Solitude

.Sự thật không thuộc về con người, cũng chẳng thuộc trời hay đất. Nó thuộc về ngọn gió. More...

Vụn vặt
Friday, November 13, 2009 Author: Trường An

Đi đọc về Nhân Văn giai phẩm. Thở dài.

-Mỗi người chịu trách nhiệm về hành động của mình. Nếu xã hội, tức là nhân dân, đạt tới một trình độ văn hoá cao, có mức nhận thức trong sáng, thì những cả gan của một tư tưởng khác với đường lối chung sẽ không bị trừng phạt, mà ngược lại sẽ được khuyến khích, bởi sự tiến bộ của dân tộc tùy thuộc vào những cả gan này. Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng không bao giờ số đông quần chúng có thể khai quang được một lối đi trong rừng rậm của dốt nát, thành kiến, hèn hạ, để tiến lên một bước về phía ánh sáng mặt trời. Trong thành Athènes, kinh đô của hiền triết, Socrate đã phải uống cạn cốc độc cần, để lại bài học cho những trí thức trên thế giới suy nghiệm và noi theo: người trí thức phải giữ vai trò tiên phong, hướng đạo trên con đường khó khăn và nhọc nhằn, để dẫn dân tộc đến niềm vui và hạnh phúc.

Nước ta đã phải chứng kiến sự thâm nhập của một chủ nghĩa ngoại bang hoàn toàn không bắt rễ từ quá khứ dân tộc. Bao nhiêu nhà ái quốc lớn mà mọi người đều kính phục đã bảo vệ, đã bênh vực, đã bảo trợ cho chủ nghiã này, họ đã đưa nó ra rồi bắt dân chúng phải thừa nhận, bằng cách hứa hẹn nó là chìa khoá mở cửa vào thiên đàng trần thế. Quần chúng tin vào lời nói của lãnh đạo và chờ đợi sự thực hiện những lời hứa. Chính nhờ vào sự đồng tình, vào những cố gắng, những hy sinh của của toàn dân mà đất nước đã giành được độc lập và tự do. Những cánh tay làm việc và những cái đầu suy nghĩ đã là rường cột cho đảng cầm quyền.

Bất hạnh thay, con đường chúng ta đi không bọc nhung. Hợm mình trước những chiến công hiển hách mà họ tưởng đã đạt được nhờ chủ nghiã mác-xít, những người lãnh đạo đã xây dựng nền móng và áp dụng sâu rộng hơn chủ nghiã này trong tất cả các ngành, không cần đếm xỉa đến khoa học và thực tế, tuy vẫn hô hào kính trọng giáo dục. Cuộc cải cách ruộng đất đưa đến những sai lầm nghiêm trọng mà những người cầm quyền phải chịu trách nhiệm. Sự đói khổ của nhân dân đã đến mức khốc liệt, vậy mà những kẻ trách nhiệm vẫn khoác lác rêu rao những điều ngược lại.

Trước bi kịch này, thái độ của trí thức phải thế nào? Có kẻ bịt mắt đút nút lỗ tai để đồng thanh phụ họa với bọn cơ hội và phỉnh nịnh, luôn miệng kêu gào: "Cộng sản thắng lợi. Đảng Cộng sản muôn năm". Những kẻ này hy vọng được ân sủng đến ba đời. Công chúng biết rõ và khinh họ. Nhưng những khối óc biết nghĩ và và những trái tim yêu tổ quốc và dân tộc không thể nhẫn nhục chịu đựng -trong im lặng và thụ động- những cay đắng của khát vọng không thành và những giấc mơ bị chà đạp. Họ lên tiếng tố cáo những sai lầm và đề nghị những biện pháp sửa đổi. Họ được cám ơn bằng những cú roi quất, bằng tù tội suốt đời, họ bị kết tội phản đảng, phản cách mạng, là kẻ thù của nhân dân! Sự an ủi duy nhất của họ là được quần chúng hiểu, ái ngại, nhưng không làm gì cho họ được. Họ phải đợi sự phán đoán của Lịch sử".

"Không một lời tuyên án. Những người cộng sản ưa bí mật. Lệnh được quyết định và thi hành trong yên lặng chết chóc. Công chúng không biết gì cả: bí mật được giữ trọn để khỏi khơi lên những tình cảm vô ích, những xao động đáng tiếc! Họ đã tiên đoán tất cả và hành động kịp thời!"

Nguyễn Mạnh Tường (Un excommunié, trang 226- 229).




Hoàng Việt luật lệ
Sunday, November 8, 2009 Author: Trường An

Đi dò lại một số sự kiện lại thấy trên wiki cái này:

Năm 1810, ông được triệu về kinh, lãnh ấn Trung Quân, rồi được giao cử chức tổng tài trong việc soạn bộ Hoàng Việt Luật Lệ (thường được gọi là luật Gia Long). Bộ luật có hai phần, chia làm hai mươi hai quyển, có tất cả ba trăm chín mươi tám điều, ban hành năm 1812, đến năm 1815 được khắc in và định Quốc Sử. Hoàng Việt Luật Lệ là bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh nhất lúc bấy giờ.

Trước khi ban hành, Nguyễn Văn Thành có dâng sớ tâu lên vua Gia Long, trong sớ ông trình bày về việc: "...đặt lại quy tắc khoan hồng và thưởng phạt. Khi xem đến luật triều Thanh, đức Thánh thượng nhận thấy đó là bộ luật gồm đủ các sắc luật của các triều đại trước, nên ban sắc chỉ dạy các quan đem ra bàn bạc, xem xét cùng hạ thần ngỏ hầu chọn lấy những gì khả dĩ soạn thành bộ luật riêng để dùng trong nước... Sách đã dạy: Trừng phạt để về sau không còn phải trừng phạt nữa, đặt ra tội hình để về sau không còn phải dùng đến tội hình nữa. Điều đó há chẳng phải là điều mà Đức Thánh thượng hằng mong muốn hay sao?"

Hoàng Việt Luật Lệ xếp theo sáu loại: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công luật. Cũng giống như luật Hồng Đức, đây là một bộ luật phối hợp, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội thuộc nhiều lãnh vực khác nhau: từ luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân gia đình đến cả luật hành chính, luật tài chính, luật quân đội và luật quốc tế. Hoàng Việt Luật Lệ là luật thực định của một triều đại tồn tại hơn một thế kỉ và nó góp phần ổn định trật tự xã hội, củng cố các phong tục, tập quán cổ truyền tốt đẹp của dân tộc cùng với nhiều định chế rất tiến bộ.

Lược khảo Hoàng Việt luật lệ - Nguyễn Q.Thắng - NXB Văn Hóa Thông Tin Hà Nội, 2002
Lịch Sử Việt Nam, tiến sĩ Huỳnh Công Bá, NXB Thuận Hóa, 2007

=)) =))

Nói ngược cũng là các bác mà nói xuôi cũng là các bác.

(Nói nhỏ: tìm sách của NXB Thuận Hóa đọc đê. Nhiều cuốn rất hay đó. Đúng là "Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ". Người ta đều nhớ cả, chỉ có bây giờ mới được nói thôi.)




Kết
Saturday, November 7, 2009 Author: Trường An

Cuối cùng cũng viết xong. Công trình dài nhất từ trước đến nay. '_' Bắt đầu từ tháng 4, định kết thúc vào tháng 10 để tròn nửa năm, nhưng đến giờ mới xong. Thôi, số 7 cũng đẹp. :D

Rồi, list ra những chỗ cần sửa:

- Thêm vào 1 vài nhân vật. Các quan văn của quân Nguyễn được nhắc tới khá ít hơn quan võ, trong khi có vài người rất quan trọng trong miếu thờ Trung hưng công thần. Vừa mới tìm được lý lịch của vài người đó.

- Đổi 1 số chi tiết.

- Thêm vào 1 số chi tiết cho nhân vật. Ví dụ như Bá Đa Lộc không chỉ là giáo sĩ, nhà quân sự, khoa học mà ông còn là 1 học giả. Ông đọc thông viết thạo cả tiếng Nôm lẫn Hán, hiểu biết về tất cả các danh tác phương Đông và hoàn toàn có thể bàn chuyện triết học với người phương Đông. Ông còn bộ từ điển được lưu giữ đến giờ.

- Chỉnh lại 1 số địa danh. Dù đã dựa vào Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí, tớ cũng đã tẩu hỏa nhập ma trước cách đổi tên liên xoành xoạch. =_= Có khi cái tên chỉ cách nhau có mấy năm.

Chừng nào chỉnh sửa ưng ý rồi thì tớ post. :P

Thôi, cũng đi tổng kết 1 số thứ chứ nhỉ.

  • Hôm qua ngồi đếm được hơn 514.000 chữ.
  • Nhân vật (tác giả) thích nhất: Sau một hồi phân vân giữa Gia Long, Ngô Văn Sở thì chọn... Võ Tánh. Ờ, thật ra giữa giai miền Bắc vừa tinh vi vừa kiêu căng, giai miền Trung tính toán khắc khổ, giai miền Nam dù sao vẫn rất đáng yêu mừ, dù nhiều lúc dễ làm mình tức chết. =))
  • Nhân vật khó viết nhất: Võ Tánh. Viết về 1 người hoàn toàn khác mình bao giờ cũng khó, thế thôi à.
  • Nhân vật viết mà chưa vừa lòng nhất: Bá Đa Lộc. Khó thể hiện được con-người-học-giả của ông, trong những việc tranh chấp tính toán thường ngày. Đây là 1 con người về mặt cá nhân phải nói là kiệt xuất - cho nên có cảm giác chưa viết được. /_

--------------

Nói nhảm thêm một chuyện: Đi đọc các tài liệu về chiến dịch tấn công Đông Dương của Pháp bằng tiếng nước ngoài (chi tiết hơn hẳn sử Việt =__=), thấy người ta đánh giá thế này này: Chiến dịch Đông Dương là 1 thất bại của Pháp.

Ban đầu Pháp chỉ định đánh 1 cuộc xâm nhập nho nhỏ - thấy gương nhà Thanh bại dưới tay Anh rất ư nhanh chóng kìa - nhưng rồi trận đánh kéo dài đến 6 năm, nhiều lúc Pháp mấp mé ranh giới phải lui quân, thay cả 1 viên đại tướng chỉ huy chiến dịch vì qúa bết bát. Và quân Nguyễn cũng không thua vì vũ khí. Đây là ghi chép của quân tấn công:

The bay was defended by several forts. Some of these dated from the period of Pigneau de Béhaine and Olivier de Puymanel, but they were all in good condition, 'very superior', said the admiral, after visiting them, 'to anything we saw in China'. The cannons, of large and medium calibre, were mounted upon modern gun-carriages, the powder came from Britain, and the infantry was armed with good rifles, made in Belgium or France. Their arms, in the hands of trained soldiers, would be capable of sinking the entire naval division, and we were expecting the defenders at the very least to put up a serious resistance to it.

Quân Nguyễn thua vì chiến lược tấn công của người Pháp - Vì không kiểm soát được mặt biển. Bị đánh lui khỏi Đà Nẵng, quân Pháp tấn công bán đảo Tiên Chà, rồi Cẩm Lệ. Bước quyết định là quân Pháp đã vòng ra Gia Định, tiêu diệt kho cung cấp quân lương cho toàn Việt Nam ở đây. Chiến lược này, đã thấy Gia Long sử dụng.

Dù không kiểm soát được Gia Định, Pháp đã khiến quân Nguyễn rối loạn. Một lần nữa, ta thấy tầm nhìn của Gia Long đã được chứng tỏ ở Gia Định. Các đồn điền bây giờ đóng vai trò các đồn quân phòng thủ. Thành Gia Định đã bị phá để xây thành nhỏ hơn, nếu không đã không thất thủ nhanh đến thế - nhưng dù sao cũng bắn phá được ít nhất 2 chiến thuyền Pháp.

Rồi quân Việt thua, 1 lần nữa, không phải vì lực cũng như vì "thiếu hiểu biết" mà vì... biết qúa nhiều. =_=" Pháp dưới triều đại Napoleon III lúc đó đang mắc kẹt tứ tung vào đủ thứ trận chiến khác nhau - đặc biệt trong thời gian ấy Pháp đang đánh nhau với Áo-Phổ và mắc kẹt tại Ý. Triều Nguyễn biết rằng quân Pháp không đủ lực lượng để đánh lâu dài nên cương quyết không chịu nhượng bộ Pháp, cài quân đánh xung quanh Sài Gòn và Đà Nẵng, định khiến Pháp phải lui quân tay trắng.

Nhưng đời ai biết chữ ngờ. Chiến thắng cuộc chiến tranh thuốc phiện lần 2 tại Trung Quốc, Pháp đổ thêm mấy ngàn quân với 70 tàu chiến nữa xuống Việt Nam, mua thêm vũ khí và quân lính ở Macao. Lúc này, Trung Quốc đã trở thành căn cứ cho quân Pháp. Cùng với quân Tây Ba Nha, Pháp hạ Gia Định. Thảm họa của VN bắt đầu từ đó.

Có 1 điều là Pháp đã quyết định bỏ không đánh Bắc thành mà đánh Gia Định, bất chấp lực lượng phản đối triều đình lẫn người Công giáo theo Pháp rất lớn ở Bắc thành. Mất Gia Định, triều Nguyễn mất căn cứ của lực lượng trung thành nhất, cũng như mất kho cung cấp lương thực. Trong khi đó, các lực lượng thiểu số ở Tây Nguyên, Nam Trung bộ, Bắc bộ được nhà-nước-VN hiện tại trân trọng gọi là "lực lượng nông dân" nổi dậy... chống triều đình - Sau này họ được Pháp ban thưởng "nước Nùng tự trị" với "Tây Nguyên tự trị" abc các kiểu. Vầng, gọi đó là "lực lượng yêu nước" đi ạ.

Thêm 1 điều nữa, VN thua vì không kiểm soát được mặt biển - ở đây là thua về tàu chiến. Sau thập niên 1830s, động cơ hơi nước đã làm thay đổi toàn châu Âu, dẫn đến hàng loạt sự thay đổi - Nhất là chế ra loại tàu "đi không cần gió". Đại bác trên tàu cũng được cải tiến phát triển chuyên biệt. Từ năm 1841, Minh Mạng đã mua tàu hơi nước về cho VN. Nhưng có lẽ cùng với chiến tranh thuốc phiện, con đường mua vũ khí này đã bị cắt đứt. Cũng có thể vì VN mắc kẹt vào trận chiến với Xiêm ở Chân Lạp và mấy lực lượng phù Lê vớ vẩn trong nước (Vầng, xin lỗi ai hâm mộ Cao Bá Quát, lực lượng phù Lê của bác ấy vớ vẩn chết người).

Đã có 1 khoảng cách khá xa của khoa học quân sự năm 1840 với năm 1860 - như năm 1980 với năm 2000. Năm 1847, quân Nguyễn đánh bại tàu chiến Pháp, nhưng đến năm 1858 thì hải quân Nguyễn không chống cự được. Quân Pháp đã kiểm soát mặt biển tốt hơn - và đã giành phần thắng.




Nói
Wednesday, September 2, 2009 Author: Trường An

Có những chuyện viết ra chỉ vì để viết ra, vốn không có một mục đích nào ngoài chuyện sợ rằng nó sẽ bay mất. Người Mỹ có 1 thuật ngữ rất hay là "plot bunny" - con thỏ sẽ chạy mất ngay lập tức. Cứ như thế, hàng vạn, hàng triệu ý nghĩ sẽ trôi đi nếu không nắm lại được. Đó chẳng phải là uổng phí sao?

----

Lại có một người hỏi mình tại sao lại sửa sách giáo khoa lịch sử rằng nhà Nguyễn không "hèn nhát", "trốn tránh" cuộc chiến với Pháp mà có cái khó riêng - Vẫn không hiểu, cũng như nhiều người rất không hiểu "cái khó riêng" này là thế nào, và cũng nản lòng với những cuộc tranh luận kiến thức thì ít - cãi nhau thì nhiều về lịch sử.

Cái khó ấy - người ta nói ra nhưng không giải thích, vì đó là chuyện rất khó nói, thế thôi. :) Nhưng chỉ 1 chi tiết mà người ta thường dùng nó để chống lại nhà Nguyễn, nhìn vào nó thì sẽ hiểu: Dân Hà Nội, trong khi quân triều đình tử thủ giữ thành, vẫn giữ thái độ dửng dưng, thậm chí ngay sau khi quân Pháp vào thành lại gánh đồ bán cho quân Pháp.

Vâng, người ta dùng chi tiết ấy để cho rằng nhà Nguyễn "mất lòng dân". Nhưng xin hỏi, so với Lê Chiêu Thống bị diệt tộc mà theo quân Thanh vào Thăng Long (chính xác là "theo"), thì thái độ của dân đất "ngàn năm văn hiến" này với sự xâm lược còn đáng gọi là "bán nước" đến mức nào?

Đó lại không phải vì lý do nhà Nguyễn đúng hay sai, mà là vì chính bản thân triều đình này không phải là triều đình Bắc Hà. Những cuộc nổi loạn mang danh nghĩa nhà Lê kéo dài suốt cả trăm năm. Ngay trước khi quân Pháp xâm lược thì là cuộc nổi loạn của Cao Bá Quát phò một người nhà Lê!

Đó chính là lý do mà nhà Nguyễn thua. Sau khi thua trận ở Đà Nẵng, rồi bị quân Pháp tấn công Sài Gòn, phải ký hiệp ước nhượng 3 tỉnh miền Nam, nhà Nguyễn thực ra vẫn làm theo cách mà triều đình Mạc Phủ Nhật Bản đã làm trong chính thời gian đó: Nhượng bộ mở một phần đất đai, cảng biển cho Tây để đánh đổi lấy khoảng thời gian chấn chỉnh trong nước. Nhưng khác với Nhật Bản mà sự mâu thuẫn chỉ nằm trong Mạc Phủ và các daimyo ở miền Tây Nam, VN với hàng loạt mâu thuẫn, mà nặng nề nhất là mâu thuẫn giữa các vùng miền, dân tộc, đã để cho quan quân miền Nam và triều Nguyễn 1 mình chống chọi với Pháp, dần dần bị lấn lướt. Trong bối cảnh mà đường cung cấp vũ khí đã bị cắt đứt khắp trên biển, trên đất Trung Quốc, đất Xiêm La. Chỉ có bán đảo Đông Dương phải chống chọi 1 mình.

Không thể nói họ là "hèn nhát" khi đã chiến đấu đơn độc suốt hơn 30 năm mới bị quân Pháp khuất phục hoàn toàn bằng trận đánh phá nát hoàng cung, rồi vua Hàm Nghi vẫn tiếp tục đánh Pháp cho đến khi bị bắt.

Cái khó đó, lại không kẻ hậu sinh nào dám nói. Chỉ vì giữ thể diện cho mình. Chỉ để khỏi nấc cụt khi nói "người VN có lòng nồng nàn yêu nước".

Và nhạc sĩ Tô Hải đã kể, trong những ngày Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Bảo Đại và Trần Trọng Kim đã đứng mũi chịu sào để ổn định tình hình trong nước, tổ chức các hội đoàn quyên góp từng chén gạo cho dân chết đói. Con người đã nói được câu "Trẫm thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ" không biết đã bị biến thành thằng hề cho tấn kịch nhà nước này dựng lên bao nhiêu năm rồi?

Trong yêu cầu của Bảo Đại trước khi nhường ngôi, điều đầu tiên là "phải đối xử tốt với lăng mộ liệt thánh".

----

Cờ qủe ly là "phương Nam", qủe Ly tượng trưng cho phương Nam.

----

Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm. Vốn có những chuyện chẳng nên kể làm gì.




Ngọc Hân – Ai tư vãn
Wednesday, August 5, 2009 Author: Trường An

Nhân nói đến Lê Ngọc Hân với Ai tư vãn. Chuyện là Ai tư vãn bị nghi ngờ không phải của Ngọc Hân cũng từ lâu rồi, chẳng phải chuyện mới mẻ gì. Có rất nhiều nguyên nhân để người ta cho rằng bài này không phải của Ngọc Hân.

- Thứ nhất, về hoàn cảnh lịch sử: Khi gạt qua 1 bên các tác phẩm "xưng tụng" kiểu Hoàng Lê nhất thống chí hay của các đình thần Tây Sơn, ta thấy rõ rằng Nguyễn Huệ chẳng có cái ơn nào với nhà Lê mà còn phải nói là suýt nữa diệt tộc nhà Lê. 300 người nhà Lê chạy sang Trung Quốc được có 70, và trước đó, sự rối loạn trong triều Lê do chính Nguyễn Huệ gây ra chứ còn ai vào đây. Tây Sơn diệt Trịnh thì nhà Lê sợ xanh mắt chứ ơn nghĩa gì. Lý do để Huệ diệt triều Lê rất ư ngang ngược, vô lý. Để bắt Lê Chiêu Thống, Tây Sơn từng giết sạch cả một làng che chở cho ông vua này. Trong triều Lê, chẳng ai chấp nhận Huệ. Ngọc Hân từng bị đe dọa xóa tên khỏi gia phả. Rồi sau khi thắng Thanh, Tây Sơn làm mọi cách diệt cho được nhánh Lê triều còn ở bên Trung Quốc, bức vua Thanh đày đọa đám vua quan này không ngẩng mặt lên được.

Với Ngọc Hân, Huệ còn giết cả thầy, cả chú Ngọc Hân rất ư là dã man cơ.

Cho nên, những lời kiểu "Khắp tôn thân cùng đội ơn sang", "Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương" rất ư là... Ờ, thử tưởng tượng... Nguyễn Ánh viết ra những câu này là đủ biết cái sự trật chìa của nó. Cái "nghĩa tôn phù" này chẳng hơn "tôn phù Nguyễn Phúc Dương" là mấy (Aka: xạo ó).

Còn chữ "nhân" á, ngoại trừ "Ngọc Hân" ra, ngay cả các quan Tây Sơn cũng chẳng dùng chữ này cho Nguyễn Huệ. Đùa chứ, tìm được dẫn chứng nào cho chữ "nhân" của Huệ khó hơn lên trời.

==> Ờ, vậy ó. Những dòng chữ ca tụng mà người ta thường hay trích dẫn đem nhét vào miệng Ngọc Hân thì "rất là lố". Nó mang một màu sắc kể lể khá là tức cười nữa cơ.


- Về phương diện văn học: Rất nhiều người đã nhận ra "hơi hướm" của bản dịch Chinh phụ ngâm trong bài Ai tư vãn. Ví dụ:

(Ai tư vãn viết bình thường, Chinh phụ ngâm viết nghiêng).

Trông mái đông: lá buồm xuôi ngược,
Thấy mênh mông những nước cùng mây!
Đông rồi thì lại trông tây:
Thấy non ngân ngất, thấy cây rườm rà!
Trông nam: thấy nhạn sa lác đác!
Trông bắc: thấy ngàn bạc màu sương!
Nọ trông trời đất bốn phương,
Cõi tiên khơi thẳm biết đường nào đi!

Trông bến Nam, bãi che mặt nước
Cỏ biếc um, dâu mướt ngàn xanh
Nhà thôn mấy xóm chông chênh
Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm
Trông đường Bắc, đôi chòm quán khách
Rườm rà xanh cây ngất núi non
Lúa thành thoi thóp bên cồn
Nghe thôi địch ngọc véo von bên lầu
Non Ðông thấy lá hầu chất đống
Trĩ xập xoè, mai cũng bẻ bai
Khói mù nghi ngút ngàn khơi
Con chim bạt gió lạc loài kêu thương
Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc
Nhạn liệng không, sóng giục thuyền câu
Ngàn thông chen chúc khóm lau
Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về
Trông bốn bề chân trời mặt đất
Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen

Khi trận gió, hoa bay thấp thoáng,
Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu:
Vội vàng sửa áo lên chầu,
Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện chăng!

Hoa vàng hoa rụng quanh tường
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần
Chồi lan nọ trước sân đã hái
Ngọn tần kia bên bãi đưa hương
Sửa xiêm dạo bước tiền đường
Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẫn thờ

Theo buổi trước ngự đèo Bồng đảo,
Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân,
Theo xa thôi lại theo gần,
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa.
Đương theo, bỗng tiếng gà sực tỉnh,
Đau đớn thay, ấy cảnh chiêm bao!
Mơ màng thêm nỗi khát khao,
Ngọc kinh chốn ấy ngày nào tới nơi!

Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng
Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn
Duy còn hồn mộng được gần
Ðêm đêm thường đến Giang Tân tìm người
Tìm chàng thuở Dương Ðài lối cũ
Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa
Sum vầy mấy lúc tình cờ
Chẳng qua trên gối một giờ mộng Xuân
Giận thiếp thân lại không bằng mộng
Ðược gần chàng bến Lũng, thành Quan
Khi mơ những tiếc khi tàn
Tình trong giấc mộng, muôn vàn cũng không!

Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi:
Gương Hằng Nga đã bụi màu trong!
Nhìn gương càng thẹn tấm lòng,
Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà.
Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn:
Cánh hải đường đã quyện giọt sương!
Trông chim càng dễ đoạn trường:
Uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi.

Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên
Lá màn lay ngọn gió xuyên
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm
Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng
Trước hoa, dưới nguyệt, trong lòng xiết đau
Ðâu xiết kể, muôn sầu nghìn não
Từ nữ công, phụ xảo đều nguôi
Biếng cầm kim, biếng đưa thoi
Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa

Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội
Cũng dập dìu, chẳng vội phân trương
Chẳng xem chim yến trên rường
Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau
Kìa loài sâu đôi đầu cùng cánh
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay

Khi trận gió, hoa bay thấp thoáng,
Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu:
Vội vàng sửa áo lên chầu,
Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện chăng!
Khi bóng trăng, lá in lấp lánh,
Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi:
Vội vàng dạo bước tới nơi,
Thương ơi, vắng vẻ giữa trời tuyết sa!

Gác nguyệt nọ mơ màng vẻ mặt
Lầu hoa kia phảng phất mùi hương
Trách trời sao để nhỡ nhàng
Thiếp rầu thiếp lại rầu chàng chẳng quên

Vầng, có đoạn như là diễn dịch ý của một đoạn trong Chinh phụ ngâm hẳn luôn. Rải rác trong Ai tư vãn còn có rất nhiều hình ảnh trong Chinh phụ ngâm, ai rảnh cứ lôi 2 bài ra đọc.

Khó có thể nói là bắt chước, nhưng xét về phương diện 1 người vợ làm văn khóc chồng, thế này chẳng phải là quái đản sao? Giống như người viết này thỉnh thoảng đem Chinh phụ ngâm ra ngó 1 cái để lấy ý, lấy tứ. Vâng, ai làm văn khóc người thân theo cách này thì... tấm lòng thành kính qúa cơ. =))

Cho nên rất dễ hiểu Hoàng Xuân Hãn cũng như bao nhiêu người khác nghĩ rằng đây phải là thơ của đàn ông. Chỉ có đàn ông thì mới phải vay ý mượn tứ như thế, và phải là 1 người hay soạn thảo câu chữ thì mới "trích lược" bài này thành bài kia khéo đến vậy. Sự liên quan của Phan Huy Ích với bản dịch Chinh phụ ngâm (có người bảo bản dịch sau này do Phan Huy Ích hiệu đính) làm giả thuyết đây là bài do PHI viết rất có khả năng. Tạ Chí Đại Trường cũng nói không ai "giả làm phụ nữ" khéo như PHI (trong Sử Việt đọc vài quyển). :D

(Buôn chuyện một câu: Ngày xưa ở Sài Gòn trước 75 có một cuốn tiểu thuyết hay truyện gì đó nói rằng Ngọc Hân từng yêu Phan Huy Ích trước khi lấy chồng. :D Cái này là nghe đồn, chưa tìm được.)

Tất nhiên, khi Tây Sơn đang được cố tình biến thành thánh như hiện tại, không đời nào người ta công nhận rằng bài thơ này không phải do Ngọc Hân làm. Thế thì khác nào "lạy ông tôi ở bụi này", nội giải thích lý do không phải thôi cũng đủ "mệt" rồi.

Ờ, nhưng mà mỗi lần đọc Ai tư vãn là tớ lại hình dung ra 1 ông nhăn nhó vừa viết vừa ngó sang bài thơ "dẫn chứng" bên cạnh, thế thôi à. :))




A tế á ca
Wednesday, July 22, 2009 Author: Trường An

...
Việc dây thép việc tàu việc pháo
Việc luyên binh việc giáo học đường
Việc kỹ nghệ việc công thương
Việc khai mỏ quặng việc đường hỏa xa

Giữ các việc chẳng qua người nước
Kẻ chức bồi người tước cu li
Thông ngôn kỹ lục chi chi
Mãn đời lính tập trọn vì quan sang

Các hạng thuế các làng tăng mãi
Hết đinh điền rồi lại trâu bò
Thuế chó cũi thuế lợn lò
Thuế muối thuế rượu thuế đò thuế xe

Thuế sản vật thuế chè thuế thuốc
Thuế môn bài thuế nước thuế đèn
Thuế nhà cửa thuế chùa chiền
Thuế rừng tre gỗ thuế thuyền bán buôn

Thuế cả hết phấn son đường phố
Thuế những anh thuốc lọ gầy mòn
Thuế gò thuế bãi thuế cồn
Thuế người chức sắc thuế con hát đàn

Thuế dầu mật thuế sơn mọi chỗ.
Thuế gạo ngô thuế đỗ thuế bông
Thuế tơ thuế sắt thuế đồng
Thuế chim thuế cá khắp trong lưỡng kỳ

Các hạng thuế kể chi cho xiết
Thuế xí kia mới thiệt lạ lùng
Làm cho thập thất cửu không
Làm cho đau đớn khốn cùng chưa thôi

Lại nghe nói Lao Cai, Yên Bái
Mấy muôn người đào núi ngăn sông
Cực thay lam chướng nghìn trùng
Sông sâu ném xác hang cùng chất xương

Nỗi diệt chủng vừa thương vừa sợ
Nòi giống ta biết có còn không
Nói ra ai chẳng đau lòng
Cha con tủi nhục vợ chồng ly tan

Nghĩ lắm lúc bầm gan tím ruột
Vạch trời kia mà tuốt gươm ra
Cùng xương cùng thịt cùng da
Cùng hòn máu đỏ giống nhà Lạc Long

Thế mà chịu trong vòng trói buộc
Bấy nhiêu năm nhơ nhuốc lầm than
Than ôi! Bách Việt giang san
Văn minh có sẵn khôn ngoan có thừa

Đọc nghe quen hông? :))

Chẳng là hôm nay nói chuyện với 1 giáo viên, nghe nói "Nếu bây giờ mà bắt dạy bài A tế á ca như ngày xưa thì thật chẳng biết dạy làm sao!" Tò mò về tìm rồi bò ra cười.

Bài này được sáng tác trong thời kỳ Đông Kinh nghĩa thục, để "tố cáo chế độ thực dân Pháp". Rồi sau năm 45 được đem dạy trong chương trình lớp 7. Bây giờ "tự dưng" bài thơ đã "tuyệt tích". =))


" Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn."

(Trích Tuyên ngôn độc lập)

Vầng, rồi sẽ đến lúc Tuyên ngôn độc lập cũng sẽ bị "cấm chiếu". =))





Copyright © Trường An. All rights reserved.