cay.

Nhưng có lẽ chàng chưa từng, chưa bao giờ cảm thấy xấu hổ với thân phận mình, cái định mệnh nghiệt ngã mà mình phải gánh chịu. Rất nhiều năm sau này, khi đã trở thành thượng tướng trong triều Nguyễn, Đào Duy Từ lại dạy cho ca sinh triều đình múa hát. Sau này, trải qua bao bể dâu, trôi dạt đến vùng đất xa lạ chẳng ai còn biết xuất thân ai, Đào Duy Từ vẫn kể về bản thân mình như nhất, không từng giấu giếm, cũng chẳng có ý định che giấu. Âm nhạc vẫn chảy trong huyết quản của người, dù bao năm tháng qua đi, dù có phiêu bạt đến góc bể chân trời. Có lẽ chàng vẫn hát những bài ca tự mình sáng tác ấy qua hết một tuổi thơ khốn khó mà đơn thuần, qua hết những con đường dằng dặc cô đơn tịch mịch, những tháng ngày heo hút quạnh hiu, và cả trên tường lũy cắt ngang đất nước. Một đứa trẻ con nhà ca kỹ nhưng vẫn ngẩng cao đầu chăm chỉ học hành trong chốn làng quê nặng nề định kiến, một thanh niên chăn trâu bơ vơ không nơi nương tựa vẫn lặng lẽ kiếm tìm cơ hội nơi xứ lạ, và khi tuổi đã xế chiều, người vẫn buộc vị chúa trên muôn dân kia phải thay triều phục đón mình vào cửa lớn. Thân phận, dòng máu, tất cả những gì tạo nên người đều chẳng phụ thuộc vào sự đánh giá của xung quanh. Người sẽ hát bằng tiếng ca được truyền lại từ người cha kép hát, người sẽ làm thơ bằng những âm điệu dịu dàng như lời mẹ ru tháng năm thơ bé, và người sẽ sống giữa đất trời này bằng giá trị của bản thân duy nhất, dù là chốn vực sâu hay núi cao, dù giữa phù hoa hay nơi điền dã.

Người lớn lên giữa trận chiến dằng dặc biến cả nhân gian thành một cuộc bể dâu phù du vô nghĩa tận cùng, nơi những thuyết lý, đạo nghĩa phủ màu máu đỏ của tham vọng, sự tàn nhẫn của cả trời đất lẫn con người như lẽ đương nhiên. Trong một chuỗi sụp đổ khôn bề cứu vãn của mộng ước cá nhân và tập thể, và con người sống giả trá đớn hèn cũng như một lẽ đương nhiên. Để rồi, thế gian ấy không còn quan trọng đối với người. Sự kiêu hãnh của người, sự tự tôn của người, cũng đương nhiên như nhật nguyệt sáng rọi giữa đất trời. Sự kiện xảy ra tại trường thi năm đó đập vỡ hy vọng cũng như níu giữ duy nhất của người với những gì ràng buộc mình – Có thể là cái chính thể ấy, sự phân tầng nọ, hay thể chế xã hội kia, hay là toàn bộ triều đình mang vỏ Lê cốt Trịnh vừa được phục dựng tại thành Đông Đô sụp đổ, điều mọi người vẫn được dạy để tôn thờ như lẽ sống, như một lẽ thường nhiên duy nhất trên đời.

Sau khi chôn cất mẹ, Đào Duy Từ đi vào Nam. Nhưng chàng vốn không theo chúa Nguyễn, chàng đi biền biệt, đến địa đầu của đất Việt thời gian ấy – Quy Nhơn. Có lẽ chàng chỉ muốn đi đến nơi xa nhất có thể tới, và dừng chân giữa núi rừng hoang hoải những tàn tích Chiêm Thành, mịt mù khói sương di hận. Nơi này, chàng không tìm kiếm nữa, chàng đứng lại và khoác lên chiếc áo vải thô, cầm cây roi nhỏ, làm một người chăn trâu trong núi.

Chàng trai trẻ nghĩ gì trong những năm tháng nọ? Đành lòng ném bỏ một đời tài hoa vào núi rừng, hay chỉ muốn vùng thoát khỏi vũng lầy cuộn xoáy của lịch sử lẫn lòng người? Chàng chọn phương Nam có lẽ cũng có lý do: Cùng khoảng thời gian ấy, chúa Nguyễn Hoàng sau tám năm ở Đông Đô bỗng nhiên một ngày đưa quân bỏ trốn về Thuận Hóa. Chúa Trịnh nghi ngờ Nguyễn làm phản, đưa vua Lê chạy về Tây Đô để phòng thủ. Sự kiện này làm rúng động khắp nơi, đánh dấu lần cuối cùng chúa Nguyễn đặt chân về phương Bắc. Bề ngoài tuy vẫn tỏ ra hòa hảo, nhưng Trịnh Nguyễn từ ngày ấy đã ngấm ngầm thấu tỏ đối phương, lập thế không đội chung trời. Đông Đô cũng phân hóa mạnh mẽ với những quan tướng trốn theo chúa Nguyễn sau đó. Phương Nam, đó dường như là lựa chọn cuối cùng của họ khi không thể chấp nhận quyền bính của chúa Trịnh, khi những niềm tin và sự trung thành của họ đã đổ vỡ, bị chà đạp đến tột cùng.

Địa đầu phương Bắc đã bị họ Mạc chiếm cứ với cuộc chiến và những oán thù cũ kỹ. Phương Nam mở ra một vùng đất chưa từng biết tới với những kẻ phiêu lưu trôi dạt không còn chốn dung thân. Sau cuộc bình định của vua Lê Thánh Tông, đất của nước Việt mở rộng đến Quy Nhơn, được các quan tướng tới trấn nhậm đóng giữ. Nguyễn Hoàng cũng vốn là một viên tướng được phái đến trấn thủ Thuận Hóa, Quảng Nam để kiềm chế họ Mạc phản công, sau dần được tôn xưng thành chúa Tiên. Quyền hành thực sự tại Quy Nhơn - lúc này tên là phủ Hoài Nhân - nằm trong tay Khám lý Trần Đức Hòa, được tôn gọi Cống quận công. Họ Trần ba đời làm quan nhà Lê, và Trần Đức Hòa đã đến ra mắt Nguyễn Hoàng sau khi chúa bỏ trốn khỏi Đông Đô trở về Thuận Hóa, như một cách bày tỏ lòng thần phục của phủ Hoài Nhân với vị chúa mới của Thuận Quảng.

Phủ Hoài Nhân là kinh đô cũ của nước Chiêm Thành với những phố Nước Mặn, đầm Thị Nại, thành Đồ Bàn và trung tâm giao thương của vùng núi phía Nam dãy Trường Sơn – bấy giờ được gọi là Kẻ Mọi. Hàng hóa từ những sắc dân trong núi được tập trung vào các nguồn để đưa tới phố thương Nước Mặn của thương nhân người Đường, rồi chuyển đến Thị Nại để buôn bán đi khắp nơi. Phủ Hoài Nhân tấp nập người đến kẻ đi, phong phú sắc dân cùng phong tục, cũng là một vùng địa đầu xa cách với quyền lực trung ương mang những phức tạp rất đặc trưng. Trong những ồn ã ấy, Đào Duy Từ chọn một góc khuất để dừng chân. Nhưng có lẽ trong chốn thẳm sâu đồng cỏ, chàng vẫn có thể nghe được âm vọng từ bốn phương.

Một thư sinh từng dự bảng đề danh như Đào Duy Từ lại phải làm kẻ chăn trâu cho một phú ông nơi làng quê Hoài Nhân, hẳn là sự chẳng đặng đừng. Nhưng cũng có thể đó là lựa chọn của chàng thanh niên ấy, người đã cười cả chúa Nguyễn rằng “chúa đi buôn”. Chàng vẫn luôn là chàng, con hát thì sao mà kẻ chăn trâu thì đã thế nào. Đại Nam liệt truyện kể, nghe nói phú ông đặt tiệc rượu thơ khoản đãi các danh sĩ, Đào Duy Từ cầm roi chăn trâu chạy về, họp cùng khách mời bàn luận kim cổ bách gia. Tài năng của chàng chăn trâu khiến phú ông lấy làm lạ, liền giới thiệu cho Khám lý Trần Đức Hòa. Hình ảnh một chàng trai áo thô chân trần, tay vẫn cầm chiếc roi tre thản nhiên xuất hiện giữa một đám đông danh sĩ cũng kinh động không kém vị thượng tướng vừa dàn đội hát múa vừa chỉ huy ngàn dặm trong cung phủ họ Nguyễn sau này. Một con người, một tài năng một khi xuất hiện sẽ chói lòa giữa muôn vạn vật, không ai có thể chối từ khâm phục, bất chấp chàng là ai, như thế nào.

Từ phú ông vô danh của Hoài Nhân đến Trần Đức Hòa, rồi chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, mọi quan tướng của họ Nguyễn sau đó, và cả trăm ngàn năm tiếp theo, tài năng của Đào Duy Từ là điều độc đáo nhất để nói về người, bất chấp mọi phe phái cùng tranh luận của lịch sử. Một nhân vật xuất hiện tựa hồ từ khói bụi của nhân gian, chế tạo nên cả một trường lịch sử “rạch đôi sơn hà” như thể điều khiển một sân khấu vĩ đại. Người không được gắn liền với những chữ như “chiến công” hay “anh hùng”, người đơn giản là một kỳ tích khó có thể dùng lý lẽ nào để diễn giải.

 

Nhưng dù Trần Đức Hòa coi trọng Đào Duy Từ, sự yên bình của phương Nam thời gian ấy không cho cơ hội để chàng biểu hiện tài năng. Xứ Thuận Quảng sau khi chúa Nguyễn Hoàng bình định loạn lạc và đánh bại cuộc tấn công của quân Mạc đã được gần năm mươi năm bình yên. Người xiêu dạt từ phương Bắc tìm đến vùng đất của chúa Nguyễn để lánh nạn đói và chiến tranh, dần dà Thuận Quảng trở nên đông đúc phồn thịnh. Mãi đến khi giới thiệu Đào Duy Từ cho chúa Sãi vào hơn hai mươi năm sau, Trần Đức Hòa vẫn chỉ cho biết đó là “thầy đồ nhà tôi”. Khi ấy, Đào Duy Từ đã hơn năm mươi tuổi, một thanh xuân và gần cả cuộc đời trôi qua trong lặng lẽ.

Sự biến của phương Nam chỉ xảy ra khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng qua đời. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên lên ngôi đúng vào lúc ở phương Bắc, chúa Trịnh Tùng lại giết vua Lê Kính Tông trong một cuộc tranh đoạt quyền lực mới. Trong nội bộ họ Nguyễn, những âm mưu tranh giành cũng đã bắt đầu khởi phát, anh em của chúa Sãi gửi mật thư cho quân Trịnh tấn công Nhật Lệ. Chúa Sãi bất mãn bỏ nộp thuế cống cho triều Lê Trịnh. Trịnh Tùng mất, Thế tử Trịnh Tráng kế thừa ngôi chúa, liên tục phái sứ giả đến đòi thuế và mời Nguyễn Phúc Nguyên về Đông Đô. Xung đột dằng dai bấy nhiêu năm bùng nổ, chúa Trịnh và vua Lê đem quân thủy bộ tiến đánh. Quân Nguyễn đã cầm cự trong một thế trận phần nhiều bất lợi, chỉ bằng mưu lược phản gián của Nguyễn Hữu Dật mà khiến Trịnh lui quân.

Lúc này, nguy cơ dầu sôi lửa bỏng đã đặt rõ trước nhóm người họ Nguyễn. Thuận Quảng chỉ là một dải đất nhỏ nhoi so với Bắc Hà, thua kém hoàn toàn cả về nhân lực vật lực. Họ Trịnh qua nhiều lần bị từ chối hẳn cũng đã rõ ý định phản kháng của chúa Nguyễn, sẽ tìm mọi cách tiêu diệt thế lực đóng giữ phương Nam. Và lựa chọn vừa đúng khi đoàn quân Nguyễn trở về từ chiến trận, Trần Đức Hòa tiến cử Đào Duy Từ cho chúa Sãi.

Đối với vị “thầy đồ” vô danh nhà Khám lý Hoài Nhân, chúa Nguyễn Phúc Nguyên hẳn cũng chẳng mấy coi trọng. Đào Duy Từ đến phủ thấy chúa chỉ mặc thường phục đứng ở cửa ngách chờ, liền đứng lại không tới chào, buộc vị chúa phải chỉnh tề mũ áo đón ông ở cửa lớn. Cũng như mọi người trước đó, chúa Sãi nhanh chóng bị thuyết phục trước tài năng của Đào Duy Từ, phong ông làm Lộc Khê hầu, xem ông là tri kỷ. Cả hai có cùng một mục đích: Tách khỏi triều đình Lê Trịnh, lập thành “đại nghiệp”.

Khi vừa mới lên ngôi, Nguyễn Phúc Nguyên đã cho con trai trưởng đến trấn thủ Quảng Nam, chia đặt lại tất cả quan chức trong vùng, không còn theo tam ty do triều Lê sắp xếp. Ý định độc lập của vị chúa không đợi đến khi Đào Duy Từ tới mới hình thành, nhưng đã vấp phải những phản đối cả công khai lẫn âm thầm trong chính triều đình của mình. Hai người em của Nguyễn Phúc Nguyên gọi Trịnh vào tấn công, và sau cuộc đụng độ đầu tiên, có những viên quan thân cận nhà chúa vượt biển bỏ về với Trịnh. Ở Phú Yên, viên trọng tướng trấn giữ kéo theo Chiêm Thành làm phản. Sự chia rẽ đã hình thành, và ai nấy cũng nhận ra sự tồn tại mong manh của đội quân phía Nam trước sức ép từ phương Bắc. Đào Duy Từ liền lập kế hoãn binh giả nhận sắc phong của họ Trịnh, lấy được thời gian vài năm cơ hội để xây dựng nên vũ khí lợi hại nhất của họ Nguyễn: Lũy Trấn Ninh.

Trong năm đó, quân Nguyễn theo lệnh Đào Duy Từ đánh chiếm lấy miền Bắc Bố Chính, tiếp tục xây dựng lũy Nhật Lệ và Đâu Mâu thành một hệ thống lũy Thầy cắt ngang miền đất “cổ chai” Quảng Trị, che kín biên giới phương Nam. Quân đội miền Nam bắt đầu làm phép duyệt dân tuyển lính, chuẩn bị cho chiến tranh.

Mọi kế hoạch, hành động của Đào Duy Từ đều mạnh mẽ, kiên quyết, dứt khoát như thể ông đã dự tính tất cả từ rất lâu, rất lâu trước đó. Hệ thống lũy Trấn Ninh dựa vào thế đất mà dựng, lấy núi sông làm vũ khí, như thể Đào Duy Từ đã từng đến nơi này đo đạc xem xét hàng trăm ngàn lần. Sự cương quyết của Đào Duy Từ thậm chí còn hơn cả chúa Sãi, chính ông phải nhiều lần thuyết phục vị chúa trước những khó khăn và ngã lòng. Cuộc chiến trong lòng ông vốn đã được xác quyết, rõ ràng hơn bất kỳ ai, hơn cả các vị chúa, tướng lĩnh, đội quân với toàn bộ gánh nặng và tham vọng của họ.

Lý do của điều này có lẽ là oán hận của Đào Duy Từ với chuyện cũ, hay lòng tri ân của ông dành cho chúa Nguyễn? Nhưng ông không thể hiện những điều đó, như ông bao giờ cũng thản nhiên thừa nhận mình là con nhà kép hát, hoàn toàn chấp nhận thân phận và cuộc đời mình. Ông đã không nôn nóng tiếp cận triều chúa Nguyễn trong suốt gần ba chục năm dài, dù Trần Đức Hòa vốn thân thiết với Nguyễn Phúc Nguyên đến mức được chúa gọi là “nghĩa đệ”. Hơn nửa đời ông sống lặng yên ở vùng đất biên thùy tiếp giao những sóng người, nhớ về một tuổi thơ đau đớn dữ dội giữa chiến tranh và loạn lạc. Ký ức của ông, có lẽ cũng là ký ức của toàn bộ con người đã xiêu dạt đến phương Nam ngày ấy.

Nơi phương Bắc ngày ấy, dù họ Mạc đã bị đẩy về Cao Bằng vẫn có thể kích động những cuộc phản công với hàng vạn người hưởng ứng. Trịnh Tráng đã lên ngôi giữa những tranh chấp lại đốt cháy Đông Đô thành tro bụi. Triều đình Lê Trịnh tồn tại trong một vùng đất đầy mâu thuẫn khiến vua Lê thường xuyên phải chạy về Tây Đô trốn lánh. Triều đình ấy không thể có khả năng quản lý đất phương Nam xa xôi – nơi cũng đang bị đe dọa bởi những cuộc tấn công của Chiêm Thành, những âm mưu nhỏ lẻ của các thổ mục trong rừng núi và cả những thế lực đang lên ngoài biên. Năm mươi năm bình an mà chúa Tiên cho họ đủ quý giá để họ đứng về phía họ Nguyễn, dù lần này cái giá phải trả lại tiếp tục là chiến tranh và mạng sống. Lũy Trấn Ninh ngăn chiến loạn dừng lại ở Bố Chính, đem toàn bộ đau thương trút ở hai bờ Nhật Lệ. Làm sân khấu biểu diễn cho những tham vọng, cuồng say, tàn nhẫn của quyền lực cùng hận thù. Và những vùng đất được nó bảo vệ sẽ bình an.

Thành lũy này hẳn là điều người đã mơ tới trong suốt tuổi thơ trước những cuộc tấn công cướp phá theo mùa của quân Mạc, trước những đợt lũ lụt nhấn chìm Thanh Hoa vào nạn đói khốn quẫn suốt năm trường. Thành lũy này hẳn là điều người đã mơ tới khi quay lưng rời khỏi quê hương vào một cuộc lưu lạc vĩnh cửu. Và người mơ tới nó, cả trong những năm tháng an bình giữa cỏ lau và núi rừng, khi đã có trong tay những điều muốn bảo vệ chở che. Do đó, người quyết tuyệt hơn bất kỳ ai, rõ ràng hơn bất kỳ ai trong cuộc chiến không chốn quay đầu. Thế giới này vẫn tiếp diễn trong lẽ thường nhiên tàn khốc không thể đổi thay, tất cả những gì con người nhỏ bé có thể làm chỉ là tự xây thành lũy bảo vệ lấy mình.

Ngay sau cuộc đụng độ đầu tiên ở lũy Trường Dục, nơi quân Trịnh bị chặn đứng, đánh tan thảm bại, Đào Duy Từ và chúa Sãi lần lượt nối nhau qua đời. Họ không thấy chiến tranh cùng đế chế do mình tạo thành. Khi đó, điều họ ôm giữ trong tim vẫn chỉ là một giấc mơ.

Người tạo ra chiến tranh và những bài ca. Người tưởng chừng vĩnh viễn là chàng thanh niên năm nào với ánh sao trong mắt và lòng dịu dàng vô hạn với cuộc đời, với một ước mộng đi qua bao năm tháng. Bầu trời vời vợi trên cao và biển xanh ngút ngát ngoài xa. Cỏ cây vẫn vươn chồi trên phế tích và những bài ca vẫn vang mãi qua tro tàn cùng hủy hoại. Cái chết và sự sống song hành trong một thời đại vô nghĩa phù du.

Những giấc mộng bơ vơ bay theo gió, mọc thành đồng cỏ ngút ngát dưới tà dương.

 

Chú thích:

[i]  Trích Đại Việt sử ký toàn thư



One Response
Lan

Ui, thankx ban Ast viet ve Dao Duy Tu, Minh van thich ong ay tu lau :meo5:

Leave a Reply

(required)

(required)

:) :blush: :D :( :(( ;)) :banh: ;) ::) =)) :)) b-) :meo1: :meo2: :meo3: :meo4: :meo5: :meo6: :meo7: :meo8: :meo9: :meo10: :meo11: more »

Bộ gõ tiếng Việt đã được bật. Bạn có thể gõ tiếng Việt không cần phần mềm trong máy.
RSS feed for comments on this post.


Copyright © Trường An. All rights reserved.