Solitude

.Không ai cứu được họ. Không ai cứu được nàng. Không ai và không ai. More...

NN
Friday, March 7, 2014 Author: Trường An

Về Hồ Thị Hoa, mẹ Thiệu Trị: Năm Minh Mạng thứ 17, "tấn tặng là Tần phi". '__' Chắc ĐNLT ghi sai, những chỗ khác ghi là Thần phi. Nhưng tự dưng nhớ tới bài này:

Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần phi

Tóc mây một món chiếc dao vàng
Nghìn trùng e lệ phụng quân vương
Trăm năm tình cũ lìa không hận
Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng

Duyên trăm năm đứt đoạn
Tình muôn thuở còn hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát.

Hồ Thị Hoa mất ngay sau khi sinh Thiệu Trị, mới 17 tuổi. Minh Mạng ngay sau khi lên ngôi sách phong bà làm Chiêu nghi, năm thứ 7 lại phong tặng cho cha mẹ bà, năm thứ 17 tấn tặng Tần phi, cho quan cầm cờ tiết, bưng sách đến tấn phong, năm thứ 19 lại cho xây đền thờ. Minh Mạng cả đời cũng không lập hoàng hậu (nên MM ghét Lê Chất vì thúc giục phong cho con gái làm hậu, cũng đã từng nói "chưa lựa hậu được trong đám phi tần"). (Chính MM cho húy chữ Hoa chứ không phải GL. Từ khi lên ngôi là cho đổi bất cứ chữ nào dính đến "Hoa".)

Đại Nam liệt truyện ghi:

Mẹ Minh Mạng, Thuận Thiên hoàng hậu đọc văn phong hoàng hậu:

"Nhân Hoàng đế lòng thương vợ cả, nên hậu ban ân lễ, cho thụy là Thuận Đức, phong là Thần phi, ở ngôi 21 năm mà trong cung vẫn dành hư vị đợi chờ, không phải là không có ý."

Thiệu Trị nói:

"Để trống chính cung, nết hiền được hoàng khảo ta vẫn tưởng nhớ đến."

"Tặng làm Thần phi để tỏ ra là vợ cả, cung Trường Thu ngôi chính còn để không, thụy là Thuận Đức để nêu làm mẫu nghi, nghĩa là gươm cũ trong lòng đã dự định."

Các quan bảo:

"Thánh Tổ Nhân hoàng đế ta ngự ngôi 21 năm, tuy vị hiệu trong cung chưa kịp truy xưng, mà nghĩ đến gươm xưa, lòng thánh đã định từ trước."


MM không lập hậu vì Hồ Thị Hoa, vậy nhóe. (Đây chính là hình mẫu vua ngôn tình trong đời thực. =)) Hơn nữa, MM đệp là điều không cần chứng minh. =)) )

---

Người xưa khi muốn làm chính trị (làm quan) đều phải học sử. Không chỉ là biết chiêu trò, cách thức xử lý nhân tình thế thái, đối phó với nhau, với nhân dân, mà còn phải học cả cách quản lý nhân sự, an ninh lương thực, địa lý, vị thế chính trị... Những phần sau này thì chỉ những người hiểu sâu sắc tình hình kinh tế xã hội thực tiễn mới lĩnh ngộ được - Nó phải dựa trên một hoàn cảnh tự nhiên xã hội lịch sử vô cùng cụ thể.

Cho nên (thật sự) chỉ những người giỏi chính trị mới giỏi phân tích lịch sử. Càng nghĩ càng thấy đúng.

Sử VN thiếu những cuốn "chính yếu" ghi chép kỹ càng, chỉ có sự kiện vắn tắt. Và hầu như được dạy trên một cái nền suôn đuột bằng phẳng. Nên thế thì chỉ thế thôi.

---

Trước nay mềnh vẫn đặc biệt ghét 1 ông "sĩ phu Bắc Hà", càng đọc càng cảm thấy ổng chỉ là 1 kẻ bất tài chém gió giỏi, bị hoang tưởng thể đặc biệt (không phải đọc về ổng). =)) Thi không đậu, được đặc cách làm quan thì tính thượng tôn pháp luật vứt vào thùng rác, được vua quý nên sử dụng thì chả làm được trò trống gì, thế rồi lại "bất mãn" - trong khi tất cả những gì ông giỏi là múa bút chém gió. Đến làm phản mà cũng không xong.

Có tài mà kiêu ngạo thì cũng bình thường. Bất tài mà được tâng lên thì... ngứa mắt.

---

Quên chép 1 chuyện: Thời GL (hay đầu MM), triều đình bảo Bình Định dâng "ống phun lửa làm bằng tre" => Đây chính là thứ "hỏa hổ" đặc biệt của TS. :))

---

Đọc về công cuộc trị thủy thời Nguyễn, nghe nhận xét "đắp đê là sai lầm của người xưa", "họ (bên Chân Lạp) đắp đê thấp ngăn nước tạm thời, hẳn ngày xưa ta cũng thế, rồi đê cứ dần dần cao lên, nhiều ra, thành như bậy giờ" - Nước bị ngăn lại giữa hai bờ thì càng chảy mạnh hơn, đến hạ lưu thì lãnh đủ. => Bên cạnh đắp đê phải khơi dòng cho sông chảy để phân lũ.

Như vậy, truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh ấy, kết cuộc phải là... Sơn Tinh Thủy Tinh yêu nhau mới đúng. =))

---

Tò mò tự dò xem thành Thăng Long bị đốt bao nhiêu lần, phát hiện ra chẳng "triều sau phá triều trước" gì hết, chỉ có các ông đánh nhau rồi đốt nhà nhau. =.= Nặng nhất là hồi Trịnh Tùng đánh Mạc Ngọc Liễn, phóng hỏa đốt sạch phố ngoài thành "khói bay ngút trời", Mạc Ngọc Liễn thì đốt bay cung điện "sạch không" còn gì, rồi Trịnh tiếp tục san bằng thành bên ngoài. => Lúc này thì TL thời Lê sơ tiêu không còn 1 hạt bụi ồi.

Mà nói chung thì Trần đốt Lý, Nguyên-Chiêm đốt Trần, Trịnh đốt Lê, cứ mỗi lần xây lại là nén xuống thành ra thế.


(1214) Ngày nọ Trần Tự Khánh phát binh đi cướp vàng bạc và tài vật ở trong phủ đường của các quan. Nhân đó mới đón Nguyễn Vương đi đến hành cung Lị Nhân. Rồi sai Lại Linh đốt cung thất ở kinh đô, gồm có 19 sở.

(1288) (Sau khi đánh Nguyên) Mùa hạ, tháng 4, Thượng hoàng ngự ở hành lang Thị Vệ (vì cung điện bấy giờ đã bị giặc đốt hết), đại xá thiên hạ.

(1371) Ngày 27, giặc ùa vào thành, đốt phá cung điện, cướp lấy con gái , ngọc lụa đem về.

Bấy giờ thái bình đã lâu ngày, thành quách biên cương không có phòng bị, giặc đến không có quân nào ngăn được. Chúng đốt trụi cung điện, nhà cửa. Thư tịch, sổ sách do vậy sạch không.

(1516) (Trần Cảo) Lúc ấy, thành đã thất thủ, xã tắc bỏ phế, dân chúng vào thành tranh nhau lấy vàng bạc, của báu, bạch đàn, xạ hương, lụa là tơ gai đầy trong dân gian; sách vở, hồ tiêu, hương liệu các thứ vứt bỏ trên đường phố cao đến 1,2 tấc, không thể kể xiết. Người mạnh khoẻ tranh cướp vàng bạc, có người lấy được đến ba, bốn trăm lạng, người yếu cũng được đến hơn hai trăm lạng. Cung khuyết, kho tàng do vậy mà hết sạch.

(1592) (Trịnh đánh Mạc) Ngày hôm ấy, quân Mạc xác chết gối lên nhau, lấp đầy hào rãnh, máu chảy trôi chày. Chém đến hơn mấy nghìn thủ cấp giặc, tướng Mạc bị chết đến mấy chục viên. Khí giới chất như núi. Cung điện, nhà cửa ở kinh thành tiêu điều sạch không.

(1623) Ngày 18, Trịnh Xuân tự đem quân lính, voi ngựa, súng đạn bản bộ dàn bày ở xứ Đình Ngang, sai bọn Điện quận công, Bàn quận công đem quân phá vào Nội phủ, cướp đoạt voi ngựa, vàng bạc, của cải, bức [20b] Vương dời ra ngoài thành, rồi phóng lửa đốt cháy tràn lan các xứ trong Kinh kỳ.

Xuân kinh sợ, rút quân ra ngoài thành, cướp lấy voi, ngựa, của báu, rồi nhân đó vung lửa đốt. Đô thành đại loạn.

(Mà nhân chuyện Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Khi trước đọc thấy chúa Trịnh mới là người đem nghề làm giấy về, sau lại đọc thấy An Thái thời Lê sơ làm giấy, dẫn trong DĐC. Đi xem lại thì Nguyễn Trãi ghi "An Thái, chỉ chương", nghĩa là in trên giấy. Vầng, in với làm giấy giống nhau quá cơ.)

---

Phần về Thiệu Trị (1841-1847):

Việc nổi loạn của người Chân Lạp ở Trấn Tây có nguyên do là Minh Mạng giết oan công chúa Ngọc Biện của Chân Lạp. Quan ở Gia Định vì nguyên do gì đó vu cho Ngọc Biện mưu phản, Trương Minh Giảng không xét, cứ thế tâu lên, các quan ở dưới tiếp tục ép cho Ngọc Biện có tội phải giết. Trương Minh Giảng sau này mới bị Thiệu Trị trừng phạt (chưa kịp phạt đã chết).

(Những phần này mới thấy sử quan nhà Nguyễn công minh chán. Không che giấu sai lầm của toàn bộ (kể cả vua), mà mô tả phản ứng của Thiệu Trị khi nghe việc quân cấp bách là "ngồi thừ người ra", chỉ biết nguyền rủa chứ không có đối sách gì.)

Minh Mạng ôm đồm công việc, nên Thiệu Trị mới lên ngôi chả biết gì, cái gì cũng đi hỏi. =_=


Vả lại, tập quán của người Thổ, dù sống chết cũng phải nghe mệnh lệnh của người đầu mục.

Cây hương trầm Tây dương trồng tại sân điện Hoàng Phúc, vườn Thiệu Phương lại nở hoa, mùi thơm ngào ngạt khác thường. Vua sai Nội giám đem ra cho các quan xem và bảo các đại thần rằng: “Thứ hoa này, mùa xuân nở thơm, mùa thu cũng nở thơm, lúc nào cũng tiếp tục có hoa, đúng là nghĩa “Thiệu phương”."

Có người con trai tự xưng là con nhỏ của Anh duệ Hoàng thái tử (Tức thái tử Cảnh), nguỵ hiệu là Hoàng tôn, ở thành Nam Vang, họp tập những quân Xiêm, Lào, Kinh, Thổ, tới vài nghìn người. Nhiều kẻ vong mạng đến theo.

Khoa đạo là bọn Vũ Trọng Bình, Ngô Bỉnh Đức, Lê Di và Nguyễn Huy Lịch dâng sớ trình bày 8 việc:

5. Xin đừng cho người Tây dương giao thông đi lại vì phần nhiều họ hay dối trá.

Lại thông dụ cho các địa phương rằng: “Nước Phật Lan Tây mọi rợ, ngông cuồng, tội không đáng khoan xá, nếu chúng lại đến, không cứ là thuyền buôn hay thuyền quân, các phận cửa biển nơi sở tại lập tức phải đuổi đi, không được cho chúng bỏ neo."

Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên Nguyễn Đăng Giai dâng sớ nói: “Người Tây dương phần nhiều gian giảo, đem tà giáo mê hoặc người ta. Nay việc Đà Nẵng đã như thế, xin từ nay, những thuyền công phái ra ngoài biển đều nên đình chỉ. Đạo trưởng Gia tô nếu bị bắt để xét xử thì nhất thiết theo pháp luật xử trí, không thể khoan túng cho chút nào”.

Đến đời Tự Đức - 1848:

Trước đây, vua sắc sai Đào Trí Phú gửi mua hàng hoá phương Tây. Đến đây, tàu buôn người Tây phương tên là E Đoa chở hàng hoá sang đậu ở cửa biển Đà Nẵng tỉnh Quảng Nam sai Hộ bộ Tả tham tri là Tôn Thất Thường đến nơi khoản tiếp. E Đoa chở sang những vật hạng gửi mua trị giá bạc 166.267 thuẫn (Thuẫn: là đơn vị Hà Lan, mỗi thuẫn hơn một tiên linh (Shilling) 7 biện sĩ (penny)), các quan chính khanh ở sáu bộ là bọn Trương Đăng Quế, Hà Duy Phiên, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp, Nguyễn Đăng Giai, Phan Thanh Giản cùng dâng sớ can, lời rất khẩn thiết (nói: ngọc cung ngọc cầu của muôn nước, ngọc lụa của 4 phương, chỉ nghe thấy tiếng là đem đến cống hiến, chứ chưa nghe thấy cùng nước ngoài mà buôn bán bao giờ. Năm ngoái tầu Tây dương vô cớ xâm phạm vào thuyền của nước ta, làm cho quân sĩ bị chết, xa gần sợ hãi ngờ vực, quan và dân ở trong ngoài đều đem lòng bực giận. Thế mà nay ta lại buôn bán với họ, thì các nước láng giềng bảo ta ra sao?... Từ sau đừng chở hàng sang nữa lại sinh ra không tiện. Khiến cho người Tây dương không thể dòm ngó vào khe nào được. Trong để thoả lòng trông mong của thần dân. Ngoài để dứt sự dòm ngó của nước khác, để cho vững mạnh gốc nước mà yên nơi bờ biển.)

---

Hú hú hú, đọc xong ồi!!!!!!!!!!!!




Chép vụn 10
Thursday, March 6, 2014 Author: Trường An

1839-1840

Bắt đầu vào công cuộc "chạy đua vũ trang", chỉ tiếc là không đúng thời điểm. T^T Năm 1839, MM phái người sang tận châu Âu tham quan, đến khi họ trở về thì vua chết mất rồi. Mà dù MM sống thêm được chục năm nữa thì vẫn lỡ mất cuộc CM công nghiệp lần 2 - mà cái này mới quan trọng. (Ờ mà biết đâu MM sẽ học được cái gì từ sứ giả đi Tây về báo cáo? Dù vậy thì MM hâm mộ khoa học Tây nhưng ghét văn hóa Tây. =_= Tây thời đó thì cũng ba chấm lắm cơ.)

Còn người trong nước thì... Ngay khi thấy Anh đánh Thanh, đã đua nhau dâng sớ bảo đóng cửa lại, khỏi giao lưu với nó nữa. MM bảo ta còn phải mua vũ khí, đi thăm dò địch, đi rèn luyện... mới át được đi. Thiệu Trị rụt rè đấu không được với đám quan này. (Những thợ thuyền, quan lại bộ Công của MM bị bỏ uổng phí quá đi, cả mấy đứa trẻ được học tiếng nước ngoài. T^T)


Chạy thử thuyền máy hơi nước mới đóng ở sông Hương. Vua ngự ra xem, thùng nước vỡ, chảy, máy hơi không chuyển động, bọn đốc công chuyên biện đều phải xích giam, lại liên luỵ cả đến bộ Công Nguyễn Trung Mậu, Ngô Kim Lân bị khiển trách là tâu càn, rồi được tha. (Trước đấy bọn Nguyễn Trung Mậu coi làm thuyền ấy đã xong đem việc chuyển động đúng cách thức. Tâu vào đến nay vì xe chuyển vận từ sở thợ đến bến sông, khi đi đường bị lay động, thùng nước phá vỡ, để máy hơi không chuyển, cho nên bị khiển trách).

Vua đi chơi cầu sông Nhị Hà, xem thí nghiệm thuyền máy hơi, thấy máy móc linh động, chạy đi nhanh nhẹ, thưởng đốc công Phó giám đốc Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trinh, mỗi người một nhẫn pha lê bịt vàng, một đồng Phi long đại kim tiền, lại gia hàm cho Giám đốc, thêm hai cấp, thưởng khắp cả đốc công và lính thợ 1.000 quan tiền. Bảo rằng: trước kia bọn ngươi làm lỡ việc, hầu mắc phải tội. Nay đã hết lòng hết sức làm cho đến thành công, cho nên khen thưởng không tiếc. Vả lại thuyền ấy mua ở nước Tây cũng sao không được. Chung muốn thợ thuyền nước ta học biết máy móc khôn khéo, cho nên không kể nhọc tốn mà thôi.

Chế tạo thêm một chiếc thuyền lớn, máy chạy bằng hơi nước, tính tiền hết 11.000 quan có lẻ. Vua bảo bộ Hộ: “Trẫm muốn những người làm thợ nước ta đều học tập máy móc được tinh xảo, cho nên không tính đến sự tổn phí”.

Làm cái tàu bằng hơi nước hạng trung kiểu mới. Sai Chưởng vệ là Đoàn Kim, Chánh phó giám đốc là Lê Văn Quý, Lê Văn Xuyên chiểu theo thể chế cách thức tàu chạy hơi nước hạng to mới mua về, châm chước mà làm (thân tàu dài 5 trượng 4 thước, ngang 9 thước, sâu 4 thước 3 tấc 6 phân. Nồi chứa nước dài 6 thước 5 tấc, ngang 5 thước, cao 4 thước 1 tấc, trục bánh xe guồng 2 bên làm dài thêm 2 thước. Tay guồng 12 cái vẫn làm bằng sắt, duy ván tay lái làm bằng gỗ lim dài 3 thước 3 tấc, mặt 9 tấc, 2 đầu trục bánh xe guồng làm thêm mỗi bên một cái đỡ trục bằng đồng. Còn ống còi cùng ống khói cùng cột đồng trung tâm cái guồng và cái nắp nồi chứa nước, hoặc làm bằng sắt, hoặc làm bằng đồng, tuỳ tiện mà làm. Ván thân tàu hoặc gỗ tử gỗ đỗ (Gỗ tử, gỗ đỗ: chưa rõ đích xác là thứ gỗ gì, nhưng cũng có thể là loại gỗ thị, gỗ bàng.) cũng được, ván chỉ dày 8 phân). Còn tàu chạy hơi nước hạng trung cũ để làm tàu vận tải tầm thường gọi là ô thuyền [tàu đen].

Đặt tên cho 3 tàu thuỷ chạy bằng hơi nước: tàu lớn gọi là tàu Yên Phi, tàu hạng trung gọi là tàu Vân Phi, tàu nhỏ gọi là tàu Vũ Phi, đều khắc chữ thếp vàng ở đằng sau lái, cho có danh hiệu. Tàu Yên Phi khi mới mua ở Tây dương về, máy móc nhiều chỗ han gỉ, nồi sắt cũng rò nước, chạy thử chưa được nhanh lẹ. Đã sai đốc công sức thợ tháo ra xem xét, mài giũa từng cái, sửa chữa chỉnh đốn, lại lắp vào như cũ. Cho cùng thuyền hiệu Bình hải ra biển chạy thử, từ cửa biển Thuận An đến đồn Đà Nẵng, đi về 2 lần, tàu chạy máy hơi nước đều chạy nhanh hơn. (Thuyền Bình hải vẫn có tiếng là nhanh lẹ).

Đúc 2 cỗ súng lớn Chấn hải. Sai ty có trách nhiệm theo đúng cách thức của Tây dương mà làm (1 cỗ chất bằng gang, trong lòng đường kính 2 tấc, 2 phân ; 1 cỗ chất bằng đồng, trong lòng đường kính 1 tấc 9 phân). Khi đúc xong đem thí nghiệm, đều được cứng tốt. Vua cho là thứ súng lớn ấy dùng về thủy chiến rất đắc lực, lại sai đúc thêm 30 cỗ chất bằng đồng nữa.

Đúc 15 cỗ súng “Xung tiêu” bằng đồng. (Lòng súng bắn đạn ra đường kính 5 tấc 4 phân, lòng súng để nạp thuốc đường kính 3 tấc, có 10 cỗ. Lòng súng bắn đạn ra đường kính 5 tấc, lòng súng để nạp thuốc đường kính 2 tấc 8 phân, có 5 cỗ). Lại chế 30 cái thước đo, để thí nghiệm thuốc súng đều theo cách thức của Tây dương.

Vua nghe nói địa phương Đại Tây Dương vốn có tiếng là nơi đô hội, sai Tư vụ Trần Viết Xương, Thư lại Tôn Thất Thường mang theo người thông ngôn cùng ngồi vào thuyền Thuỵ Long đến Giang Lưu Ba, rồi do phái viên chuyển đáp nhờ sang thuyền Tây Dương mà đi, năm sau thì về. Phàm đến nơi nào, mắt trông thấy, tai nghe thấy cái gì đều ghi tường tận về tâu, để biết rõ phong vật phương xa; nhân tiện tìm mua một vài thứ hàng Tây Dương đem về dâng. Rồi cho rằng chuyến đi này biển khơi qua vượt xa xăm, hậu thưởng cho áo quần, bạc lạng và tiền lương bổng có thứ bậc mỗi người một khác.

Vua xem bản vẽ về Thiên tượng của Tây Dương, bảo viên quản lý Khâm thiên giám là Trương Đăng Quế: “Bản vẽ của người Tây Dương cho Thiên Hà là sông thật, thì thực là nói bậy sai lầm. Sông Ngân Hán ngang trời là do nhiều vì sao tụ họp liền nhau, trông có ánh sáng rờ rỡ, có hình như con sông, chứ đâu có lý là sông thật ư?”.

Vua đem trận đồ thuỷ chiến của Tây Dương cho Trương Đăng Quế xem và bảo rằng: phép thuỷ chiến, nếu giặc chiếm được đầu gió, tất nhiên thừa thế đuổi đánh ta, thì thuyền ta giả cách thua, nhân đó buông dây, trở buồm dần dần chạy gié ra, rồi sau súng ống của ta mới thừa sơ hở mà bắn đánh lại được. Nếu ta chiếm được đầu gió, thì nên đuổi theo từ từ, đừng bức bách chúng vội quá, thì chúng không đánh trả lại mình được. Những điều tương tự như vậy đều có thể suy ra. Những lúc rỗi việc công, khanh nên xem kỹ bản đồ này, tham bác châm chước để làm phép thao diễn thuỷ quân.

Vua thường xem quyển “Tây dương ký sự”, bảo các quan rằng: Sách Tây có nói: “Đời vua Nghiêu bị nạn nước lên to, vua nước ấy lấy một chiếc thuyền lớn đem hết thảy nhân dân chim muông trong nước lánh lên ở trên đỉnh ngọn núi cao”. Lại nói: “Trong khi nước to, trong nước chỉ còn bảy người, sau sinh sản ngày một nhiều, đều là con cháu bảy ông tổ ấy”. Cái thuyết ấy thực không có bằng chứng. Lại nói: “Trong nước có một vị vua, sai người trong nước xây một cái tháp lên trời cao không biết mấy nghìn muôn trượng, toan lên chơi cung phủ của trời để xem xét cảnh giới trên trời. Trời sợ sai Thiên quan xuống làm thay đổi tiếng nói đi, để không thể sai gọi được nhau, cho nên cái tháp ấy không thành. Nay các xứ trong nước ấy, tiếng nói phong tục khác nhau, là bởi cớ đó”. Thuyết này lại càng vô lý. Lại nói: “Người ta sinh ra trong khoảng trời đất, vốn xưa có một phái, vì ở riêng ra từng nước, cho nên phong tục khác nhau. Vì vậy người các nước đến buôn bán, người nước đó đều gọi là anh em”. Lại còn: "vua nước đó ra đứng ở đường phố cho người nước cầm tay và hôn trong bảy ngày mới thôi”. Đó cũng là cái tục hủ lậu quá lắm. Và quyển sách đó đều viết bằng chữ Hán, tất là người nước Thanh theo đạo Tây dương làm ra. Trong đó viện dẫn Kinh truyện, lời, nghĩa, lung tung lại không thành câu cú gì. Đọc quyển sách ấy cố nhiên không có gì đáng kể, chỉ sợ sau này có nhà văn Trung Quốc nào lưu lạc bất đắc chí đến ở nước đó rồi làm sách cho nước đó, thì đạo ấy sẽ thịnh hành, làm mê hoặc cho đời rất lớn vậy. Cũng như đạo Phật, kỳ thuỷ cũng chưa lan mạnh, đến sau các nhà văn sĩ phiên dịch rộng kinh Phật ra, lòng người bèn dần dần xu hướng, cũng giống như thế đó. Nay nên đặt điều cấm cho nghiêm để ngăn chặn đi.

Phái viên đi việc công từ nước ngoài về, đem cây tường vi ở Tây dương về dâng, sai phát cho các tỉnh mỗi tỉnh 10 cây để trồng ở trước sân hành cung.



Vua bảo bộ Binh rằng: voi ở Cam Lộ rất thuần và thông minh, so sánh còn hơn voi nước Chân Lạp và nước Xiêm, xét ra việc đánh bắt dùng voi nhỏ lại là đắc lực, mà đánh ở rừng núi càng thích hợp vì voi to thân hình nặng nề, xông pha hiểm trở rất khó, thực không bằng voi nhỏ nhanh nhẹn. Từ sau có phân phát cho các tỉnh, nên dùng voi nhỏ, còn voi lớn chỉ để ở Kinh chầu hầu được thôi. Lại nói rằng ngụy Tây Sơn đánh nhau với quân Tàu, phần nhiều dùng voi, ngựa. Tàu sợ voi trông thấy liền rụt lại cho nên phải thua, nước Tiểu Tây đánh nhau với nước Hồng Mao, cũng dùng voi xông vào giết chết, sau người nước Hồng Mao dùng cành tre để chắn voi không dám tiến, chờ cho hơi mệt, lấy giáo nhỏ đâm vào mũi voi, voi hoặc lăn ra chết, hoặc chạy về giày xéo, quân lính lại tự tan vỡ. Nhân xem đấy, đánh bằng voi được hay thua là ở người khéo dùng hay không khéo dùng mà thôi.

Đến nay vua xem sổ tổng cộng thuế lệ năm trước do bộ Hộ dâng lên, thấy tiền thuế 6 tỉnh Nam Kỳ so với 13 năm trở về trước tăng đến gấp 3, nên rất khen.

Lại sai Nội các soạn đưa ra một bộ sách nói về hình vẽ địa cầu của Tây dương, giao cho phụng giữ.

Đến khi về, cùng quần thần bàn cách thức xây dựng, hỏi Phan Huy Thực rằng: trẫm nghe phần mộ nhà Lê trước không đắp nấm, không trồng cây, không muốn người đời sau biết chỗ chôn, có chăng? Thực thưa rằng: nhà Lê trước có làm lăng tẩm, dựng cột mốc, bia đá, đến lúc suy, dần dần phải để đồi bại; phần mộ họ Trịnh thì ở dưới xây gạch đá kiên cố, mà mặt trên không đắp nấm. Vua cười bảo rằng: “Sao phải ngờ sợ mà giấu giếm như thế”. Hà Duy Phiên nhân đấy tâu nói: năm trước thần từ Ninh Bình về qua Thanh Hoa, thấy 1 ngôi mộ cũ cách sông mới đào độ 3, 4 trượng, ở mặt trên bằng phẳng, bên cạnh có bia đá khắc rằng lăng vua mỗ nhà Lê. Vua vì thế thương lắm, bèn sai bộ Lễ tư đi các địa phương hỏi khắp lăng các vua từ nhà Lê trở về trước, sửa lễ cáo yết, chỗ nào đồi bại thì đắp lại.

Sai phát thứ bông của Tây Dương chứa ở kho chia giao phủ Thừa Thiên, tỉnh Quảng Trị thuê dân dệt vải (phủ Thừa Thiên 4.000 cân, tỉnh Quảng Trị 2.000 cân, Mỗi tấm hết 4 cân bông, lấy mỗi tấm dài 30 thước, rộng 6 tấc 5 phân làm mức).

Lại mật dụ các quan địa phương 6 tỉnh Nam Kỳ: “Dân các hạt có nhiều người lầm theo tả đạo Gia Tô, năm trước giặc Khôi làm loạn, bọn chúng phụ hoạ với giặc, ngầm ngấm giao thông với nhau, không phải một việc mà thôi. Kịp khi giặc Khôi bị tan vỡ tiêu diệt, thì chúng châu đầu chịu giết, hoặc tản mát trốn tránh, hoặc bội bạn sang theo nước Xiêm, coi sự bỏ nước của cha mẹ như bỏ cái giầy rách.

Tháng 11, sai dò tìm những di cảo văn chương của người bản quốc. Dụ rằng: “Nước Đại Nam ta vốn có tiếng là một nước văn hiến, danh thần, văn sĩ đời nào cũng không thiếu người, trong đó chắc cũng có nhiều văn trước thuật. Nhưng từ trước tới giờ không biên chép góp nhặt thành ra mất mát không còn dấu tích gì. Vậy truyền dụ cho các quan thượng ty cho hỏi tìm khắp trong hạt, phàm quan lại, học trò và thường dân, nhà ai còn giữ được những tác phẩm như thơ, vịnh, minh, ký, từ, phú, bất luận đã lâu hay gần đây, nếu muốn đem dâng thì tất ban khen ngợi; nếu họ không muốn nộp quan thì mượn về sao chép ra, dâng lên ngự lãm, sẽ giao cho bộ Lễ hợp với viện Hàn lâm chọn lựa: bản nào hay thời soạn đóng lại thành sách, đặt tên là “Nam thổ anh hoa lục”, khắc thành bản in để làm tỏ rõ việc tốt đẹp tôn chuộng văn học của triều thịnh trị”.

Vua bảo Tham tri bộ Binh là Lê Văn Đức rằng: “Gần đây nghe nói nước Thanh đánh nhau với nước Hồng Mao đã 5, 6 tháng mà chưa thắng được. Kể ra nước Thanh đường đường một nước lớn, thiên hạ trông vào mà lúc trước thất tín để gây chiến, sau lại đánh lâu làm cho mỏi quân mà nuôi giặc, còn ra sự thể gì nữa? Tuy việc ở nước kia mà trẫm cũng không thể quên nghĩ trong bụng được. Vì nước ta tiếp giáp với nước Thanh, từ trước đến nay của cải hàng hoá trăm thứ đổi chác lưu thông. Nay nước Hồng Mao làm ngăn trở, thì đường biển không thông, những thứ dân gian thường dùng như thuốc bắc, chè tầu, mua vào đâu được. Thế thì đã thiệt cho người buôn lại thiệt cho dân nữa”.

Vua nói: “Người nước Thanh hèn yếu, ta đã biết rồi. Năm trước nước Hồng Mao ở các hòn đảo thuộc tỉnh Quảng Đông, mà chẳng nghe thấy người nhà Thanh vạch ra một kế gì, đem một cái thuyền nào ra biển để đánh. Nay nó lại đến, người nhà Thanh thế không chống được tất phải đổ lỗi cho Lâm Tắc Từ gây việc để làm cớ nói rồi lại cùng Hồng Mao họp chợ thôi”.

Vua bảo viện Cơ mật rằng: “Nay nghe nước Anh Cát Lợi cùng nước Thanh gây hiềm khích, xảy ra chiến tranh, mà nước ta tiếp liền với cõi nước Thanh, từ trước đến giờ tàu ngoại quốc cũng thường đến đậu ở vụng Trà Sơn tỉnh Quảng Nam, cần nên trước khi có việc gia tâm tuần xét để việc phòng bị bờ biển được vững chắc. Vậy nên truyền dụ cho tỉnh thần Quảng Nam sức ngay cho Lương Văn Liễu cùng viên coi đồn Đà Nẵng liệu phái người biết việc ngày thường đem kính thiên lý ngồi vào chiếc thuyền nhanh nhẹ ra ngoài biển khơi trông nhòm. Nếu thấy chiến thuyền kiểu Tây dương chỉ độ 1, 2 chiếc, tất phải thân đến hỏi rõ tình hình, theo lệ trước mà làm. Nếu thấy chiến thuyền đến 3, 4 chiếc trở lên, lập tức báo cho tỉnh biết, tỉnh thần thượng khẩn làm tờ sớ đệ tâu. Và phải phái 1 viên quản vệ, cơ đem lính tỉnh 500 hay 600 tên đến ngay hội đồng với biền binh trú phòng 2 thành An Hải, Điện Hải, hợp sức lại để phòng hộ, không được để chậm một khắc nào”.




Chép vụn 9
Thursday, March 6, 2014 Author: Trường An

Trước đọc sử cứ thắc mắc mãi là nhắc đến vùng Thanh Hóa, Nghệ An là nói "thổ mục", thậm chí Sơn Tây, Ninh Bình, Bắc Ninh... cũng có - Vậy bọn họ đi đâu hết rồi? Bây giờ đọc thấy MM cho chia hết các động, sách ra thành xã, thôn, cho theo tục người Kinh. Ngay cả ở Biên Hòa cũng cho người trên núi xuống làm ruộng (vì dân Gia Định "lười" không làm), chia đặt huyện, xã. Cho nên bây giờ chỉ trên núi cao xa xa mới có "người dân tộc".

Mà hụ hụ, e rằng "phố cổ HN" cũng đến đời Nguyễn mới được quy hoạch:

"Ngoài thành tỉnh Hà Nội thất hỏa, cháy lan hơn 1.400 nhà, có người bị thương chết. Vua sai lấy tiền thóc phát chẩn. Nhân dụ bộ Công rằng: Ngoài thành Hà Nội dân cư đông đúc, đường sá cong hẹp, cửa nhà liền nhau, cho nên thường gặp hỏa hoạn, nếu bắt làm nhà ngói cả, thì người giàu nghèo không đều nhau, thế khó bắt ép, duy nhân sau khi bị hỏa tai này, lường đo địa thế, chia vạch cửa nhà cho có thứ tự mới giữ được không lo. Vậy sai Tổng đốc Đặng Văn Thiêm trù tính. Thiêm bèn xem địa thế, mở đường sá, nghiêm sức các hộ phố dự bị đồ chứa nước, đồ cứu hỏa, lại chọn đất lập đền thờ Hỏa thần, sai dân sở tại mùa xuân mùa thu cầu cúng, đem công việc tâu lên. Vua cho lời tâu là phải."

"Đường sá cong hẹp" nhóe (nếu nhớ tới nguồn gốc khu phố là do các ngành nghề tự nhóm họp lại sống chung). Đến khi Pháp vào đã thấy đường thẳng băng, chia hàng chia dãy. (Hóa ra khu phố mà mềnh bảo "chỉ có con đường là cổ" thì đường cũng chả cổ à? =_=)


Những máy móc cơ khí bắt đầu đi vào thực tế. Nhưng ở VN thì không có công trường nào to lớn mà thực hiện "công nghiệp hóa".


Làm xe máy cưa ván gỗ (bắt chước kiểu mẫu Tây dương làm ra). Vua thưởng cho thợ 100 quan tiền.

Làm xe máy xẻ gỗ ở thác dài thôn Dương Hoà, nguồn Tả Trạch. Sai bộ Binh bắt một quản vệ, 300 biền binh khơi đường nước chảy, đắp bờ đê, tuỳ thế mà làm, công việc làm xong, cắm gỗ làm cưa, máy móc nhanh nhẹ, xẻ thành tấm ván, cũng được bằng phẳng, thưởng cho Phó giám đốc chế ra là bọn Vũ Huy Trinh 100 lạng bạc. Vua bảo bộ Công rằng: “Xe máy này so với công người không hơn không kém lắm, nhưng đằng kia là sức người, mà đây thì tự nhiên, thì hơn kém có thể thấy được”.

Vua bảo rằng: “Trẫm nghĩ đê công ở Bắc Kỳ, khi bắt đầu cũng nhân nước lụt, bồi đắp nhỏ thôi, về sau thế nước ngày lên to phải theo mà đắp cao dày hơn, đến nay bèn không thể bỏ được, sợ hạt thành ấy ngày nay như thế, thì hơn vài mươi năm nữa, thế cũng không khác gì công đê Bắc Kỳ, nay phải trù nghĩ trước làm thế nào, có thể bảo vệ được việc nông, mà nhân dân khỏi phải sự khổ đắp đê, mới là tốt”.

Thị vệ Lê Nguyên học được cách làm máy, lấy máy của nước Tây dùng để hút nước tưới ruộng rất tiện, chế ra đem dâng, gặp khi trời nóng lắm, nước ruộng khô cạn, vua sai bộ Công đốc thúc ngay chế tạo máy ấy có 3 cái, đưa cho phủ Thừa Thiên chia tưới đồng ruộng, bảo nếu có thành hiệu, nên cho dân đó theo cách thức mà làm.

Lại lấy nhiều hình người bồi bằng giấy của nước Thanh, nước Tây mặc áo đẹp vào làm giống hình bát tiên, lại chế máy móc luân chuyển, khiến cho các thứ người giấy voi ngựa tự chạy tự động được.

Sai Vũ khố đóng thuyền máy hơi nước (theo kiểu thuyền Tây dương mà làm) thưởng cho đốc công, thợ làm việc 100 quan tiền.

Xây đắp bờ phía tây sông tả Hộ thành (từ cửa đến thành ngoài đài Trấn Bình) và bắc cầu dài ở chỗ bến phố Đông Hội, gọi là cầu Đông Hội (nguyên cầu Thanh Tước trước vì mục nát bỏ đi, đến nay lại bắc mà đổi tên ấy, khoảng giữa cầu ấy đặt ván gỗ có máy, phàm thuyền bè đi lại thì nhắc lên, sau khi qua rồi, lại hạ xuống, lấy 20 người dân phụ cận canh giữ). Sai thự Tiền quân là Phạm Hữu Tâm trông coi việc ấy. Đến khi cầu làm xong, vua khen là kiểu mới, làm khéo, thưởng cho bọn chỉ bảo, đốc công tiền, bạc, áo, quần; còn biền binh và thợ cùng phu dịch, thưởng cho tiền gạo lương tháng.

Vua cùng bộ Binh Trương Đăng Quế ban về phép thuỷ chiến, dụ rằng: "Trong nước tuy yên, không nên quên việc đánh trận, binh chế triều ta, đánh trận bằng voi, đánh trận trên bộ, đều đã am hiểu, duy đánh trận ở dưới nước, vẫn chưa tập quen, trẫm thường hỏi phái viên đi công cán ở ngoại quốc về, đều nói các nước phương Tây, duy có nước Hồng Mao và Ma-li-côn là giỏi về thuỷ chiến, khi lái thuyền đi, hoặc phải ngược gió, hoặc được xuôi gió, không khi nào là không nhanh chóng, tuỳ cơ ứng biến, lanh lợi vô cùng, thực nên bắt chước. Kìa như thi thư để dạy học trò, võ Kinh để dạy quân đội, từ trước đều thế, riêng đánh trận ở dưới nước, chưa có sách làm ra cho người học tập, trẫm cũng biết qua một vài phương pháp phương Tây, muốn các ngươi tính nghĩ kỹ càng, làm thành quyển thành pho, cho binh lính ngày đêm học tập, phàm nghe tiếng trống thì tiến, không vì thế địch rất mạnh mà tạm tính rút lui, nghe tiếng chiêng thì lùi, dù thế địch tan vỡ, cũng không được tham lợi mà khinh tiến, và khi đoàn thuyền tiến lui, hoặc nhanh như chim bay, hoặc chậm như cua bò, nhưng không khi nào không có phép để cho nghiêm chỉnh, kẻ làm binh lính chỉ biết sợ tướng, không sợ giặc, đi nhanh không dám quá, đi chậm cũng tự cố, khi tiến khi lùi, đều như nối liền nhau, mới là được việc..."

Lại từng bảo các quan hầu rằng: "Ngày nay các nước phương Tây, lớn nhỏ ở xen nhau, mà đều giữ được bờ cõi, không cắn nuốt lẫn nhau, các nước ấy phần nhiều theo đạo Gia Tô, nghe nói truyền lại, ngày xưa đạo chủ là Chi-thu (Giê-xu) có thề ước rằng: phàm các nước anh em ở phương Tây, nếu có người mưu tính, thì các nước cùng đánh, từ Chi-thu đến nay đã 1840 năm, các nước đều giữ lời ước ấy, cho nên không lấn đánh nhau. Nhưng trẫm thường nghe ngày xưa, vua nước Hồng Mao ở phương Tây không có con trai, chỉ sinh được người con gái, gả cho vua nước Pha-nha, nguyên tục ở phương ây, dù tôn quý làm vua một nước cũng chỉ lấy một vợ, không có vợ lẽ, người con gái ấy đã về nước Pha-nha, về sau vua nước Hồng Mao chết, người trong nước nói: “Vua ta chỉ có một con gái, tức là con trai, nên làm vua trong nước, bèn yêu cầu với nước Pha-nha đón về lập làm vua”. Lâu rồi vua nước Pha-nha ở một mình không thích, bèn bỏ nước ấy đi sang nước Hồng Mao, người vợ nhân trao cho làm chức quan to cùng ở với nhau. Vợ lại nói dỗi dỗ chồng đem hết đồ bản, quan lại, tài vật nước Pha-nha phụ thuộc về nước Hồng Mao, người chồng cũng nghe, người trong nước cũng đều thuận theo, đều làm tôi tớ nước Hồng Mao, cung dâng cống phú. Khi vua nước Pha-nha đã chết, người vợ vẫn còn, người nước Pha-nha cũng cam làm thần dân, không ai làm phản. Đến khi vợ vua nước Pha-nha chết, nước Hồng Mao không khống chế được nữa, lại làm nước láng giềng hoà hảo như xưa. Kể thì người ở phương Tây xem đến chế tạo đồ vật, phần nhiều có ý khéo, ngỡ là bậc đại trí, sao xử đoán việc lớn lại mờ mịt không biết phải trái, chẳng những ông vua nước ấy đắm mê về vợ, cả nước cũng không biết nên chăng chút nào, đem nhau làm con tin với nước láng giềng, sao mà ngu thế? Nói là lời thề ước của đạo chủ cũng là nói dối. Xem ra lẽ phải ở đời, chia lâu tất phải hợp, giả sử trời sinh ra bậc vua anh hùng hào kiệt, mưu thần xét đoán, sáng suốt mở mang bờ cõi, biết đâu chẳng hỗn hợp các nước khác lại làm một, chỉ vì khí vận chưa đến, cho nên còn như thế mà thôi. Thử xem đời Xuân Thu, Chiến Quốc, các nước chư hầu thay nhau hùng trưởng, đều giữ đất đai, rồi sau rút lại vẫn là một há chẳng phải cũng là lẽ đấy ư?”.

(Hự, bác kể chuyện gì thế? >__< Nhưng nói thế này thì đúng thật MM biết cái "hiệp ước" của các nước Thiên Chúa giáo về "đồng lòng hợp sức" chia sẻ thuộc địa.)


Vua bảo rằng vì con cháu dựng sản nghiệp, cũng là thường tình của người ta, không thể nào khỏi, nhưng tiền của cũng như nước suối, nên lưu thông mà không nên ứ đọng, người mưu tính cho con cháu, để cho tiền của khó tụ dễ tan, không bằng để cho phúc có của không hết, người xưa nói: “Để cho con vàng đỏ đầy hòm, sao bằng để cho con một pho sách, nếu chưa thể như thế được, muốn lấy tiền của để cho người sau thì bỏ vàng bạc ra, mua nhiều ruộng đất, cũng không ngại, vẫn có thể làm của cho con cháu ngày sau, việc gì phải chứa nhiều vàng chôn, chỉ là tiền của ứ đọng, khi có con cháu không hiền, cũng không giữ được, há chẳng phải chỉ giữ tiền cho nhọc, rút cục vẫn không có, chẳng là ngu quá ư?

Ngự sử đạo Ninh - Thái là Nguyễn Văn Đạt, dâng sớ xin sưu tập các truyện ký phong vật đời trước làm ra, xem xét sửa lại thành sách, và chính thể của bộ, viện, đều biên chép thành pho. Lại xin đầu bài thi chuyên lấy Kinh Truyện và tập văn của các nhà ghi chép trong Nam sử làm câu hỏi chính, Bắc sử làm dẫn giải phụ thêm, ngõ hầu lời nói việc làm thuở trước của nước ta, không đến nỗi mất, mà sĩ tử đều có thực dụng.

Vua bảo rằng: "Sưu tập truyện ký phong vật đời trước làm ra, thực là việc hay, về văn hiến, trẫm vẫn thích nghe, đã sắc cho các địa phương đi khắp tìm hỏi, lại sai các nha đem tất cả thể lệ, phân từng loại, biên chép thành tập, để rõ chính thể trị nước của đời thịnh, nhưng các việc ấy, vốn không phải là hằng năm, hằng tháng có thể làm được, chậm đến 10 năm không hại gì, huống chi nay việc cần phải làm, vẫn phải cố gắng, lần lượt cử hành, đối với việc có thể hoãn được, chưa có thì giờ mà thôi. Còn như đầu bài thi, xin hỏi về Nam sử, xét ra Sử ký về đời trước của nước Việt ta, phần nhiều không chép đúng, lầm lẫn còn nhiều, còn phải 1 phen sửa lại, mới rõ là sử đúng, nếu vội vàng làm đầu bài cho học trò thi, cũng chưa là thích hợp. Vậy sai bộ Lễ xét kỹ bàn lại, tâu lên."

Vua sai bộ Hộ bàn, cho là sáu tỉnh Nam Kỳ là nơi đất cát màu mỡ, sản xuất ra thóc gạo, từ Bình Thuận trở ra Bắc, dân phần nhiều nhờ có thóc gạo ấy để ăn, nghị trước của quan Kinh lược sứ là lấy việc buôn bán thóc gạo, có quan hệ tới ăn dùng, đời sống của dân so với buôn bán thứ khác chuyên làm nghề buôn có khác, cho nên thu thuế, miễn thuế khác nhau, nay nếu nhất khái đánh thuế, thì buôn bán thóc gạo, thế tất ngày một ít, đó là muốn nặng về việc cấm buôn bán, mà hầu như lại làm khổ dân, xin phàm thuyền ở sông mang chở thóc gạo thì không cứ nhà nông chuyên chở, dù buôn bán cũng được miễn thuế, nhưng thuyền ấy tuy chở thóc gạo mà xét ra có nhiều hàng hoá để buôn, thì chiểu lệ thu thuế, còn thì theo như lời xin của quan tỉnh. Vua theo lời bàn ấy.



Cứ theo án ấy định, không kể tội của hắn, thân thuộc đã phải tội lây, và đem việc Lê Văn Hán cùng với giặc Khôi làm phản, thì một nhà anh em thân thuộc cũng nên phải tội chết, hiện nay chỉ cứ tên giặc Lê Văn Hán và người ở cùng một nhà là bọn Lê Văn Nguyên, Lê Văn Thiện phải xử chém mà thôi, còn người không ở cùng nhà thì hãy tạm giam cấm, các đàn bà con gái và trẻ con đều tha không phải tra bắt. Lê Văn Duyệt cũng tha chém xác cho xương khô được toàn, còn như con của tên giặc Lê Văn Hán là Lê Văn Sơn cũng còn giam cấm, thực đã quá nhờ điển lệ khoan hồng, mấy lần xét án mùa thu đình nghị và pháp quan lại đều cho là bọn Lê Văn Yên theo luật nên phải tội lây và xin xử chém, nhưng trẫm cũng chưa nỡ quyết vội, không ngờ bọn tù trong ngục lại muốn suy tôn Lê Văn Sơn, mưu theo vết xe cũ của giặc Khôi như thế, ác nghịch ngập trời, tội không tha được. Nay đình thần tâu lên, thực do ở lòng công phẫn công tâm, nếu trẫm lại tạm bợ dung cho kẻ gian, giả sử ngày sau lại sinh biến khác thì người sẽ cho trẫm là thế nào? Cho nên không thể không theo lời xin ấy, Lê Văn Yên chuẩn cho tự chết, Lê Văn Tề, Lê Văn Phúc, Lê Văn Thận, Lê Văn An, Lê Hào, Lê Văn Sầm, Lê Văn Doanh đều chém ngay, còn con của Lê Văn Yên là Lê Văn Diễn, Lê Văn Minh, con của Lê Văn Tề là Lê Văn Hợp, Lê Văn Dũng tạm tha cho tội chết, phát đi an trí ở Cao Bằng, đợi khi trưởng thành, do địa phương xét, quả là yên phận giữ phép, hay hoặc có tình trạng hung ác khác, cứ thực tâu bày, đợi Chỉ.

=> Cuối cùng MM cũng "phải" thừa nhận là nương tay với nhà LVD, án từ 1835 đến 1838 còn chưa chịu xử, có đứa trong tù nổi loạn nên mới phải quyết. Cứ kiên trì giam cho đến đời Thiệu Trị thì có phải đã được tha rồi không. =-=




Chép vụn 8
Tuesday, March 4, 2014 Author: Trường An

1835-1836

MM thần tượng Lê Thánh Tông, nên ngày càng giống LTT, nhất là khoản... chém gió. (Mà chắc phàm ai thành công quá cao rồi thì cũng trở nên khinh suất đi.) (Ít ra MM còn đôi khi biết tự nhắc, dù mỗi lần bác nói kiểu đó thì cảm thấy bác có hội chứng "tâm thần phân liệt" hơi cao.) Cảm giác ngày càng độc đoán hơn, nhưng cũng có thể vì sức khỏe yếu đi.

Nguyên nhân Gia Định ưa LVD hơn MM có thể vì... GĐ giàu. Nên không hiểu nổi chính sách đo đếm từng li từng tí, đặc biệt là cấm xuất khẩu gạo, hay cấm "bắt chẹt" dân Cao Miên để khai thác thổ sản bên nớ... (Theo dư luận bên Cam thì chính LVD cũng đã có chính sách vô cùng tàn nhẫn khi đào kênh Vĩnh Tế - cái kênh này là "huyền thoại" với người Cam luôn, sau này moi ra là LVD cùng đàn em có nguyên sở khai thác bên nớ). Nói chung vì GĐ rất giàu, nên chỉ cần buông lỏng cho dân tự do làm giàu là được, mà càng giàu càng... lười, nên dân trốn lính sạch, chỉ khi nào có chiến tranh thì dân khỏi gọi cũng chạy tới. Nên dù có 1,2 ông quan tham nhũng, thì số đông vẫn vui vẻ thoải mái. Mà phải nói trong thời gian trị vì, MM hầu như tập trung hết sức cho miền Bắc, chả làm gì cho miền Nam, mà hễ cử ông quan nào đến là kẻ ấy có vấn đề. Như chuyện buôn gạo, MM mà trợ giá cho người ta bán ở VN thì chắc không phải chở đi buôn lậu, trong khi thuế ở Nam luôn cao hơn Bắc, Bắc được miễn giảm liên tục chứ Nam chả có dịp nào đòi giảm, có nghĩa đóng thuế nhiều mà chả được hưởng cái gì. => Dù không ưa LVK thì dân GĐ cũng không ưa MM.

Đến khi lấy lại được GĐ, lại bắt đầu ngăn sông cấm chợ vì sợ dân buôn lậu, rối loạn trật tự trị an... theo kiểu "không quản được thì cấm", trọng nông ức thương. Có lẽ MM được nuôi dạy bởi các quan người Bắc, lúc ở GĐ thì còn bé nên không có kinh nghiệm thực tiễn nào với nền kinh tế kiểu GĐ. (Dân Nam không thích làm quan nên đi dạy vua tương lai toàn mấy ông đồ nho miền Bắc, càng về sau càng nặng lý thuyết. MM từng bảo 1 ông người Trung là Thái học viện gì toàn người Bắc, thôi ông vào cho nó cân. Mấy cụ đồ này thì biết quái gì làm kinh tế mí lị cơ khí, MM may mà học được từ GL lúc sớm, nhưng về thương nghiệp thì cũng chả giỏi. Cơ bản là GL đã tạo lập hết rồi, chỉ cần buông cho các bến cảng hoạt động, dân yên nghiệp làm ăn là được.)

Sông đào lớn nhất ở Hưng Yên là sông Cửu An, chiều dài hiện giờ là 23,5km, huy động 6.000 người đào.

“Tục nước Chân Lạp có lệ cắt tóc để chịu tang. Nay quan Phiên phần nhiều đã nhận quan chức của triều đình, quân và dân cũng đều đã thành đội ngũ, không như tục cũ nữa." => Tục cắt tóc chịu tang của người Việt xưa. Như vậy thì những phong tục "nguyên bản" của người Việt cổ vốn rất giống với dân cư ĐN Á.


Vua ngự nhà Duyệt thị, bảo Phan Huy Thực ở bộ Lễ rằng : “Thi Đình rất khó lấy được người đỗ đệ nhất giáp (Đệ nhất giáp: tức là trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa.). Nếu không lấy thì là thiếu nhân tài, mà lấy phiếm, e không làm thoả được nguyện vọng của sĩ phu. Nghe nói: đời cựu Lê, đầu bài thi Đình rất nhiều, có người làm văn không làm đủ bài thì nhúng ướt quyển thi đi, là tại sao? Huy Thực thưa rằng: “Phép thi của đời cựu Lê, cốt lấy nhớ nhiều, nếu làm không đủ bài mà để lại e làm nhơ cho tiến sĩ cho nên nhúng ướt đi”.

=> Vậy chả có cái luật nào "không lấy trạng nguyên", chẳng qua là không có ai đủ trình độ trạng nguyên mà lấy. '__' Cả đời Nguyễn chỉ có mỗi 1 bảng nhãn thời Tự Đức, đừng nói tới trạng nguyên.

---

Sau khi hạ thành, báo cáo có 2400 biền binh "đã thu nhặt được hài cốt".

---

Đặt thêm xe “Thuỷ hoả ký tế” ở xứ Yên Yên nguồn Ô Lâu (thuộc địa phận xã Lại Bằng, huyện Hương Trà) để luyện thuốc súng. Lại sai các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đặt thêm (Quảng Nam trước có 3 nơi, nay đặt thêm 2 nơi; Quảng Ngãi trước có 2 nơi nay đặt thêm 1 nơi; Bình Định trước có 2 nơi, nay đặt thêm 2 nơi).

Nhưng chỉ việc gì hay thì vơ vào mình, việc gì dở đùn cho người, chẳng hoá làm cho thức giả cười ư?

Thổ dân Bình Thuận khởi biến. Trước đây, khi Thuận Thành đã đổi đặt làm phủ huyện, sau đó Nguyễn Văn Thừa và Nguyễn Văn Nguyên bị bắt vì việc thông đồng với giặc bị phát giác. Thuộc hạ của chúng là Cai đội Nguyễn Văn Giảng, phân tri Mai Văn Văn sợ vạ lây, liền liên kết với bọn cai, phó tổng Trúc Văn Lân, Long Văn Thiêm và Lâm Văn Bình âm mưu làm phản. Chúng đúc ấn nguỵ, đặt quan chức nguỵ (nguỵ tuân chức cũng như người Kinh gọi là mưu chủ; nguỵ tả hữu phan dung cũng như Kinh gọi là tả, hữu tướng quân; nguỵ cai đội cũng như Kinh gọi là chưởng cơ; nguỵ lâu lang cũng như Kinh gọi là tiền phong, nguỵ thứ quan, nguỵ kha nhi, cũng như Kinh gọi là đội trưởng, nguỵ kha nô cương cũng như Kinh gọi là thứ đội trưởng), dụ dỗ dân Thuộc Man hợp với thổ dân làm giặc, đông đến vài nghìn người lấn xuống các địa hạt Giang Man, Phù Trường (thuộc huyện Tuy Định), Xuân Vi, Lịch Mô (đều là tên thôn thuộc huyện Hoà Đa), cướp bóc giết chóc dân Kinh.

"Nay chuẩn cho các ấn quan ở bộ, viện và Nội các lựa lấy con em các thuộc viên, quan Kinh doãn chọn lấy học trò và nhân dân trong hạt, từ 16 tuổi trở xuống, có chút tư chất thông sáng, và hơi thông văn nghĩa kinh sử, do bộ làm danh sách tâu lên, nhà nước sẽ hậu cấp cho lương ăn để học tập ngôn ngữ văn tự các nước ngoài. Khi học tập xong, mà tài năng kiến thức có điều khả thủ, sẽ liệu cho bổ dùng”. Nhân đó vua bảo Nội các rằng: “Văn tự của Tây dương chỉ có 24 chữ cái. Hiểu được 24 chữ ấy thì những chữ khác đều do đấy mà ra, học cũng chẳng khó”.

Đổi nhà công quán Thừa Thiên làm quán Tứ dịch. Sai bộ Lễ truyền lệnh tập hợp ty Hành nhân ở Kinh và các thông ngôn theo các bộ đều đến cư trú ở quán sở  (Tứ dịch) để giảng dạy ngôn ngữ văn tự Phiên Dương (Phiên Dương: tiếng bấy giờ dùng để chỉ chung các nước Tây dương và phiên thuộc.) cho các con em thuộc viên cùng các sĩ tử và nhân dân do các nha đã tuyển lựa và liệu định khoá trình.

Bọn Lê Bá Tú ở Nội các tâu xin: “Em, cháu, con cái của các đại gia, cự tộc không được kết hôn với con trai, con gái của các vương, công”. Vua cho là phải. Dụ rằng: “Con cái các vương, công không lo không được giàu sang; nếu lại kết hôn với đại gia, cự tộc thì sau này đua nhau, gián hoặc có hạng con em không tốt, nương tựa cửa quyền, cậy thế, phạm phép, thành ra không phải cái ý triều đình thiện đãi các thân phiên. Vậy từ nay nên cấm đi. Phàm con cái, cháu các quan ở Kinh từ Tam, tứ phẩm và ở ngoài các tỉnh từ Bố, án, Lãnh binh trở lên, không được kết hôn với con cái các hoàng tử thân công. Vậy ra lệnh cho Tôn nhân phủ đem điều này ghi vào thể lệ, quy tắc để theo đó thi hành lâu dài”.




Chép vụn 7
Monday, March 3, 2014 Author: Trường An

1834

Dân thời MM xem ra khá hơn dân thời Vũ Trọng Phụng. Ban đầu là quan ở Nam Định huy động được dân đi đào sông thoát nước, kết quả thu được là nước lụt thoát hết, sau Hưng Yên thấy thế làm theo, vua cho tiền mà dân (lẫn quan) tình nguyện không lấy '_' (mà mấy con sông này không ghi tên, chỉ có sông Đào Nam Định là có chút manh mối). Theo đến 1834 thì ở Bắc đã có 6 con sông đào, chắc cũng không lớn (sông Hưng Yên gần 2km, huy động 2000 người mà vẫn gọi là "tiểu công trình"). Nhưng vì vậy mới thuyết phục được đi đào một cái sông "nhớn" khác. (Đã bắt đầu có những nơi bỏ đê vì "giữ lại vô ích".)

Quan quân đánh thành GĐ bị MM mắng xa xả chắc đều nghĩ bụng "Thành do cha ngài xây chứ ai =__=|||" Tội nghiệp cái thành, vì chuyện này mà phăng teo. (Nhưng nghĩ vây 3 năm, làm đủ trò mà không hạ được, chỉ chờ đám trong thành chui ra thì chắc cũng phát khùng).

Lê Văn Khôi vốn người Cao Bằng, lại được ban họ Nguyễn Hựu (vốn phải gọi là Nguyễn Hựu Khôi, sau MM ghét nên mới bảo "nó coi như là con nuôi của LVD, vậy ta gọi nó là LVK"), sách bảo LVD thu được LVK khi đi đánh ở Thanh - Nghệ (LVD chưa bao giờ đến Cao Bằng). Lần ấy LVD đi bình định bọn thổ mục họ Quách, nghe LVD đến thì "tự ra hàng". LVK còn có một người em gái làm vợ lẽ của em trai MM.

Mà thổ mục họ Quách này đến đời MM lại "nhặt" được Lê Duy Lương, trở giáo làm phản tiếp. LVK lấy cớ phò trợ Lê Duy Lương mà lấy GĐ, liên hệ với Nông Văn Vân là anh vợ. Đầu dây mối nhợ ra làm sao mà MM truất ngạch tập tước của họ Lê luôn.

---

Lúc này mới thấy xe "thủy hỏa ký tế" tức là xe chữa cháy, vậy cái "thủy sương xa" vào 1826 chắc là xe hơi nước. Nhìn lại lịch sử thì cái xe dùng động cơ hơi nước được tạo ra đầu tiên ở... phương Đông, do một giáo sĩ làm cho nhà vua TQ chơi. Mô hình xe hơi nước vào thời MM có lẽ là thế này: Hình. Còn cái xe cứu hỏa chắc là cái này: Hình.

Sau này VN mà có sản xuất xe hơi thì MM trở thành ông tổ của ngành xe hơi VN luôn thể. =)) (ờ mà, chữ "xe hơi" là viết tắt của "xe hơi nước" chứ đâu.)

(Mà vầng, "ta ghét nhất là (bị) nói dối" - cái này cũng đã đoán được.)


Sai Hộ thành binh mã Phó sứ Trương Viết Súy đi nguồn Hữu nguyên chế xe “thủy hỏa ký tế” (cách làm: lợi dụng sức nước xô mạnh để máy xoay chuyển, không tốn công sức) và chiếu theo các bài thuốc súng mới chế theo mà luyện thuốc (bài Hồng Phương, bài Hùng Phương, bài Hộc Phương, mỗi thứ 2 vạn cân). Lại phái các viên ty thuộc các Bộ, các Viện và người ở các đội thị vệ, kim thương đến xem để suy nghiệm.

Lại nói: “Ta thấy trong cung dùng nước phải gánh, xách rất phiền, nhân chế ra cái xe nước, từ đó đỡ được biết bao nhân lực (cách thức: đục một cái lỗ từ phía ngoài tường trong cung thông vào phía trong, hình dạng khuất khúc, trong ngoài không trông thấy nhau. Trong tường để một chiếc chậu đồng lớn. ấn định giờ lấy nước, phía ngoài tường, đẩy xe nước đến rót vào miệng lỗ cho chảy vào chậu; trong cung, mọi người đều đến nơi đó lấy nước).

“Trước giờ, những chỗ đông nhà ở, mùa hè rất sợ cháy. Ta đã chế cái xe chữa cháy. Nếu dùng chữa cháy thì đỡ tốn sức mà lửa nào cũng phải tắt. Rồi sau đem xe ra cho bầy tôi xem”. (Cách thức: nước chứa vào trong một cái thùng. Trong thùng làm một cái máy đẩy nước. Lại lấy da cuộn thành một cái vòi tròn mà dài. Khi chữa cháy, 4, 5 người kéo xe, một người cầm cái sào dài buộc vòi da vào đầu sào giơ lên; 4 người theo hai bên xe vặn máy, thì nước trong thùng chạy qua vòi da tuôn lên như mưa).

Vua đến khe doành ở Hữu Trạch xem xe “Thủy hỏa ký tế”, thấy công trình nhanh chóng, rất hài lòng. Thưởng cho viên trông coi làm xe ấy là Trương Viết Súy kỷ lục 1 thứ và 3 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn. Sai viên Kinh doãn chọn chỗ đất ở nơi đó lập miếu thờ chung hai vị thần doành khe và thuốc súng, hằng năm, đến kỳ trọng xuân luyện thuốc súng thì mổ trâu, dê, lợn để tế. Lại sai lập xưởng ở Thái Bình đài, vát 300 lính để theo phương pháp luyện thuốc súng.

---

“Từ trước, các học trò quen theo lối cử nghiệp cũ, nay đổi dùng văn thức tam trường, cốt để chấn chỉnh sửa lại thói quen của học trò để ngày càng đi vào lối học sâu rộng, đầy đủ, đẹp đẽ, thế mà quan trường phần nhiều lại hay câu nệ, thì e rằng những người học rộng, tài cao, khó lấy gì để tự tỏ mình ra được. Vậy, xin từ nay, phàm các kỳ thi hương, thi hội và nha môn các trường học ở trong Kinh và ngoài các tỉnh tất cả những phép khảo thí, dạy dỗ và học tập, khi dùng chữ làm văn, không cứ phải trưng dẫn hay lấy chữ ở sách nào, miễn là chiếu ứng và phát huy được ý nghĩa trong bài thì dẫu chẳng phải là chữ ở chỗ ra đầu bài mà là chữ sinh động nghĩ ra, thực có kiến thức, cũng là đều đáng nên để ý phê khen hoặc lấy đỗ, khiến học trò biết đường noi theo, đua ganh mài giũa, để cho lớn nhỏ đều thành tài, thu lấy thực hiệu được người giỏi”.

Sĩ tử nước ta, kiến văn hẹp hòi, nên lời văn chỉ được thế thôi. Song không những sĩ tử như thế mà cả đến những người dự hàng học quan và các quan trường chấm thi cũng ít người học rộng! Trong quyển thi có 1, 2 câu hợp lối mới, lại bị quan trường sổ toẹt, thì sĩ tử trông vào đâu để làm khuôn mẫu? Vả lại, việc trường thi chỉ chọn những người văn học khoa mục sung vào mà còn như thế, thì nay biết chọn đâu được!”.

“Xưa, Lý Bạch nhà Đường, biết dịch thư nước Phiên; nếu không học thì dịch làm sao được? Ta muốn đặt 4 nhà dịch quán ở Kinh đô, chọn những người am hiểu tiếng nói các nước Phiên, hậu cấp tiền, lương, sai dạy người trong nước, học tiếng nói và chữ viết các nước, để phòng khi phải thông dịch. Trừ những tiếng nói chim muông, còn thì nên biết cả, để trở thành một nước đại văn minh. Như thế thì việc đối ngoại không lầm lỡ, mà quốc thể tự được tôn trọng”.


Khiến bọn Cai đội Nguyễn Lương Huy và Chủ sự Lý Văn Phức coi quản các thuyền hiệu Định Dương và Thanh Dương đi công cán sang Hạ Châu đem theo Cà Lộ và Tú La (hai người này trước bị an trí ở tấu sở Đà Nẵng), người Bút-tu-kê, thả cho về nước.

Thuyền buôn của người Anh Cát Lợi đến đỗ ở tấn sở Đà Nẵng thuộc Quảng Nam, bắn 9 phát súng chào. Phó vệ úy án thủ 2 pháo đài An Hải và Điện Hải là Nguyễn Văn Lượng, Phó vệ úy trú phòng là Cao Văn Điện, vì thấy sắp đến ngày lễ Đại tự, không dám bắn súng để đáp lễ. Việc tâu lên. Vua dụ quở rằng: “Thuyền nước ngoài đến, theo lệ, có bắn súng đáp lễ. Huống chi, bắn súng cũng là việc thường, có hại quan hệ gì đến điển lễ cúng tế? Bọn ngươi sao mà chẳng thông nghĩa lý đến thế!”. Mỗi người đều bị phạt 6 tháng lương. Sắc sai bộ Binh tư hội, và truyền cho 2 pháo đài mỗi đài bắn ngay 3 phát súng để đáp lễ, rồi đến nói với chủ thuyền Anh Cát Lợi rằng: vừa đây, viên giữ tấn sở vì thấy quý quốc mới đến, nên chưa dám tự tiện bắn súng đáp lễ; nay được quan Thương bạc truyền sức, mới theo lệ làm. Sau đó sai bọn sung biện Các vụ là Nguyễn Tri Phương và Biện lý bộ Hộ là Phạm Thế Hiển xuống thuyền đổi mua võ khí và dặn: nên giữ một mực công bình chính trực, khiến sau nó không nói lại gì được mình, để giữ quốc thể. Còn thuế cảng thì đánh theo lệ thuyền Tây dương.

Lại nói: “Ta từ nhỏ rất ghét người nói dối. Biết được ai nói dối, thì không hề tha thứ bao giờ. Hôm vừa rồi, xem thấy sử chép vua Thái Tổ nhà Minh có cho dựng một tấm bia ở trong cung, khắc mấy chữ “Nói càn bậy thì chém”. Lúc mới ta cũng cho là phải, nay nhân nghĩ: Phàm người nói dối, xét về tình và lý, cũng có nặng nhẹ khác nhau, há nên nhất thiết trị tội cả? Ta ở trong cung, nghe ở bên cạnh có tiếng ho, hỏi, họ chối là không. Như vậy là họ sợ ta mà phải nói dối, thì có tội gì! Xưa, vua Thuấn hay hỏi và hay xét đoán. Thực  nên noi theo. Có điều là những bậc vua chúa, có người xét đoán sáng suốt, có người xét đoán hà khắc; hay, dở do đấy lại có khác nhau”.

Vua dụ rằng: “Năm ngoái, tên giặc Khôi làm phản, có nhiều người nhà Thanh a dua, mang lấy tội chết. Nay bọn khách đáp thuyền này đến đây, lại không có bang trưởng chịu trách nhiệm cam kết bảo đảm. Vậy truyền chỉ cho bọn thuyền hộ: lần này là lần đầu lầm lỗi, triều đình hãy tạm tha thứ, không nghiêm trách. Từ nay, phải bảo nhau: nếu là những người có vật lực đi buôn thì mới được đáp thuyền đến trao đổi mua bán. Còn cứ chở đến hàng trăm hàng nghìn những quân vô lại du côn, lỡ xảy ra việc lôi thôi thì phạm nhân tất bị xử tử, mà thuyền hộ cũng bị trị tội nặng và của cải trong thuyền đều bị sung công. Nay hạn cho trong tháng tư, phải quay buồm về, nếu cố ý để hành khách lưu lại kéo lên bờ gây sự, thì thuyền hộ tất bị chém đầu, không tha”.

“Trận đánh thành này đều đã hết lòng trù tính, hiệu lệnh rất đều, ba quân cùng cố sức xông pha dưới mũi tên ngọn giáo, ai cũng muốn giết hết giặc để tỏ lòng nghĩa phẫn. Ngặt vì thành này hào sâu, tường cao, đánh phá thực khó, mà đánh bằng hỏa yên, hỏa tiễn cũng vô hiệu, cho nên rút cục không thành công.

Dòng dõi vua Chiêm Thành là Quản cơ, hàm Vệ úy Nguyễn Văn Thừa, bị tội, phải tống giam.

Năm ngoái Đỗ Văn Hoan, người Bình Thuận buôn bán ở Gia Định, gặp khi giặc Khôi làm phản, có gửi y chở giúp người Man, tên là Tiêm Vô (gia nô của Nguyễn Văn Vĩnh, nguyên trấn thủ Thuận Thành) mang mật thư của giặc dụ tên Thừa chiêu tập bè đảng, chờ khởi sự. Thừa đã nhận lời, âm mưu làm phản. Sau được tin quan quân tiến đánh, tên Khôi liều chết, cố giữ cô thành, Thừa bèn thôi việc mưu phản. Sau, tên Hoan bị người ta tố giác việc này ; quan tỉnh là Hoàng Quốc Điều và Phan Phu liền bắt Hoan giam giữ nghiêm cẩn, rồi tham hặc việc Thừa tư thông với giặc. Vua cho đòi về Kinh để xét hỏi, nhưng Thừa nhiều lần cáo ốm, không chịu đi. Bèn cách chức, khóa giam lại và sai Ngự sử Lê Hữu Bản đến hội xét, nhưng Thừa còn giảo trá chối cãi. Sau giao cho bộ nghiêm xét, Thừa chịu thú nhận và xưng ra đồng đảng là Nguyễn Văn Nguyên (con Nguyễn Văn Vĩnh). Liền cho bắt cả để xét xử trị tội.

Các lễ tiết hằng năm: Tế Nam Giao, đàn Xã tắc vào 2 ngày ngày mậu, mùa xuân, mùa thu và lễ Nguyên đán ở liệt miếu, lệ vẫn đốt đèn lồng lớn sáng ngời, từ nay bỏ bớt đi; duy các miếu, đàn, từ, vũ về các vị trung tự, quần tự, đèn đuốc không bằng những bậc đại tự, thì vẫn theo lệ cũ. Lại, các tiết Thánh thọ, Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương ở trước sân cung điện và trước Ngọ Môn, lệ có treo đèn lồng, cũng bỏ.

Tiết Vạn thọ. Hằng năm, vào ngày hôm trước, treo cờ khánh hỉ ở trên kỳ đài, đốt 1.000 ngọn đèn đĩa ở phía trước kinh thành; đến hôm chính ngày lễ, ở nhà Duyệt Thị thì có múa bát dật, hát bội; ở đài phía nam thì đốt cây bông, múa bài bông.

Bộ Hộ bàn định rồi tâu: “Minh Mệnh năm đầu [1820], có lệ định về các thuyền buôn ngoại quốc đi tới các địa hạt: thành Gia Định cũ thì đánh thuế toàn ngạch; còn từ tỉnh Bình Thuận trở ra Bắc, chiếu theo ngạch thuế đánh ở Gia Định, mà giảm dần hoặc 2 phần, hoặc 3, 4 phần không giống nhau: Đó vì Gia Định là nơi buôn bán sầm uất, còn các hạt khác thì chỗ nhiều chỗ ít khác nhau, nên chiết trung, châm chước, định ra phân số có hơn kém nhau. Nhưng, gần đây, từ Bình Thuận trở ra Bắc có đường biển thuận lợi, thuyền buôn qua lại ngày một nhiều, Nam Định và Hà Nội lại không kém gì Gia Định, nếu cứ nhất khái theo như lệ trước, chẳng hoá ra như người đánh dấu vào thuyền để tìm gươm ư? Vậy xin từ nay, hễ các thuyền buôn ngoại quốc đến buôn bán, thì ở 6 tỉnh Nam Kỳ cứ theo như lệ thành Gia Định cũ, tính thước đánh thuế toàn ngạch. Còn về Tả Kỳ (Tả Kỳ: chỉ tỉnh Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận và Khánh Hoà.) từ Bình Thuận trở ra, đến Quảng Nam thuộc Nam Trực (Nam Trực: chỉ Quảng Nam, Quảng Ngãi.), về Bắc Trực (Bắc Trực: chỉ Quảng Trị, Quảng Bình.) từ Quảng Trị trở ra đến Ninh Bình thuộc Bắc Kỳ, đều chiểu theo ngạch thuế Nam Kỳ, giảm 1 phần 10. Đến như Nam Định, Hà Nội và các tỉnh ngoài ở Bắc Kỳ, đều đánh thuế toàn ngạch như Nam Kỳ. Duy Thừa Thiên là nơi kinh đô, sự thể không giống với các hạt khác, xin theo như lệ trước, giảm 4 phần 10 so với Nam Kỳ. Còn đối với Ma Lục Giáp (Ma Lục Giáp: tức là Malắcca, một nước nhỏ thời xưa, ở về phía tây nam bán đảo Mã Lai, cư dân là người Mã Lai.), trước đây đánh thuế như ở các xứ Quỳnh Châu, Lôi Châu và Chà Và, nhưng nay Ma Lục Giáp đã là thuộc địa của Anh Cát Lợi, thì xin đánh thuế như các nước ở Tây dương, bắt đầu thi hành từ tháng giêng năm Minh Mệnh thứ 16 [1835]”.

Vua cùng bộ Binh bàn về tình hình nước Xiêm : “Vả, phong tục của họ như: hằng năm, đến ngày lễ “Làm phúc”, họ đem vàng bạc chặt ra từng tấc từng phân, vứt ra cho các quan tranh nhau nhặt lấy thì còn ra lễ nghĩa gì? Lại còn lấy hoa quả tung ra cho mọi người tranh nhau cướp, thậm chí giẫm, đè lên nhau mà chết bẹp. Làm phúc như vậy kể cũng quái gở! Họ lại nói: họ có một thứ ngọc, hễ đeo vào người, không bị trúng đạn. Ta đã lấy ngọc ấy đeo vào cổ một con vịt rồi bắn thử thì vịt chết."

=))




BB
Sunday, March 2, 2014 Author: Trường An

Đọc về chiến tranh quá buồn ngủ nên tổng kết những công trình nhà Nguyễn xây cho Bắc Thành (kẻo quên mất).

- Cung điện - Thành quách: Gia Long cho xây lại thành Thăng Long đã bị sập gần hết thời Lê. Thời Lê Trịnh, chúa Trịnh chỉ tập trung xây phủ chúa, thành TL bị tàn phá qua chiến tranh Lê Mạc thì không được trùng tu - Cuối Lê sơ, Trần Cảo đã phóng hỏa đốt cháy hoàn toàn cung thành rồi, nên những gì còn lại chỉ là do Mạc - Trịnh xây dựng. Khi đến đón sứ ở Thăng Long, Gia Long phải tiếp tục xây thêm điện đài ở sau điện Kính Thiên, vì không còn nơi ở.

Vài năm sau, quan ở Thăng Long tiếp tục đưa đơn xin trùng tu điện Kính Thiên vì "đã mục nát hết". Sự xây dựng bên trong thành có lẽ được đẩy mạnh trong thời Lê Chất - nên đến 1835, Minh Mạng xử tội Lê Chất có thêm tội xây cất trái phép quá nhiều điện đài trong thành, cho hạ bớt.

(Nghĩ cung điện Huế kia cứ vài chục năm là lại phải trùng tu vì xuống cấp, cái điện cả trăm năm thì còn cái quái gì mà đòi dỡ? =__= Hâm mới đi đem gỗ mục về, cái gì lấy được thì Thanh với Tây Sơn tha cho đấy? Nguyễn Huệ khuân hết đồ của phủ chúa Trịnh về chứ cái cung thành có quái gì đâu mà lấy?)

Đến 1832, Minh Mạng cho đắp thành trì trong 10 phủ huyện.

- Kinh tế: Theo những báo cáo trong Thực lục, thương buôn ở Bắc Thành đi 2 lối: Đường biển từ Nam Định đến Hà Nội. Nam Định thay thế cho vai trò cửa ngõ của Phố Hiến ngày trước, trong khi thương nhân người Hoa chuyển dần về 2 địa phương này, tập trung ở Hàng Buồm HN và Nam Định (đến đầu thế kỷ XX còn ghi nhận rất nhiều làng xóm người Hoa ở Nam Định). Triều đình cũng cho lập sở thu thuế ở 2 nơi này.

Đường bộ thì có Lạng Sơn - Nhưng theo báo cáo vào thời Nguyễn, đường bộ từ Sơn Nam lên Lạng Sơn chỉ có 1 đường mòn rất nhỏ, xen lẫn với đường của dân trong núi. Sự vận chuyển giao thương đường bộ giữa Bắc Thành và Trung Quốc có lẽ chưa bao giờ phát đạt trước thời Nguyễn. Tỉnh lỵ Lạng Sơn vốn chỉ có vai trò giao lưu buôn bán với các thị trấn vùng cao và thu thuế khai thác mỏ. Sau này, Minh Mạng mới cho mở rộng đường thẳng từ Hà Nội lên Lạng Sơn. Khi vùng biển Bắc bộ bị cướp biển nhà Thanh và Tây xâm chiếm, đường lưu thông buôn bán còn lại ở Bắc bộ là con đường này - trước khi nó bị Thái Bình Thiên quốc chặn nốt.

- Nông nghiệp: Theo báo cáo, hệ thống đê ở Bắc được xây dựng vào thời Trần, được củng cố thêm vào thời Lê, nhưng vốn chỉ có tác dụng ngăn nước tự phát. Và đến thời Nguyễn, ngay sau 1802, đê điều đồng loạt... vỡ. Dù đã được Gia Long cho tu bổ lại, hệ thống này đến đời Minh Mạng vẫn là mối đe dọa. Do hệ thống đê này làm thay đổi dòng chảy của nước mà hoàn toàn không có quy luật nào, sức nước trở nên hung hiểm hơn, tình trạng ngập lụt xảy ra liên tục. Triều đình phải cho người đi thăm dò, đo đạc từng dòng chảy của nước để lập kế hoạch xây lại toàn bộ hệ thống đê. Cho đến ngày nay, toàn hộ đê điều ở Bắc bộ vẫn là hệ thống đã được triều Nguyễn điều nghiên xây dựng.

Một khuôn mặt xuất sắc trong triều Nguyễn là Nguyễn Công Trứ đã mở đầu cho công cuộc khai khẩn đất đai ở những vùng đất ven biển, từ Nam Định, Hải Dương đến Quảng Ninh.

Năm 1837, Nguyễn Công Trứ một lần nữa đề xuất đào khai một đoạn sông Đuống làm giảm sức nước. Đến thời Tự Đức, sông Đuống được đào mở rộng thêm, làm đường phân lũ cho sông Hồng. (Dự tính sông Đuống làm giảm được 20-30% sức lũ của sông Hồng chảy qua Sơn Tây.)

(Công trình xây đê này được khởi động vào 1830-1832, vốn lớn đến mức phải chia nhỏ ra để làm từng phần. Cùng với hệ thống thành trì, pháo đài được xây lúc ấy, có lẽ quân dân phải "lao dịch" không ít. Nhưng đến cuối 1832, đầu 1833, trời... bão, gây ngập úng phần trong đê. Có lẽ đây là một phần nguyên nhân thúc đẩy hàng loạt cuộc nổi loạn vào 1833.

Vì hiện tượng ngập úng này, có nhiều ý kiến trong triều Nguyễn là nên phá bỏ đê. Vì hệ thống đê được khởi động từ thời Lý Trần vốn mang tính cục bộ của các điền trang nhằm bảo vệ đất đai riêng của mình, lâu dần thành lệ - Nếu phá bỏ đê, có thể để nước tràn vào rồi tự rút như đất miền Nam (nên ở miền Nam chỉ thấy hệ thống sông đào là nhiều). Nhưng sau khi điều nghiên, thấy những vùng đất thấp rút nước rất chậm, ngập rất lâu, hệ thống đê được quyết định giữ lại. (Cũng có lẽ do các vua Nguyễn cũng ớn sự manh động của dân Bắc, các con sông đào miền Nam đều huy động từ vài ngàn đến cả vạn người làm cực quên chết, chỉ đến thời Pháp thì Pháp mới nắm đầu dân Bắc đi đào được thôi.))

- Khai thác mỏ: Ngoài những mỏ vàng bạc, diêm tiêu, đồng... đã được khai thác, năm 1840, Minh Mạng cho chỉ dụ dân ở Đông Triều đào mỏ than. Hiện nay, Minh Mạng được coi là ông tổ của ngành than VN.



Thành quách, đê điều, giao thông, thủy lợi, khai thác, kể cả đền miếu chùa chiền, Minh Mạng xây trong 10 năm còn nhiều hơn cả ngàn năm.

(Mà chiẹp, đọc sử thời Minh Mạng mới thấy các ông quan văn có chút tác dụng, có kiến thức trị thủy, canh nông, đến quan văn cũng bị lôi đi chiến đấu, tham mưu cố vấn chiến trường, vận tải chứ không phải đi cãi nhau chi hồ giả dã, xem Khổng Minh hay Khổng Tử hay khổng tước giỏi hơn hay xem chữ ai đẹp hơn. Cao Bá Quát làm gì đủ khả năng so sánh với Nguyễn Công Trứ?)

---

Nhân chuyện đê điều thì xem lại "Vỡ đê" của Vũ Trọng Phụng. Vầng, đắp đê cho mình mà dân thì trốn, quan thì tham, lại thì ác, trí thức thì chỉ giỏi cái mồm "dân chủ", cuối cùng đê vỡ cuốn cái véo đi hết. Đã hiểu. :))

"-Đời bây giờ, người ta chỉ cần chiều đời để bán báo, bán sách cho chạy chứ người ta kể gì đến liêm sỉ và lương tâm! Vả lại, cũng không nên trách họ, vì trong cái số hoạt đầu, tựu trung cũng có một đôi kẻ thành thực, tin rằng phải hoàn toàn theo mới, phải âu hóa cả trăm phần trăm thì mới là tiến bộ, văn minh. Cái thành thực của bọn ấy vẫn là đáng khen, tuy cái ngu của chúng thì chỉ đáng thương hại.

- Nhẩy đầm, đánh cá ngựa, ăn ngon, mặc đẹp, dùng những hàng mỏng để may những bộ y phục phô ra những đùi với ngực, như thế, chỉ có như thế, mà đã cho là văn minh, tiến bộ rồi?

-Đối với kẻ ngu thì những cái hình thức thế thôi là đủ rồi chứ còn gì nữa!

Minh xo vai, thở dài:

- Chết chết! Nếu vậy thì cũng buồn cho “trí thức” và cho “ngôn luận” thật.

- Tôi thì tôi chẳng buồn gì cả vì tôi cho những điều ấy là không thể tránh được. Anh muốn gì? Muốn dân tộc vô đạo, vô học, bán khai, không lý tưởng nào thờ, lại mấy nghìn năm nô lệ như dân mình, tất nhiên... tất nhiên cái tinh hoa đất nước của dân tộc ấy chỉ có thể đào tạo ra được những bậc trí thức nô lệ. Thật thế, tinh thần nô lệ là một thứ... quốc bảo cổ truyền, và sẽ mãi mãi di truyền. Xưa kia nô lệ Tàu, thì theo Tàu là văn minh. Bây giờ nô lệ Tây thì âu hóa kia mới là văn minh. Tôi tin rằng nếu người da đen ở bãi sa mạc Sahara mà có đến chiếm nước ta thì cái bọn trí thức ấy tất nhiên cũng sẽ hô hào đạp đổ tất cả những cái “cũ” để mà theo “mới”, nghĩa là... Phi hóa thì mới lại là văn minh! Trách gì cái óc nô lệ!"

---

Trong "Vỡ đê" của Vũ Trọng Phụng có một câu của dân quê cực kỳ hay: "Chúng tôi chỉ cầu vỡ đường vỡ xá để nhà nước miễn thuế, chứ có ruộng đất hoa màu nào để mất mà sợ?" - Họ chỉ biết "không phải của-mình thì không cần có trách nhiệm", không hề tính là khi đê vỡ, hoa màu mất thì giá lúa tăng, sẽ đói, mà lụt thì cũng chẳng còn gì để làm kiếm cơm. Khi địa chủ vì lụt mà bỏ làng đi mất thì nông dân chỉ có đói càng thêm đói. Nông dân vừa sống phụ thuộc vào địa chủ vừa ganh tị, tính gần chứ không tính xa. Chỉ cái gì của-mình thì họ mới coi trọng. (Thật ra cái tính cách này có trong mọi thành phần.)





Copyright © Trường An. All rights reserved.