Solitude

Cảnh như thị, nhân như thị

1.
Trường An November 4th, 2021

Người hay bảo, ngàn năm chỉ có ánh trăng vẫn là như cũ. Nhưng trên thị thành này, tưởng chừng trăng cũng chỉ là một ảo mộng do nhân gian tự dệt. Mọi người nói về thành phố này như thể tả bóng trăng lúc năm xưa tuổi nhỏ, ánh sáng trong ký ức đi mãi không bao giờ tới, cũng lại chớp mắt đã đổi thay. Trăng vẫn ở đó, vẫn dường như quen thuộc thân thương bao đời, chiếu nên bao truyền thuyết cho chính mình trong thứ ánh sáng phù du chớp tắt phản chiếu từ vũ trụ. Người hay nói ‘hoa trong gương, trăng trong nước’, nhưng thực sự trăng trên trời cao kia trong mắt người đã chính là một ảo tượng tồn hiện chỉ tại một sát na ngắn ngủi, dùng sự phù du bất diệt để soi tỏ bóng đêm.

Mộng chiếu mộng trên thị thành này.

Mộng trôi theo nước, bàng bạc muôn màu. Dòng sông làm ranh giới tự nhiên của ba tỉnh cắt đôi Sài Gòn và phần trấn thị phía Bắc, bao quanh ôm lấy Sài Gòn trong một vùng mộng. Sông không xanh, sông chưa bao giờ xanh, sông chỉ phản chiếu bầu trời, ánh dương và bóng trăng. Những đêm cô tịch xa xưa, ánh trăng sẽ phản chiếu trùng trùng điệp điệp trên đầu con sóng tối, biến cả dòng sông thành một cõi mộng huy hoàng, và vùng đất nằm trong vòng tay của nó thì thầm hát lên bài ca của những giống loài phù du. Sau này, dù ánh đèn đã trải nơi nơi, tiếng vang cơ khí đã phủ lấp mọi nẻo, thứ có thể bao phủ được dòng sông cũng chỉ là ánh trăng, và bài ca của mộng mới là thứ âm thanh chân thực nhất của nơi đây. Muôn vàn thanh âm, muôn vàn dáng vẻ, muôn vàn câu chuyện lẫn định danh, nhưng cũng vẫn như bài ca của loài phù du, chỉ là một trường dư ảnh lướt qua trong khoảng thời gian ngắn ngủi của riêng những phận đời, rơi vào thênh thang vô tận. Phố thị ồn ào tấp nập choáng ngợp đèn hoa, phố thị trầm mặc nỗi cô tịch vô biên.

Ngay cả trong những hình ảnh cũ, Sài Gòn vẫn vô cùng xa lạ với những người hiện tại sống ngay trong lòng phố. Ai có thể nhận ra đồng Tập Trận mênh mông mồ hoang, chiếc cầu gỗ bậc thang bắc qua dòng sông bên thương phố, khu doanh trại sở đồn trải dọc kênh Bến Nghé, thậm chí cho tới cả những con đường nhỏ êm đềm giữa những bức rào cây? Người hay nói thương tiếc Sài Gòn “ngày cũ”, thực ra chỉ là thương tiếc ký ức của chính mình. Mộng của người năm xưa tháng nọ chỉ là một bóng ảnh thoáng qua của Sài Gòn. Giấc mộng Sài Gòn, luôn luôn chỉ hiện hữu ngay trong khoảng thời không độc nhất ấy, vĩnh viễn không thể tìm lại được.

Sài Gòn, thành thị to lớn nhất của phương Nam, chính là tòa lâu đài trên mây của lịch sử. Sài Gòn, thành thị nằm trong vòng vây của dòng sông, nơi bão giông của trời hầu như không bao giờ đến, như một đóa hoa ánh trăng lộng lẫy nở ra giữa trung tâm của giông bão ba đào. Dằng dặc tháng năm, phù du phận người, rồi đến bụi tro tàn tích cũ cũng đã trôi theo dòng nước, ai nhớ ai quên.

Thuở xa xưa, đã từng có một quốc gia cổ tồn tại ở miền đất phương Nam, và rồi quốc gia ấy mất đi mà không ai biết lý do. Dấu tích của cả một nền văn hóa chỉ còn lại trong vài trang sách ký của người từng tới, sót lại đôi ba cổ vật nằm sâu trong đất ngàn đời. Năm tháng trôi qua trong cỏ lau, gần ngàn năm sau, vùng đất bấy giờ được gọi là Thủy Chân Lạp trở thành vùng đệm giữa hai nước Chân Lạp và Chiêm Thành, tiếp tục chứng kiến các cuộc chiến tranh. Khi kết giao với chúa Nguyễn của Nam Hà, vua Chân Lạp cho người Việt theo công nữ Ngọc Vạn đến vùng Biên Hòa ngày nay. Tranh chấp trong triều đình Chân Lạp sau đó đẩy vị Nhị vương nước này đóng đô ở Sài Gòn – lúc ấy có tên là Prei Nokor – để quản lĩnh Thủy Chân Lạp. Prei Nokor nghĩa là ‘làng chài’, khi đó chỉ có vài ngôi làng nhỏ làm nghề chài lưới quanh nơi cung điện của vị vương này trú ngụ, được gọi là Gò Cây Mai. Trịnh Hoài Đức kể, vùng gò rộng mênh mông hoa nam mai trắng, suối trong chảy quanh chân gò, sen nở thơm ngát gió chiều. Dâu bể đổi thay, chùa miếu Chân Lạp được thay bằng ngôi chùa Ân Tông vào những năm tháng sau này, vẫn ngân nga tiếng chuông trong mây khói, trở thành nơi tụ tập văn nhân thi sĩ đến họp thi xã, lập hội Tao đàn.

Hoa nam mai của Mai Khâu tương truyền vốn do linh khí tạo thành, không thể trồng đi nơi khác. Prei Nonor khi ấy là vùng đất lặng yên nằm sâu giữa những dòng sông, hay là Sài Côn nhộn nhịp của những năm tháng sau này, đã mấy trăm mùa hoa mai nở, ngắm nhìn bao biến động của thời cuộc. Thủy Chân Lạp ngày càng đông đúc theo bước chân Nam tiến của người Việt, mà cột mốc đáng nhớ lại bắt đầu bằng đoàn thuyền nhân chia ba lối tiến vào vùng đất phương Nam. Nhóm binh tướng người Minh thất trận trước triều Thanh dạt vào Nam Hà, được chúa Nguyễn cử người đưa xuống Mỹ Tho và Biên Hòa lập ấp dựng nhà sinh sống. Đất phương Nam đón nhận những nhóm người lang bạt đầu tiên, giang tay ôm họ vào lòng mà không kể đến xuất thân xứ sở. Đất phương Nam hoang vu với những dòng sông dày đặc cá sấu, muỗi mòng bắt đầu được khai mở những thương phố đầu tiên bằng những nhát cuốc rìu hàm giấu bao máu và nước mắt. Những bài ca ly hương bắt đầu cất lên trên sông rộng rừng dài. Bài ca tang thương của lịch sử cũng bắt đầu lên xuống theo con nước. Thương phố đầu tiên ở Mỹ Tho bị đốt cháy trong tranh chấp quyền lực giữa đội quân Minh Hương, trận chiến lan rộng đẩy quân chúa Nguyễn xung đột lần nữa với Chân Lạp, với kết quả đưa vùng Thủy Chân Lạp nằm hoàn toàn trong tay Nam Hà. Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh phụng mệnh chúa Nguyễn đi kinh lý lập đất Nông Nại làm phủ Gia Định, vùng Sài Côn khi ấy là huyện Tân Bình, thuộc dinh Phiên Trấn.

Những lị sở đầu tiên được xây ở Sài Gòn là các công trình quân sự, đưa Sài Gòn trở thành trung tâm của cuộc chiến tranh bất tận, tâm bão của muôn ngàn biến động xô đến từ mọi hướng. Ở đầu cực Nam, Mạc Cửu đưa Hà Tiên thần phục chúa Nguyễn, trực tiếp đối đầu với thế lực nước Xiêm La đang bành trướng ở phương Tây. Cuộc chiến tại phương Nam chưa bao giờ nguội tắt. Đồn Dinh dựng ở Bến Nghé đón đại binh năm dinh phía Nam do Nguyễn Cư Trinh chỉ huy nghênh chiến quân Chân Lạp. Xung đột ngày càng sâu sắc, Xiêm La tham gia vào trận chiến, đưa hàng vạn quân tấn công tiến sát Sài Gòn. Đốc chiến Nguyễn Cửu Đàm dựng lũy Tân Hoa (nay là lũy Bán Bích) dài 15 dặm làm vòng vây bảo vệ Sài Gòn đầu tiên.

Khi trận chiến với Xiêm La còn chưa ngã ngũ, tại phía Bắc, triều đình của chúa Nguyễn rúng động. Quân Trịnh phá qua lũy Trấn Ninh, tiến chiếm Phú Xuân, chúa Nguyễn phải bỏ chạy vào Gia Định. Khi ấy, Tây Sơn cũng đang mạnh lên tại Quy Nhơn, bắt tay với Trịnh đẩy thẳng cuộc chiến xuống phía Nam nhằm tiêu diệt chúa Nguyễn. Trong vòng vây khói lửa, thương phố Cù lao Phố lớn nhất Gia Định bị phá hủy, chúa Nguyễn khi ấy là Nguyễn Phúc Ánh tập hợp thương buôn về gần khu vực quân đội đóng ở Sài Gòn, bắt đầu dựng nền móng cho thương thị Sài Gòn lừng tiếng của Viễn Đông.

Vùng đất ngủ yên giữa những dòng sông thức giấc trong những trận chiến cuồng quay, rồi trở thành trung tâm của đế chế phương Nam mà chúa Nguyễn xây dựng để giành lại đất nước. Từ những ngày đầu tiên trở mình trong tranh chiếm của quyền lực, Sài Gòn đã bắt đầu thoảng mùi khói súng át hương mai. Khói súng chưa bao giờ phai nhạt trên đất Sài Gòn. Những giấc mộng phù hoa cũng bắt đầu huy hoàng rồi cháy rụi tưởng như chỉ trong cái chớp mắt của lịch sử. Ngôi thành theo lối Vauban mà chúa Nguyễn dựng nên cho cơ nghiệp trăm năm sụp đổ trong biến loạn. Ngôi thành tiếp theo được dựng lại sau đó cũng bị hủy hoại dưới đạn pháo chiến thuyền Pháp quốc. Từ đó, hoa mai cũng không còn nở nữa bao giờ…

Những trận chiến ở Sài Gòn luôn khốc liệt, bi thương, tàn nhẫn. Dòng sông Tân Bình cuốn trôi hàng vạn người trong sự kiện đẫm máu hiếm hoi của lịch sử, khởi đầu của cuộc chiến hai chục năm trường. Thành Phiên An trở thành nơi tử thủ của loạn quân suốt ba năm, hàng vạn người thương vong dưới chân thành đen màu khói lửa, nát bấy các đoạn hào ngang dọc. Thành Gia Định bị quân Pháp châm lửa đốt cả tháng trời không tắt, văng vẳng muôn tiếng thét bi thương từ những chiến lũy dài cắt nát Sài Gòn. Và Sài Gòn được Pháp dựng xây sau đó lại trở thành trung tâm của những cuộc chiến hiện đại phản chiếu lịch sử toàn thế giới. Đêm dài Nhật Pháp bắn nhau, cuộc xâm lấn của chủ nghĩa phát xít Nhật xuống Đông Nam Á, cuộc chiến của Đồng minh và vô số ván cờ trong những cuộc thương thảo đổi trao quyền lực. Sài Gòn lại trở thành chứng nhân cho trận chiến kết tinh từ muôn vàn xung đột của các thế lực quốc tế, Phủ Đầu Rồng (dinh Độc Lập) nát tan dưới bom, đem hình ảnh của mình trở thành một phần trong giấc mộng phù hiện của Sài Gòn.

Trong giấc mộng của mình, Sài Gòn từng có một trong những thương phố nhộn nhịp nhất vùng biển Đông nằm bên tòa thành nguy nga, nơi đón hàng trăm chuyến thuyền khắp thế giới hàng năm, ghi dấu trong ký ức những thủy thủ, thương nhân, chính khách lại qua. Sài Gòn có vườn hoa mênh mông cạnh chân cầu Cao Miên, có Xưởng thuyền đóng thuyền bè cho cả nước. Sài Gòn từng có những hội quán lộng lẫy sóng vai bên khu nhà ven sông dành cho đoàn cướp biển. Sài Gòn từng vang tiếng sênh ca, hòa giọng của muôn sông ngàn núi. Trong giấc mộng của mình, Sài Gòn cũng từng có tiếng kèn Tây trước Nhà hát lớn, xênh xang xe ngựa đầu thời Công nghiệp hóa, những rạp chớp bóng, cải lương sáng đèn đêm đêm dìu dặt kẻ đến người đi.

Trong giấc mộng của mỗi con người hiện tại, Sài Gòn có lẽ là đường nhỏ cây xanh, là luống rau bập bềnh theo con nước, là tiếng người vọng giữa những con hẻm quanh quanh, hay chỉ là hàng quán quen xưa cũ. Trong giấc mộng của những con người sau này, Sài Gòn có lẽ là đèn màu muôn sắc, tiếng nhạc điện tử cơ khí quẩn quanh vang, là dòng sông phản chiếu bóng những tòa nhà cao ngất đâm tua tủa lên bầu trời. Sài Gòn vẫn cứ đổi thay, những giấc mộng cứ thế phủ lấp lên nhau. Và con người có khờ dại chăng khi vẫn cứ tin rằng giấc mộng của mình là thật. Sài Gòn vẫn chẳng lưu giữ lại chút gì, dù là lịch sử thảm liệt đau thương hay chỉ một hương hoa mai non Thứu. Những di tích nhỏ nhoi của ngày tháng cũ nằm lẻ loi trong muôn đường ngàn lối giăng giăng, cũng chẳng còn lưu được mấy dáng hình xưa cổ. Thứ chẳng bao giờ thay đổi chỉ là những ngọn gió đưa người đến người đi, những lối hằng đi qua vẫn như là chẳng bao giờ quay lại, ước hẹn và mộng tưởng biến thành tiếng ca tan vào bầu trời. Năm tháng, tháng năm, cuộc đời hữu hạn và ký ức nửa thực nửa hư, bỗng chốc trở nên trong suốt giữa Sài Gòn.

Thật ra cũng chẳng bao nhiêu người ở Sài Gòn lưu tâm về Sài Gòn. Sài Gòn gần như không có lịch sử, chỉ có ký ức nằm trong những con người đang sống. Dòng sông đã cuốn bao nhiêu máu đỏ và tàn tro về phía biển. Tiếng ma khóc nơi tường cũ trong sách ký của Vương Hồng Sển cũng không ai còn nghe nữa. Những cụm rạp, nhà hát chạy đua trình diễn tác phẩm thời thượng nhất thay đổi mỗi giờ. Nhà cửa đường xá dọc ngang, giăng mắc biển hiệu sáng lòa xuất hiện rồi biến mất. Người Sài Gòn quen với đổi thay đến nỗi lắm khi không còn nhận ra nó. Ký ức của Sài Gòn cũng giống như một giọt nước mắt rơi trong đêm thâu, đọng lại chỉ là tình cảm xót xa lưu luyến của thời khắc ấy. Người ta chỉ mãi mãi ghi nhớ được điều từng là hạnh phúc lẫn khổ đau tột bậc của riêng bản thân mình.

Và Sài Gòn vẫn chỉ lặng im, lặng im. Âm thanh thực sự của Sài Gòn là tiếng dòng sông với ngàn con nước đọng bóng trăng thiên thu mộng mị. Con người vẫn chen nhau kể câu chuyện của mình, tình yêu và khổ đau, hy vọng và thất vọng, tranh chấp và mất mát trên vùng đất nằm giữa những dòng sông không lưu lại chút gì. Một quốc gia, một tòa thành, một thành phố… tất cả sẽ chỉ còn là câu chuyện bay qua như hương mai không thực nữa bao giờ.

Vậy thì, đừng đau lòng khi rơi nước mắt giữa Sài Gòn. Vùng đất này cũng sẽ lặng im ôm lấy bạn, bằng tấm lòng đã trải qua ngút ngát tang thương. Vùng đất này sẽ an ủi bạn, bằng dáng vẻ đã quen với muôn vàn dâu bể.

Và ánh trăng trên thành phố sẽ ru bạn vào một giấc mộng chống chếnh quang hoa tỏa trên ngàn con nước.

 

 

Vậy thì, bạn có nghe về một trường đại mộng nơi đây?



Leave a Reply

(required)

(required)

:) :blush: :D :( :(( ;)) :banh: ;) ::) =)) :)) b-) :meo1: :meo2: :meo3: :meo4: :meo5: :meo6: :meo7: :meo8: :meo9: :meo10: :meo11: more »

Bộ gõ tiếng Việt đã được bật. Bạn có thể gõ tiếng Việt không cần phần mềm trong máy.
RSS feed for comments on this post.


Copyright © Trường An. All rights reserved.