Solitude

.Mê lộ, mê lộ. Biên thảo vô cùng nhật mộ More...

Tây Sơn và quan hệ với Trung Hoa
Tuesday, March 2, 2010 Author: Trường An

(Bài viết nảy sinh sau khi lục lọi một mớ bài viết về Hoa kiều - và mang tính chất "có thắc mắc thì phải hỏi"). :D

Bấy lâu nay, Tây Sơn (đặc biệt là Nguyễn Huệ) được đem ra thành một biểu tượng "chống Trung Hoa". Nhất là trong quan hệ với TQ hiện tại, lời hịch của Nguyễn Huệ cùng chiến công chống Thanh được nhắc đi nhắc lại. Ngay cả khi những tội lỗi của Tây Sơn với đồng bào được gợi lại, người ta vẫn cố vớt vát "ít ra, đó là một lực lượng dân tộc" (không nói đến chuyện "nông dân" vì... quá nhảm.)

Nhưng thực sự, Tây Sơn có chống Trung Hoa - hay nói cách khác, tinh thần dân tộc của Tây Sơn thực sự là thế nào - trong suốt quá trình hình thành, phát triển và sụp đổ của họ?

Ban đầu, Tây Sơn được Nguyễn Nhạc tạo thành. Mà Nguyễn Nhạc là ai? Một thương nhân ở cảng Quy Nhơn - một trong 3 bến cảng lớn nhất Đàng Trong, theo như ghi chép của các giáo sĩ trong "Lược sử vương quốc Đàng Ngoài" từng nhắc đến. Và Nguyễn Nhạc còn kiêm thêm chức quan thu thuế - Như vậy, địa vị của Nguyễn Nhạc trong vùng không phải là nhỏ. Không lạ gì khi những lực lượng đi theo Tây Sơn đầu tiên là các thương nhân Hoa kiều, những gia tộc có thế lực trong vùng - mà J. Barrow, qua những nghe ngóng, nói rằng ông ta cực kỳ giàu có và có quan hệ với cả TQ, Nhật Bản.

Hãy nói tới hệ thống kinh tế Nam Hà. Phát triển từ vùng đất "bão lũ, nghèo đói" như Trịnh từng nói, các chúa Nguyễn phải dồn sức phát triển thương nghiệp, bắt đầu bằng Hội An. Và các thương nhân Hoa kiều đã nuôi sống cả Đàng Trong bằng cách đưa muối cùng các vật phẩm khác đi bán, mua gạo về cho người dân sống trong vùng đất quá nghèo đói miền Trung. Cơ cấu này đã khủng hoảng vào cuối thế kỷ 17 khi Gia Định đã thuộc hoàn toàn về nhà Nguyễn, cùng một lượng lớn người Minh Hương - điều này đã nối liền mạch buôn bán của người Hoa khắp Nam Hà. Và do đó, gây nên tình trạng độc quyền, đầu cơ của các thương buôn lâu năm. Nói theo cách bây giờ, đó là các tập đoàn độc quyền.

Như vậy, thương nhân mới và thương nhân Việt - mới phát triển, sẽ không thể nào cạnh tranh được.

Quy Nhơn là bến cảng phát triển, nhưng người Việt ở Quy Nhơn lại có lịch sử rất ngắn. Khi chúa Hiền chiếm Nghệ An vào năm 1664, chúa đã đưa các tù nhân Nghệ An tới Quy Nhơn, cứ 50 nhà làm một xã. Và thương nhân ở Quy Nhơn chắc chắn còn phát triển sau nữa. Như vậy, họ không thể nào đối đầu cạnh tranh được với một nơi có tiềm lực kinh tế mạnh như Hội An và một nơi trù phú như Gia Định.

Với cuộc khủng hoảng tiền kẽm, mâu thuẫn này bùng nổ.

Không biết "thiên tài" nào phát hiện ra Tây Sơn là nông dân, chắc đó là phát minh mới của thế kỷ XX. :-p Nhưng lực lượng cốt cán của Tây Sơn là thương nhân. Và đi bên cạnh Tây Sơn - luôn luôn là các thương nhân Hoa kiều.

Tập Đình, Lý Tài, Châu Văn Tiếp - và có thể có những lực lượng không được nhắc tới - là người Hoa. Và có thể, là người Hoa mới sang VN chứ không phải người Minh Hương. Tập Đình đã chạy về TQ ngay sau khi thất bại và Lý Tài chật vật chiếm một chỗ trú chân ở Gia Định là minh chứng.

Và Nguyễn Nhạc, trong nỗ lực tập hợp lực lượng - Đã hứa với một người Hoa hợp tác với mình rằng: Sẽ cho ông ta làm vua Quảng Nam.

Quảng Nam, vùng Hội An, Đà Nẵng - là vùng bị tàn phá nặng nề nhất trong đợt tấn công đầu tiên của Tây Sơn, dẫn đến tất cả thương nhân Hoa kiều phải bỏ chạy. Nhưng đây có phải là "tính chất dân tộc" không - khi một nửa lực lượng Tây Sơn lúc ấy là người Hoa?

(Và kẻ "bán đất cầu ngoại viện" đầu tiên trong hết thảy là Tây Sơn, ngay từ khi bắt đầu).

Và xung đột đã xảy ra khi Nguyễn Nhạc đã chiếm Quảng Nam nhưng lờ đi lời hứa cũ. Ở đây, ta thấy một chuyện khá lạ khi Tập Đình, Lý Tài định đưa Nguyễn Phúc Dương thành vua ở Quảng Nam, giữ Quảng Nam chống giữ với Nhạc. Họ không trung thành với nhà Nguyễn đến thế - khi Tập Đình bỏ chạy và Lý Tài sớm đầu tối đánh sau này. Ở đây là xung đột quyền lợi tại Quảng Nam giữa Tây Sơn và lực lượng đồng minh Hoa kiều.

Xung đột khiến liên minh tan vỡ. Nhưng Tây Sơn đã tìm được lực lượng thay thế: Bọn hải tặc Trung Hoa.

Chiến dịch thành công đầu tiên của liên minh hải tặc - Tây Sơn đã thành công vào năm 1782, khi đánh vào Gia Định. Và rồi chiến dịch đánh Phú Xuân, Nghệ An... tất cả đều là thủy binh đi trước mở đường.

Nhưng điều đáng chú ý hơn hết là lúc ấy, Tây Sơn được sự ủng hộ của người Hoa tại Bắc Hà. Và điều này đáng được đặt câu hỏi tại sao.

Người Hoa ở Bắc Hà tập trung chủ yếu ở Quảng Ninh, các vùng biên giới, một ít ở các trung tâm buôn bán. Cũng theo Lược sử vương quốc Đàng Ngoài, các nơi buôn bán ở Bắc Hà nằm dọc bờ biển, sông, có đến hơn 50 chỗ. Người Hoa ở Bắc Hà không được ưu đãi như Đàng Trong, nhưng điều gì khiến họ trông chờ một lực lượng như Tây Sơn - Nếu không phải là bọn hải tặc đồng hương của họ?

Sau xung đột của Ngô Tam Quế và nhà Thanh, vùng biên giới Bắc Hà cực kỳ xáo trộn với bọn Tàu Ô, lực lượng du thủ du thực trong các hầm mỏ... Và Quảng Tây, Quảng Đông luôn là điểm nóng của các lực lượng phản Thanh phục Minh. Lực lượng này được hình thành đầu tiên bởi Trịnh Thành Công - thủ lĩnh một đoàn hải tặc. Và sau này thi thoảng ta vẫn nghe thấy cái tên Thiên Địa hội, Hồng Hoa hội trong các hải tặc tham chiến ở VN.

Nhưng rồi ta cũng thấy, một lần nữa, quan hệ của Tây Sơn và người Hoa ở Bắc Hà tan vỡ.

Hãy nói đến quan điểm chính trị của bọn hải tặc. Hầu như - chẳng có quan điểm gì cả, mà chỉ là lợi dụng chiêu tập lực lượng. Như sau này, khi các thủ lĩnh bị thủy quân Gia Định giết chết hết, kẻ thừa kế của đoàn hải tặc được nuôi dưỡng bởi Tây Sơn đã đầu hàng nhà Thanh.

Và như ta đã thấy - các cơ sở buôn bán ở Bắc Hà, các trung tâm thương nghiệp mà các giáo sĩ từng kể - Không còn dấu vết nào, sau đó và mãi mãi. Như tình trạng tại Hội An, Gia Định. Người Hoa ở Bắc Hà rút sạch khỏi biên giới.

Nhưng đó có phải là "tinh thần dân tộc" khi Tây Sơn giữ lại bọn hải tặc Trung Hoa?

Quay lại về quan hệ của Tây Sơn với người Hoa. Giờ thì xong rồi, khắp nơi người Hoa đã chạy trốn. Và Tây Sơn chiêu mộ người Hoa khác: Bọn hải tặc.

Và vua tự xưng là dòng dõi của Hồ Quý Ly - Một người Trung Hoa.

=____=

(Nói ngoài lề về "ảnh hưởng Trung Hoa" lên Tây Sơn: Chữ Long Nhương tướng quân của Nguyễn Huệ là "ăn cắp" của ông Vương Tuấn đời Tấn (Chi tiết xin đọc Tam quốc). Chữ Thái Đức rất có "âm hưởng" của Lưu Bị. Và 3 anh em nghe sao giống kết nghĩa vườn đào. '_' Những "Ngũ hổ tướng" vân vân là tên Lưu Bị phong cho tướng lãnh. Và kế "mượn thiên tử dữ lệnh chư hầu" mà hết Nhạc đến Huệ sử dụng là bắt chước Tào Tháo. vân vân và vân vân...)

Hoặc là tư duy của các bạn Tây Sơn quá khó đỡ, hoặc là các bạn khoái nói như tát vào miệng mình như kiểu kết tội nhau "không tội gì lớn bằng giết vua" (ặc ặc). =))

Cuộc chiến với Thanh - đại diện cho vua Lê Chiêu Thống - nói cho cùng, chỉ là một cuộc nội chiến có yếu tố nước ngoài, trong lực lượng cả hai bên.

Và ở Quy Nhơn hiện tại có một con đường được đặt tên một vị "danh nhân" có công với Tây Sơn bằng cách... khi thua đã định chạy sang cầu viện Thanh. =)) =)) =))




Trường ca
Friday, January 22, 2010 Author: Trường An

Đi tìm cái tên John Dryden rồi lại đi "say đắm" vào trường ca, dù nhiều đoạn... chả hiểu gì cả. '__' Mình vốn đã không thích fantasy rồi mà.

Đang nghĩ xem thể loại truyện thơ của VN có liên quan gì đến phương Tây không ta? Vầng, mềnh biết là các bộ tộc thiểu số có trường thi của riêng mình, nhưng mờ - hì hì - đến cuối thế kỷ 19 VN mới có hình dạng như bây giờ, vậy thì sự ảnh hưởng, nếu có, đến từ những bộ tộc thiểu số chưa chắc đã mạnh.

Thứ hai là Ấn Độ giáo. Thật ra, dấu tích văn hoá VN mang nhiều sắc thái Ấn giáo hơn là Nho giáo (oài, VN thì chỉ muôn đời "Trung Hoa wannabe" thế thôi). Và các trường ca Ấn thì quá nổi tiếng rồi.

Thể loại truyện thơ hay trường thi của VN phát triển mạnh từ cuối đời Lê, đặc biệt là ở Đàng Trong. Vầng, là Đàng Trong, nơi tiếp xúc với văn hoá Ấn giáo và Tây phương. Ở Đàng Ngoài, trường thi có "dài ra" như Cung oán ngâm khúc hay Chinh phụ ngâm, nhưng vẫn chưa vượt ra khỏi khuôn mẫu thi từ Trung Quốc, vẫn chỉ để ghi lại cảm xúc, ấn tượng 1 thời điểm, của cá nhân. Ở Đàng Trong, các nhà thơ đã bắt đầu dùng thơ để kể chuyện, biến nó thành các "bản tin thời sự" thực sự. Hoài Nam khúc là 1 ví dụ. Rồi trước đó có các bản thơ khác (trí nhớ tồi tệ của tớ không nhớ để nêu tên). Ờ, Đào Duy Từ cũng có 1 bài thơ dài kinh khủng, hiện giờ thì tớ chỉ nhớ có mỗi câu "Hưng vong bỉ thái có thì".

Thật ra, để biết về loại trường thi này thì đi tìm hiểu về hát bội hay các hình thức ca hát khác, chắc rõ hơn. Nhưng mờ sau khi đọc qua chừng chục bản hát bội thì tớ thấy nó vẫn thế, cũng chỉ là thi từ "thường" chứ không phải truyện thơ.

Trường thi xuất hiện ở VN vào cuối thời Lê, rồi phát triển cực thịnh vào thời Nguyễn. Bên cạnh Truyện Kiều là Hoa tiên, là Phạm Công Cúc Hoa, vân vân, rồi tất nhiên cuối thời Nguyễn có Lục Vân Tiên. Theo thiển ý của... tớ, loại trường thi này thậm chí đã phát triển thành... cải lương bây giờ. Vầng, đọc nhiều bản cải lương, tớ phát hiện ra chúng hoàn toàn là truyện-kể-bằng-thơ-chưa-có-nhạc.

Thể loại trường thi này chắc chẳng liên quan gì đến Trung Quốc. Văn học Trung Quốc càng ngày càng phát triển về văn chứ không phải thơ. Trong khi đó, VN hấp thụ văn hoá TQ nhiều nhất là từ cuối thời Trần, đặc biệt nhiều trong thời kỳ thuộc Minh - thời điểm phát triển của tiểu thuyết TQ. Các nhà văn Đàng Ngoài cũng càng ngày càng nghiêng về viết tiểu thuyết, văn xuôi. Tất nhiên, sau này, dựa vào "giao lưu văn hoá" mà trường thi ra đến Đàng Ngoài.

Mình chỉ đang thắc mắc, nếu nói rằng trường thi là ảnh hưởng của Ấn giáo thì cũng chưa hẳn. Tuy rằng sống trên đất Chiêm Thành, Chân Lạp thật, nhưng từ ngày xưa vua Lý, vua Lê cũng nhiều lần bắt người Chiêm về Thăng Long, dấu ấn Chiêm Thành không phải là không có trên đất Thăng Long. Nhưng trường thi sao phải đợi đến mãi thời gian sau này mới phát triển?

Thể loại "thơ kể chuyện" không phải là chưa có từ trước. Như Bình Ngô đại cáo cũng là 1 dạng kể chuyện, kéo theo nó là 1 loạt nhà văn đầu Lê say sưa kể về chiến công. Nhưng biến thơ, đặc biệt là lục bát, thành "bản tin thời sự" rồi thành các câu chuyện kể có nhân vật, tính cách, diễn biến... vân vân, thì dấu ấn Ấn giáo, hoặc Tây phương, rõ rành rành.

Mà mềnh thì không biết tí ti gì về văn học Cambodia để mà biết nó có trường thi hay không. '__'

(Cho nên nhớ cái hồi mềnh đi học được dạy cái gì là "chữ Nôm bị khinh rẻ", thiệt là nhảm nhí hết sức. Trước Nguyễn Du, chữ Nôm đã phát triển đến mức nào rồi. Minh Mạng viết thơ chữ Nôm nhiều không biết đâu mà kể, đừng bảo cả vua cũng... bị khinh. Chỉ có điều cái đống loằng ngoằng ấy khó học quá đáng.)

-- Viết với tư cách người hoàn toàn a-ma-tơ về lịch sử văn học VN (và phát hiện ra rằng sách vở của "các nhà văn hoá hiện đại" ứ mà tin được). Ai có tài liệu nào đáng tin cậy 1 chút về thể loại này không? --

---

À, mình đã up lên 1 cái theme để đọc blog trên iPhone. Đang nghĩ có nên để cả những người dùng screen 800x600 thấy cái theme này luôn không, chứ mình không thiết kế cho bản 800x600 nữa.




Linh tinh lảm nhảm
Thursday, January 7, 2010 Author: Trường An

Cứ lật đi lật lại Đại Nam nhất thống chí cũng có khối thứ hay ho. :) Nội chuyện xây đền miếu chùa chiền nếu để ý cũng thấy kha khá thứ.

Kể đến đời Tự Đức, có 5 đền thờ được xây cho các phi tần (không phải là hoàng hậu, nghĩa là mẹ của vua). Vợ Minh Mạng có 3 đền, ngoại trừ Gia phi họ Phạm do Minh Mạng xây, là đền Hiền phi do Thiệu Trị xây (chắc là để vừa lòng cha, hay là Hiền phi có rất nhiều con nên xây thêm), còn có An Tần Hồ thị, chắc chị em gì đó với mẹ Thiệu Trị. Thiệu Trị xây 1 đền, gọi là đền Lệ Thục. Còn lại, tất nhiên là đền Đức phi do Gia Long xây.

Kể ra, thế thì các vua trong lúc sinh thời xây mộ cho người nào mình yêu nhất (không nói đến Tự Đức bị bệnh). Chỉ có 5 đền thờ phi tần giữa 1 loạt đền công thần, quốc công, thần thánh.

1 thông tin vu vơ kiểu này cũng hay không kém:

"Chùa Tuệ Lâm, ở trên ấp gò Bình An, có khe bao quanh, phong cảnh cũng đẹp. Khoảng đời Minh Mệnh, An Nghĩa thái trưởng công chúa là Ngọc Ngôn sửa lại."

Gò Bình An, vậy là gần mộ mẹ.

Hay như chuyện Minh Mạng đề thơ ở quê Hiền phi (người ta ứ nói đâu, chỉ nói địa điểm thôi). Kể ra, mấy ông vua Nguyễn rất có tình. Những đời vua trước, ngoại trừ hoàng hậu hay mẹ vua ra, sức mấy mà xây đền thờ cho phi tần (nói ra thì xây cho người yêu chắc chính xác hơn).

Hờ hờ, còn đền Đức phi là độc nhất vô nhị òi. Gia phi trước phải thờ chung với Hồ phi mẹ Thiệu Trị, chỉ khi phong hoàng hậu mới tách ra. Hiền phi thì do con xây chứ không phải bố xây, Lệ Thục là đền thờ cả công chúa hoàng tử chết non. Con người Gia Long đúng là chẳng gì không dám làm. 'Ta xây đền cho vợ ta đấy, ý kiến gì không?' =))

Nếu có kỷ lục về ông vua "phá giới luật" nhất, chắc Gia Long là ứng cử viên. (Oài, nói chuyện phá giới luật phong tục đàng hoàng, chứ không phải chuyện ruồi bu).

Những cuốn sách ghi chép kiểu này, mỗi lần đọc là lại phát hiện ra chi tiết mới. Hù.

(Nói thật là tớ đi tìm tư liệu cho Đông biên đó.)




Linh tinh
Sunday, January 3, 2010 Author: Trường An

(Hình Buddha Yodfa Chulaloke - Phra Bat Somdet Phra Poramintharamaha Chakri Borommanat Phra Buddha Yodfa Chulaloke - gọi theo tiếng Việt là Phật vương - vua Rama I)

(Người thế này mà Ngọc Du chê không chịu lấy. =)) Chỉ hơn có... 25 tuổi thôi mà).

Òi, vâng, tớ "đổ đốn" đi đọc sử Xiêm La, Thái Lan. Oài, quan hệ của các nước Đông Dương càng đọc càng thấy hay nhá. Rama I cũng đáng nể lắm nhá - 1 tay chiếm Lào, thao túng Cambodia, trong nước thì lật đổ Trịnh Quốc Anh, lên ngôi vua. Một tay gian hùng có hạng, ờ, anh hùng cũng được - con cháu ông ta còn đang làm vua Thái Lan cơ mà.

Đọc quan hệ Thái Lan-Lào-Cambodia mới thấy... Nguyễn Ánh, Gia Long thiệt là đáng sợ. '_' Sau năm 1778, nhà Nguyễn vừa sụp 1 cái, Xiêm La nhăm nhe chiếm hết cả Vạn Tượng lẫn Chân Lạp, bắt hết cả vua lẫn quan các nước này về giam, Hà Tiên cũng không ngoại lệ. Thế mà chả cần tốn 1 tên quân, Nguyễn Ánh lật ngược thế cờ thiệt là ngoạn mục.

Vua Rama I sinh ngày 20-3-1737 trong 1 gia đình quý tộc của Ayutthaya. Khi Ayutthaya sụp đổ, Trịnh Quốc Anh (Taksin) lên ngôi vua, trở thành tướng thân cận của người bạn từ thưở nhỏ này vào năm 1768. Năm 1769, tham gia chiến tranh Miến Điện và đi chinh phạt Chân Lạp. Năm 1774, giải phóng Lanna khỏi Miến Điện. Năm 1776, chinh phục Khmer Pa Dong (Surin ngày nay). Năm 1778, chinh phạt Lào, gồm 3 quốc gia Vientiane, Luang Prabang, Champasak. Năm 1782, sau một cuộc đảo chính, lên làm vua Xiêm La.

Năm 1779, vua Nặc Ấn lên ngôi ở Chân Lạp, Rama liền tấn công Chân Lạp, bắt Nặc Ấn về Bangkok. Năm 1794, Nguyễn Ánh ép Rama trao trả Nặc Ấn, đưa về Chân Lạp làm vua Narairaja III.

Năm 1785-1786, vua Bodawpaya của Miến Điện tấn công Xiêm La. Trận chiến này được gọi là “Nine Armies Wars” - 9 đội quân Miến Điện cùng lúc tấn công, đổ vào Lanna và miền Bắc. Khi Phitsanulok bị chiếm, Rama I phải đi thân chinh đi Lampang. Tại miền Nam, những đội quân khác của Miến Điện cũng đồng loạt tấn công, đánh cả vào cung điện và Thalang.

Nguyễn Ánh chắc tham gia trận chiến này. Nên nhớ Miến Điện lúc ấy rất mạnh, làm chủ cả vùng Nam Á, đánh bại Thanh 4 lần, đánh bại hết cả Bồ Đào Nha lẫn Anh, không để bị xâm phạm dù ở sát vách Ấn Độ. Đây là 1 trận chiến lớn.

Òi, còn tại sao tớ đi đọc nó thì... để sau tính. ;;)

Chỉ có điều đọc mấy cái tên kiểu này đau hết cả đầu. =_=

----------

Mấy hôm rồi không viết gì để giữ số bài post là 777. ::)

Chúc mừng năm mới.




The Soviet story
Monday, November 16, 2009 Author: Trường An

Link video cũ die rồi nên up lại.

http://www.megaupload.com/?d=YBF7AB3N

English sub: http://www.allsubs.org

Xem online: Link

SYNOPSIS

The film tells the story of the Soviet regime.

- The Great Famine in Ukraine (1932/33)
- The Katyn massacre (1940)
- The SS-KGB partnership [in the late 1930s the KGB was called NKVD
- Soviet mass deportations
- Medical experiments in the GULAG.

These are just a few of the subjects covered in the film.

“The Soviet Story” also discusses the impact of the Soviet legacy on modern day Europe. Listen to experts and European MPs discussing the implications of a selective attitude towards mass murder; and meet a woman describing the burial of her new born son in a GULAG concentration camp.
The Soviet Story is a story of pain, injustice and “realpolitik”.

”People were being shot day and night throughout the biggest country in the world. Stalin even got to the point of killing people by random, by quotas.”
Norman Davies

Full video




Vụn vặt
Friday, November 13, 2009 Author: Trường An

Đi đọc về Nhân Văn giai phẩm. Thở dài.

-Mỗi người chịu trách nhiệm về hành động của mình. Nếu xã hội, tức là nhân dân, đạt tới một trình độ văn hoá cao, có mức nhận thức trong sáng, thì những cả gan của một tư tưởng khác với đường lối chung sẽ không bị trừng phạt, mà ngược lại sẽ được khuyến khích, bởi sự tiến bộ của dân tộc tùy thuộc vào những cả gan này. Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng không bao giờ số đông quần chúng có thể khai quang được một lối đi trong rừng rậm của dốt nát, thành kiến, hèn hạ, để tiến lên một bước về phía ánh sáng mặt trời. Trong thành Athènes, kinh đô của hiền triết, Socrate đã phải uống cạn cốc độc cần, để lại bài học cho những trí thức trên thế giới suy nghiệm và noi theo: người trí thức phải giữ vai trò tiên phong, hướng đạo trên con đường khó khăn và nhọc nhằn, để dẫn dân tộc đến niềm vui và hạnh phúc.

Nước ta đã phải chứng kiến sự thâm nhập của một chủ nghĩa ngoại bang hoàn toàn không bắt rễ từ quá khứ dân tộc. Bao nhiêu nhà ái quốc lớn mà mọi người đều kính phục đã bảo vệ, đã bênh vực, đã bảo trợ cho chủ nghiã này, họ đã đưa nó ra rồi bắt dân chúng phải thừa nhận, bằng cách hứa hẹn nó là chìa khoá mở cửa vào thiên đàng trần thế. Quần chúng tin vào lời nói của lãnh đạo và chờ đợi sự thực hiện những lời hứa. Chính nhờ vào sự đồng tình, vào những cố gắng, những hy sinh của của toàn dân mà đất nước đã giành được độc lập và tự do. Những cánh tay làm việc và những cái đầu suy nghĩ đã là rường cột cho đảng cầm quyền.

Bất hạnh thay, con đường chúng ta đi không bọc nhung. Hợm mình trước những chiến công hiển hách mà họ tưởng đã đạt được nhờ chủ nghiã mác-xít, những người lãnh đạo đã xây dựng nền móng và áp dụng sâu rộng hơn chủ nghiã này trong tất cả các ngành, không cần đếm xỉa đến khoa học và thực tế, tuy vẫn hô hào kính trọng giáo dục. Cuộc cải cách ruộng đất đưa đến những sai lầm nghiêm trọng mà những người cầm quyền phải chịu trách nhiệm. Sự đói khổ của nhân dân đã đến mức khốc liệt, vậy mà những kẻ trách nhiệm vẫn khoác lác rêu rao những điều ngược lại.

Trước bi kịch này, thái độ của trí thức phải thế nào? Có kẻ bịt mắt đút nút lỗ tai để đồng thanh phụ họa với bọn cơ hội và phỉnh nịnh, luôn miệng kêu gào: "Cộng sản thắng lợi. Đảng Cộng sản muôn năm". Những kẻ này hy vọng được ân sủng đến ba đời. Công chúng biết rõ và khinh họ. Nhưng những khối óc biết nghĩ và và những trái tim yêu tổ quốc và dân tộc không thể nhẫn nhục chịu đựng -trong im lặng và thụ động- những cay đắng của khát vọng không thành và những giấc mơ bị chà đạp. Họ lên tiếng tố cáo những sai lầm và đề nghị những biện pháp sửa đổi. Họ được cám ơn bằng những cú roi quất, bằng tù tội suốt đời, họ bị kết tội phản đảng, phản cách mạng, là kẻ thù của nhân dân! Sự an ủi duy nhất của họ là được quần chúng hiểu, ái ngại, nhưng không làm gì cho họ được. Họ phải đợi sự phán đoán của Lịch sử".

"Không một lời tuyên án. Những người cộng sản ưa bí mật. Lệnh được quyết định và thi hành trong yên lặng chết chóc. Công chúng không biết gì cả: bí mật được giữ trọn để khỏi khơi lên những tình cảm vô ích, những xao động đáng tiếc! Họ đã tiên đoán tất cả và hành động kịp thời!"

Nguyễn Mạnh Tường (Un excommunié, trang 226- 229).





Copyright © Trường An. All rights reserved.