Solitude

.A voyage to Cochinachina. More...

TS – LC&ĐV – 7
Tuesday, December 12, 2017 Author: Trường An

4. Xây dựng

Như vậy, ta có thể thấy ngay vấn đề của Tây Sơn khi lên nắm quyền quản lý nước Việt: Phải làm gì với những "mảnh vỡ" cả về địa lý, dân cư, tư tưởng, lịch sử... này? Theo lời khuyên của ông lão cả đời đọc sách trong núi Nguyễn Thiếp, Nguyễn Huệ quyết định phương cách có thể dễ làm nhất, đồng thời là 1 phương cách nhiều nguy cơ nhất: Chia để trị. Có lẽ cần phải nói thêm, trong nhiều cách "chia để trị", ông lão đọc sách trong núi (với những loại sách bị Minh Mạng chê bôi "600 năm trước"), đã chọn 1 phương cách cổ xưa và... không hiệu quả nhất (nếu ta nhớ nhà Chu đã dùng cách này được bao nhiêu năm) thay vì những phương thức chính trị hành chính hiện đại hơn mà nhà Minh, nhà Thanh đã và đang dùng để quản lý cái nước TQ to gấp mấy chục lần. Đây có lẽ là hậu quả của 1 vấn đề thâm-căn-cố-đế khác là: vấn đề thì ai cũng thấy, nhưng giải quyết cách nào thì...

Nhưng cũng có thể, lựa chọn này xuất phát từ chính bản thân Nguyễn Huệ lẫn triều đình phát xuất từ Quy Nhơn: Không hề tin vào những "lực lượng bên ngoài" - có thể Nguyễn Huệ còn không tin được cả tướng lĩnh của mình sau vụ việc của những Nguyễn Văn Duệ, Vũ Văn Nhậm. Cho nên, Nguyễn Huệ sẵn sàng dùng mấy đứa con chỉ hơn 10 tuổi của mình làm "tiểu vương" sở quản thay vì dùng quan trấn nhậm, hạn chế quyền lực của họ 1 cách thấp nhất (nếu Nguyễn Huệ còn sống). Và triều đình Quy Nhơn, như đã nói trước, trong cả quá trình ta thấy những "lực lượng bên ngoài" liên tục xuất hiện rồi biến mất, đến cuối cùng ngoài Võ Văn Dũng thì vẫn chỉ còn là người Quy Nhơn.

Vậy là, kế thừa triều đình Lê Trịnh - triều đình Thanh Hóa nằm giữa Đông Kinh - thì nay ta có 1 triều đình Quy Nhơn nằm giữa Phú Xuân (với chiều hướng chạy lên phía Bắc), và 1 "tiểu triều" nằm giữa Đông Kinh. Vậy là, toàn bộ vấn đề của Lê Trịnh lại chạy về phía Tây Sơn, lần này còn phức tạp thêm nhiều lần.

Có 1 câu chuyện được ghi trong Hoàng Lê nhất thống chí rằng khi Nguyễn Nhạc ra Bắc, đã đụng độ làng nọ ở Nghệ An, và dù đã bảo "đây là quê cũ của tôi" thì vẫn bị tấn công. Câu chuyện này được nhắc lại trong Lê quý kỷ sự với cái kết thảm khốc hơn nhiều: Nguyễn Nhạc cho quân tàn sát cả làng. (Và 1 sử-gia-tân-thời nào đó vừa lôi chuyện này lên với ngôi đền trên núi mỗi năm cúng "đám tang Tây Sơn" và... đổ cho Gia Long làm. *cảm khái* Thiệt ra làm người cũng nên còn chút lương tâm, để con cháu thờ phụng người giết cha ông mình ở ngay đền thờ nhà họ là thất đức lắm đó.)

Nhắc lại chuyện này để có thể lý giải cho thái độ của Nguyễn Nhạc khi ra Bắc - ảo tưởng về "quê cũ" Nghệ An mà Nguyễn Huệ ôm ấp đã hoàn toàn không còn. Và rồi ta thấy triều đình Tây Sơn bắt đầu phân hóa - đại diện bằng 2 anh em Nhạc Huệ.

Ngoài họ tộc họ Bùi, Phạm là "họ ngoại" rõ rành rành đi theo Nguyễn Huệ (và Tạ Chí Đại Trường còn nhắc đến 1 số nghi vấn về họ tộc của những viên tướng khác) - nói chung, là gắn bó với Nguyễn Huệ trong 1 quan hệ thiết thân - thì những viên tướng khác đều có nguồn gốc "ngoài Quy Nhơn", từ Trần Quang Diệu cho tới Ngô Văn Sở. Còn đi theo Nguyễn Nhạc thì ta thấy họ tộc của tướng lĩnh phong phú hơn nhiều - ít nhất trong số tướng theo hàng Nguyễn sau này hay vẫn cố sống cố chết bám lấy Quy Nhơn vì nhiều lý do. Nói cách khác, đến lúc này, nếu muốn nói đến "lực lượng Quy Nhơn" hay "người Quy Nhơn" thì nên nói về Tây Sơn của Nguyễn Nhạc.

Trong bối cảnh đã nói trước kia, cái triều đình lập từ họ tộc này bị ném vào 1 "vùng đất xa lạ", và rốt cuộc đã thể hiện tất cả khía cạnh "cực đoan họ tộc" của nó. Nguyễn Huệ thà phân chia đất nước thành nhiều phần do mấy đứa con nhỏ nắm quyền còn hơn là quan tướng, rồi lại tiếp tục giao đất nước cho đứa trẻ nhỏ vắt mũi chưa sạch cháu dòng họ Bùi, họ Phạm hơn là đứa con lớn hơn. Quản việc thì ta thấy nào Phò mã, nào cháu dâu cháu rể. Khởi đầu từ Nguyễn Huệ, Tây Sơn đã lọt vào 1 vòng xoáy to lớn hơn rất nhiều: Mất lòng tin.

Khởi đầu từ Nguyễn Huệ đến Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Văn Duệ, Võ Văn Dũng, Trần Văn Kỷ,... vòng xoáy chém giết lẫn nhau trong đoàn người này ngày càng lan rộng. Bùi Đắc Tuyên không tin được bất kỳ ai, để Trần Văn Kỷ xúi bảo Võ Văn Dũng giết Bùi. Võ Văn Dũng liên tục gây hấn với cả vua quan Quang Toản, Trần Quang Diệu - trong khi, chỉ cần 1 lần giấu chiếu che chở cho Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu đã hoàn toàn lấy được lòng tin của viên tướng này để sống chết cùng nhau.

Khởi đầu từ 1 cuộc phản bội sẵn sàng đem "tội lớn nhất" đổ ngược lên đầu vua mình, quay lại giết chóc chính những người bạn, người thân của mình - Từ đó bất cứ ai trong Tây Sơn cũng bị bóng ma của sự phản bội đeo đuổi ám ảnh. Và càng vị kỷ, càng mưu toan, họ lại càng phản bội nhau, đạp lên nhau nhiều hơn, càng chứng thực sự phản bội này rõ ràng hơn. Và cuối cùng, là giết lẫn nhau chết hết - dù là dưới triều đình Tây Sơn hay chạy về phía quân Nguyễn quay ngược lại "trả thù".

Thật ra Nguyễn Huệ không phải là người giỏi về chính trị - hay nói theo quan điểm "nguồn gốc", hoàn toàn thiếu vắng căn cốt mà người làm chính trị, đặc biệt là chính trị Nho Khổng được huấn luyện. Khi thiếu vắng sự hướng dẫn của những nho sĩ "thầy dùi" biết cách mượn chính danh nào "phù Dương", nào "phù Lê" dù chả cái nào là thật nhưng cũng... chưa thấy sai chỗ nào, vừa kêu gọi được số đông vừa tạo sĩ khí cho bản thân 1 cách vô cùng "đại nghĩa" - Thì Nguyễn Huệ đem tội "giết vua" mà ai trong đội quân này cũng biết "công lớn" thuộc về Nguyễn Huệ đổ lên cho Nguyễn Nhạc, dù gọi được người trong 1 chốc nhưng người xung quanh ai cũng biết là giả dối. Khi ra Bắc "phù Lê", Nguyễn Hữu Chỉnh yêu cầu đoàn quân này kỷ luật tuyệt đối không tơ hào ai 1 đồng, thì khi về - dưới sự quản lý của Nguyễn Huệ - cũng đoàn quân này cướp bóc cưỡng bức người tiếng kêu khóc vang rền. Tiếp theo, Nguyễn Huệ đá bỏ cờ "phù Lê", cho Vũ Văn Nhậm đưa quân đuổi giết vua Lê khắp nơi - trong khi việc Lê Chiêu Thống làm rất là chính-danh: đòi lại Nghệ An bị Tây Sơn chiếm - lập Giám quốc ra sau này cũng chỉ là chữa cháy. Được Ngô Thì Nhậm hướng cho lý do đánh Thanh, chiếm lấy Bắc Hà vô cùng oanh liệt, cách kêu gọi quan tướng Đàng Ngoài, thì lại tiếp tục gây rạn vỡ vì triều đình "họ tộc" của mình.

Thuyết chính danh trong đạo lý Nho Khổng, thực tế chính là tính đạo đức và kỷ luật cần có trong 1 thể chế chính trị, nó xác lập lên lý tưởng, đường hướng cho toàn bộ con người trong đó, từ đó nó hạn chế thấp nhất sự phân rã, phản bội, lợi dụng. Người trong đó có thể phản bội, lợi dụng, lật đổ - nhưng tất cả đều không được bày-tỏ ra ngoài. Nếu không, nó sẽ đem đến sự phân rã toàn diện cho toàn bộ cơ cấu.

Và tất nhiên thì Nguyễn Huệ cũng chả được như các sử-gia-tân-thời sau này bơm vá những lý tưởng cao cả như công bằng xã hội, chủ nghĩa quốc gia dân tộc, thống nhất quốc gia... gì cả. Nhắc lại, nước VN ngày ấy, kể cả mảnh đất mà Tây Sơn khởi phát, vốn là mảnh đất có vô số tộc người, ngay trong lòng nó còn có cả các tiểu quốc nhỏ, lịch sử chia rẽ còn mới như hôm qua. Khi nhà Nguyễn thống nhất quốc gia còn phải dùng danh nghĩa "trước đây là người 1 nhà", Nguyễn Huệ vào bái kiến vua Lê còn phải dùng bài "Hoàng Lê nhất thống" - tất cả đều là sự "thống nhất dưới 1 quyền lực chính danh", còn lại thì người ta phải dùng thứ danh nghĩa nào để mà "nhất thống"? Quy Nhơn không có được cái danh nghĩa này, và nhắc lại, sự việc xảy ra với Nguyễn Nhạc ngay từ khi ra Bắc dưới danh nghĩa Tây Sơn (và nghi vấn Nguyễn Huệ đã dùng danh nghĩa chúa Nguyễn để "phù Lê" càng rõ hơn) càng làm Nguyễn Nhạc hiểu rõ điều đó hơn. Đất nước VN ngày ấy chỉ đơn giản là không hề tồn tại, cho nên dù là 1 lực lượng địa phương chưa bao giờ có ý thức quốc gia như Tây Sơn hay là lực lượng hoàng gia quý tộc như chúa Nguyễn, quan Lê Trịnh cũng chưa bao giờ nói về cái danh nghĩa đó (dù bên Nguyễn thì nhiều lần nhắc nhở về "chúng ta là người 1 nhà" với Đàng Ngoài hơn, ngay cả khi Trịnh Nguyễn đang đánh nhau). Nhiều nhà nghiên cứu ngoại quốc lẫn hải ngoại sau này cũng khẳng định, chủ nghĩa quốc gia hiện-đại chưa bao giờ xuất hiện trong tâm trí người VN cổ xưa.

Còn "công bằng xã hội" thì rất đáng tiếc... Khổng Tử đã nói 2000 năm trước rồi. Dù xã hội VN cổ vẫn nhiều phân hóa và bất công, nhưng đó là sự phân hóa đương nhiên của quyền lực và tiền bạc chứ không phải do 1 thứ định chế phân tầng giai cấp như trong xã hội Bà-la-môn hay Nhật Bản, thậm chí cả Tây dương. Các thủy thủ người Pháp của Gia Long nhấn mạnh rất nhiều lần về tính chất "không có giai cấp quý tộc" ở xã hội VN - thực chất là không có 1 giai cấp nào được hưởng đặc quyền đặc lợi trong luật pháp theo kiểu "1 tội mà tùy giai cấp hình phạt khác nhau". Dù trong thực tế, quyền lực và tiền bạc cũng tạo phân cấp của riêng nó, nhưng phương châm của Khổng giáo, ngay từ Khổng Tử khởi xướng, đã là công-bằng - vua có tội cũng phải xử như thứ dân. (Một lần nữa, đạo nào cũng phải tùy nơi). Sĩ nông công thương cũng chỉ là mức độ được tôn trọng trong xã hội chứ chẳng có đặc quyền đặc lợi gì khác biệt. Cho nên, mọi mâu thuẫn ở xã hội VN lúc này đều có tính cá nhân hơn là 1 đích nhắm rõ ràng kiểu "giai cấp phong kiến bóc lột", là 1 ông quan tham, 1 ông vua ngớ ngẩn hay 1 triều đình hủ bại nào đó. "Anh hùng Lương Sơn Bạc" thì cũng chỉ giăng bảng "Thế thiên hành đạo" trừ quan tham, thực thi "công lý" cho bản thân hay đòi tự do cá nhân. Còn lật đổ để "không còn vua quan" thì... Tây Sơn giết nhau chí chết để tranh ngôi, nên thôi, quên đi.

Chuyện "kẻ bình dân làm vua" thì lại 1 lần nữa phải nhắc, toàn bộ các triều đại của VN, trừ Nguyễn ra, đều khởi đầu từ các ông vua "áo vải" cả. (Và đều khởi đầu y như Tây Sơn, "thờ phật để ăn oản"). Nghĩa là, nó chẳng phải là cái gì độc đáo cuốn hút để người ta say mê ca tụng, ngược lại, với cả Đông và Tây trong thời điểm đó, 1 "nhà nước được xây dựng từ thành phần cặn bã" là thứ khá đáng khinh, không đáng tin tưởng (Hãy nhớ cho xã hội phương Tây thời kỳ ấy hầu hết là nhà nước phong kiến). Đặc trưng của xã hội VN là tính chất địa phương nhỏ lẻ, từ khởi thủy quốc gia cho đến cận đại, nên việc các thủ lĩnh địa phương hoặc người cầm đầu địa phương trở thành vua của quốc gia là việc rất bình thường.

Vậy là, một khi đã dựa vào mâu thuẫn và thù hằn cá nhân để trừ diệt đối thủ, đưa mình lên tầm cao - Trong khi không hề xây dựng được 1 lý tưởng hay danh nghĩa nào cho mình để cuốn hút cộng đồng, chỉ dựa vào chút ít "chính danh" phù Lê mà hầu hết chẳng ai tin, Tây Sơn phải làm gì với 1 nước VN gồm Đàng Trong và Đàng Ngoài phân rã như đã nói trước?

Sự phân chia của Đàng Trong và Đàng Ngoài vốn không giống nhau. Ở Đàng Ngoài, tính chất địa phương nằm ở làng xã và tộc họ. Các làng vốn là 1 số tộc họ sống chung với nhau, kết hôn lẫn với nhau, và trưởng làng chính là người có thế lực nhất trong làng - vua quan dùng họ để quản lý toàn bộ làng xã này. Ở Đàng Trong, quyền lực địa phương phần lớn lại nằm trong kinh tế - những chủ nguồn, chủ thuộc, chủ nhóm người; pha lẫn vào đó là họ tộc ở địa phương sống theo lối nông nghiệp. Như vậy, tạm có thể thấy rằng, nhu cầu ổn định của Đàng Ngoài nằm ở quan hệ với các thế lực địa phương, lợi ích về quyền lực cá nhân, họ tộc; trong khi nhu cầu của Đàng Trong là cân bằng về lợi ích kinh tế, với các tộc người thì cũng là lợi ích quyền lực, nhưng không có tính chất như Đàng Ngoài.

Chúng ta hãy quên đi thứ lý thuyết cho rằng "chỉ cần dân ấm no thì sẽ bình yên", hay "đói kém sinh loạn lạc", dù thực tế thì đói kém sinh loạn lạc thật, nhưng đó chỉ là 1 số toán cướp nhỏ lẻ vốn chẳng làm hại gì được đến ai. Nói cách khác, khi cơ cấu làng xã còn vững mạnh đủ để tạo thành "bức tường" che chở cho cái cốt lõi bên trong thì lực lượng triều đình dễ dàng phá vỡ "bọn cướp" này. Sự tình chỉ trở thành phức tạp khi những thế lực này tự tạo 1 danh nghĩa cho mình như cuộc nổi loạn của nhà sư cuối thời Trần, "Ninh Đông vương" Nguyễn Hữu Cầu hay "sao Ba Ngôi" Phan Bá Vành. Các cuộc đánh dẹp thời Nguyễn đều cho thấy sự kết hợp giữa cơ cấu làng và "cướp". Hay nói cách khác, sự mâu thuẫn quyền lực tại địa phương sẽ dẫn đến chuyện "tiếp lực" cho loạn lạc mà 1 vài kẻ đại diện khởi đầu. Với cơ cấu làng xã họ tộc chặt chẽ của Đàng Ngoài, thực tế mà nói, "dân chúng" chỉ là 1 phần có rất ít tiếng nói - Tư tưởng của họ do người trưởng tộc "tạo thành", đường hướng của họ do người trưởng dẫn dắt, và hành động của họ cũng đều nằm dưới sự lãnh đạo của "người" này - xin hãy hiểu, "người" này là 1 từ phiếm chỉ nói về khá nhiều đối tượng, từ ông trưởng làng cho đến ông trưởng họ, cho đến 1 người nào đó "có tiếng nói". Cho nên, mọi xung động khởi phát cũng đều từ "tầng lớp" này. Mâu thuẫn xảy ra với họ là mâu thuẫn thế lực, quyền lực, địa phương lực. Như đã thấy trong suốt lịch sử VN, chính là việc "triều đình bên Đông thì bên Tây nổi dậy", việc nghiêng lệch thế lực trong triều đình dẫn đến việc địa phương nổi lên.

Ở Đàng Trong, từ cuộc khủng hoảng tiền kẽm cho tới loạn Lê Văn Khôi đều có đặc trưng là sự tham gia của tầng lớp thương nhân bên cạnh các nhóm người dân tộc. Nguyên nhân của các loạn lạc này đều khởi đầu từ mâu thuẫn quyền lực ở tầng lớp quan lại "phía trên" tác động xuống quyền lợi của nhóm người "phía dưới". Như ta thấy hoạt động của nhà nước VN Cộng hòa thời kỳ đầu chính là sự tiếp nối của hoạt động ở Sài Gòn từ xưa, sự kết hợp chặt chẽ của tầng lớp chính trị gia và thương nhân. Trung Quốc cổ có câu rằng "Phú khả địch quốc, quốc tắc suy" - hoàn toàn trái ngược với quan điểm hiện đại cho rằng phải phát triển kinh tế thì nước mới giàu, nhà Minh sụp đổ trong thời kỳ thương nghiệp phát triển rực rỡ nhất, đang trở thành "nghi án" khó giải thích nổi trong giới sử gia. Thật ra, điều này cũng... rất gần với các cuộc nổi dậy của giai cấp bình dân châu Âu thời công thương nghiệp phát triển. Các nhà buôn dựa vào quan hệ với quan chức để vơ vét tài nguyên, đè nén người nghèo - trong nền kinh tế chưa phát triển dư dả để "người nghèo cũng là đủ ăn", nơi 1 nạn đói có thể giết chết hàng triệu người, việc tài sản tập trung vào tay 1 số người đem đến tác hại vô cùng lớn. Đến lượt họ, các quan chức dựa vào thương nhân để lấy tài sản tạo thế lực cho mình, lôi kéo bè phái tạo nên mạng lưới trùm ngày càng rộng. Các thế lực kinh tế này còn có thể ảnh hưởng, kết liên với các thế lực địa phương. Trong xã hội, người nắm tài sản cũng đồng thời là chủ của tầng lớp dưới, như địa chủ với nông dân, chủ nhà với nô bộc. Kết quả, khi có sự xung đột về quyền lực, nó sẽ lôi kéo toàn bộ cái khối này vào cuộc. Với xã hội quân chủ nơi chỉ có 1 quyền lực duy nhất, thế lực kinh tế do đó cũng là duy nhất, là sự lũng đoạn không thể khống chế có thể gây sụp đổ cả 1 cơ cấu - Mà các chính trị gia cổ đại phương Đông phải ứng phó với nó bằng cách thuyên chuyển quan liên tục giữa các địa phương, không cho phép bè phái hình thành.

Như vậy, Tây Sơn khéo thay đã... phá nát toàn bộ cơ cấu này. Các thế lực địa phương họ tộc Đàng Ngoài mất đi sức mạnh của nó vì đã mất người khởi xướng. Các thế lực kinh tế Đàng Trong bị phá hủy hoàn toàn theo nền kinh tế lẫn chính trị xã hội. Tuy vậy, việc phá hủy này chỉ là tạm thời, và khi có cơ hội nó lại mọc lên. Ở đây ta chỉ bàn đến việc Tây Sơn ứng phó như thế nào với thực tế của VN cuối thế kỷ 18.

- Với Đàng Ngoài, Tây Sơn giữ nguyên cơ cấu cũ, thậm chí bắt dân lưu lạc trở về nguyên quán, cho người có thế lực lớn quản làng xã. Ở tầm cấp cao hơn, Tây Sơn dùng lại người của Lê Trịnh, thậm chí có những người "bị buộc ra làm quan". Tuy nhiên, tất cả bọn họ nằm dưới sự kiểm soát của 1 ông "Sát tứ phụ nhi thị lang" Ngô Thì Nhậm mà Ngô gia văn phái dù hết sức tô vẽ tâng bốc che giấu thì họ Ngô cũng chẳng dám thừa nhận + 1 ông lão có tiếng mà không có miếng (thế lực) nào trong núi (Chú ý, trường hợp này khác với cả khi Nguyễn Phúc Ánh đi tìm Võ Trường Toản - người là thầy của hầu hết quan lại Gia Định) + vài ông quan "bị bỏ rơi" khác. Kết quả, khi quân Nguyễn ra Bắc, chính các quan Đàng Ngoài dâng tấu cho Gia Long khi đó đã trở về Huế xin "xử tội những kẻ kia cho biết xấu" - Lại cần chú ý, Gia Long đã dùng lại hầu hết quan lại Lê Trịnh + Tây Sơn, chính những người đã từng ở dưới kẻ bị họ đòi đưa ra xử kia. Như vậy, những quan lại cầm đầu này không hề "được lòng người", cũng như nói lên sự bất mãn của quan lại Đàng Ngoài với Tây Sơn. Đến giai đoạn thứ 2, Ngô Văn Sở ra thay Võ Văn Dũng, rồi Nguyễn Quang Thùy cùng các tướng đã xuất hiện trong trận Trấn Ninh quản lãnh Bắc Thành, cơ cấu lãnh đạo Bắc Thành đều đã chuyển hết sang Quy Nhơn. Điều này có thể đã dẫn đến hệ quả là toàn bộ "thế lực Lê Trịnh" đuổi theo bắt Tây Sơn ngày cuối cùng, ngay cả những bộ tộc người thiểu số ở Lạng Sơn.

Sự quản lý bằng cách phân phong, dùng quân lực áp chế chặt chẽ cũng cho thấy tính hiệu quả của nó khi "gọng kềm sắt" còn vững vàng, nhưng chỉ cần lơi lỏng là thấy ngay hậu quả. Triều Nguyễn cuối thời Lê Chất cũng đã cho thấy kết quả này, khi chỉ cần mất đi "bàn tay sắt" quản Bắc Thành, loạn lập tức bùng nổ - và cũng dưới sự quản lý của 1 ông Quy Nhơn. Sự việc này đã khiến Minh Mạng cải tổ lại toàn bộ cơ cấu hành chính, khởi nguồn từ Bắc Thành - và cơ cấu mới này chứng tỏ sự vững vàng của nó ngay cả trong loạn lạc Lê Văn Khôi, đánh dẹp tan toàn bộ các lực lượng dai dẳng hàng mấy chục năm mà Gia Long không dẹp được. Để rồi sau này đến tận cuối Pháp thuộc, VN chưa bao giờ thấy lại các cuộc nổi dậy có quy mô lớn đến vài tỉnh thành như trước. Thật ra, việc này có cốt lõi rất đơn giản: Thắt chặt quyền lực trung ương và tiêu giảm quyền lực địa phương - ngay cả trong ý thức.

Nhưng để thực hiện điều này cần đến cơ-cấu và trật-tự, thứ mà Tây Sơn chưa bao giờ có. Lực lượng này liên tục phản bội, tranh đoạt, đấu đá nhau, là nơi mà tính cá nhân bị đẩy đến mức độ cực đoan, nơi mà ai cũng chỉ e "đứa kia" có phần lớn hơn thì sẽ quay lại giết mình. Một triều đình chắp vá không biết dùng ai tin ai, chỉ có cách tự xé nhỏ mình ra để tùy thời ứng biến. Trong môi trường đó, các thế lực địa phương cũ chỉ cần chút ít thời gian và không gian đã có thể rục rịch sống dậy, được hận thù mới cũ tiếp sức, bùng phát vào bất cứ lúc nào.

- Ở (một nửa) Đàng Trong, Tây Sơn của cả Nguyễn Nhạc lẫn Nguyễn Huệ đều có vẻ không hề muốn xây dựng lại nền kinh tế. Hơn 10 năm trời nằm dưới quyền Nguyễn Nhạc, Hội An không được đặt thêm 1 viên đá. Phú Xuân dưới thời Nguyễn Huệ chỉ còn vài chục thương nhân, đến khi Gia Long trở lại mới xây cái chợ Quy Lai thị tiền thân của chợ Đông Ba gọi thương nhân "trở về". Nguyễn Huệ thậm chí xin Trung Quốc mở nơi buôn bán chứ không muốn xây dựng cảng thị ở VN. Điều này có thể phản ánh tâm lý lo ngại của Tây Sơn với chính lực lượng thương nhân này. Cho nên xung đột với thương nhân có thể bỏ qua (còn đâu mà xung đột). Ở đây vấn đề chỉ là thù oán quá sâu sắc của người Thuận Quảng và Tây Sơn, dù họ chưa bao giờ thực hiện được cuộc nổi dậy lật đổ nào thì vẫn ồ ạt theo về với những đợt tiến quân của quân Nguyễn. (Thật ra việc không thực hiện nổi cuộc nổi dậy nào cũng đã cho thấy khá nhiều rồi). - Theo nhận xét vô cùng ngắn gọn của các chứng nhân ngoại quốc - Cochinchina tan tành vì cuộc nổi dậy cuối thế kỷ 18.

Khi lừa dân Thuận Quảng hết lần này đến lần khác, Nguyễn Huệ tỏ ra chưa bao giờ để tâm thực sự đến vùng đất này để tìm cách "lấy lòng" nó. Do đó, nói về phương cách Tây Sơn quản lý Đàng Trong có hơi thừa chăng?

Chỉ là quay ngược lại đoạn khởi đầu, Tậy Sơn dùng thương nhân rồi diệt thương nhân, dùng Trịnh rồi diệt Trịnh, tôn Lê rồi diệt Lê, tôn Nhạc rồi hạ Nhạc. Một quá trình liên tiếp xảy ra để rồi đến lúc họ không thể (và không đủ can đảm) dùng bất cứ lực lượng nào trong đó, không thể tin bất cứ ai. - Từ đó, họ đưa ra những quyết định và cách thức dần dần đẩy chính mình vào tuyệt lộ, từ chuyện cá nhân cho đến chuyện quốc gia. Trong 1 đất nước tan vỡ và phân rã, cách thức này tuyệt nhiên không đem lại lợi ích nào.




Hoa
Tuesday, December 12, 2017 Author: Trường An

Lang thang đọc được câu "Thiên Đồng Dậu Tuất, chủ về oán hận", tự dưng muốn thở dài 1 cái. Người ta nói tướng tự tâm sinh, có người lại bảo xem tướng có thể nhìn thấy cả 1 đời. Không Kiếp Dần Thân tình thân hóa bạc lại nằm ở huynh đệ, Tử Phủ có ở đó cũng chỉ là giả dối cướp đoạt; Linh Xương Đà đau đớn 1 đời nằm ở Phu Thê. Một đời có được Khoa Quyền Lộc trải bước thì cũng chỉ là càng lên cao càng lạnh.

Hoa mai đẹp không phải vì nở trong tuyết, mà là loài hoa không thể thấy lúc héo tàn. Lặng lẽ nở ra, lặng lẽ rơi rụng, người chỉ nhận ra khi xuân qua hoa rụng hết, nào thấy từng thời khắc hoa rơi trong gió tuyết. Luôn luôn diễm lệ, luôn luôn rực rỡ, luôn luôn thản nhiên. Chỉ phơi bày dáng vẻ kiêu hãnh nhất, cái vẻ đẹp nằm trong thời khắc duy nhất, để ngay cả héo tàn hay rơi rụng cũng đẹp. Cố sức để bung nở ra trong gió bão nhưng lại chẳng có sự níu kéo nào với cuộc đời.

Mấy (tháng) nay lan ở nhà đang nở, mãi mãi mãi chưa héo đi cánh nào. Tự nhiên nghĩ ra bộ tứ quân tử thì lan cúc trúc (bonus thông tùng) đều là loại cây sống dai sống khỏe, đến hoa cũng dai khỏe. Nhưng với kinh nghịm làm vườn ngó 1 cây lan mấy tháng chưa chịu héo đến mức đi qua nó như cây nhựa luôn, cúc lại càng là loại hoa đáng bực mình, thâm đen lại dần dần rồi cứ thế quắt lại trên cành, trừ phi cắt đi chứ không đời nào tự rụng lấy 1 cánh - 1 đứa thiếu kiên nhẫn và thượng tôn "nhan sắc" như mềnh chỉ dùng 1 chữ để mô tả: Dai ngoách. =)) Với mềnh, muốn sống dai thì hãy như trúc, sống xanh sống khỏe sống ào ạt đến đúng trăm năm rồi lăn ra chết ngoéo đồng loạt là xong. Muốn kết quả thì cứ như mai rụng cho bằng sạch còn mỗi cái nhụy ở lại, từ trắng chuyển sang xanh - nói chung đẹp trong mọi hoàn cảnh. Hự hự, trồng cúc có cảm giác xì troét vô kể khi nhìn nó thâm đen quặt quẹo dần dần, mà phải đến khi nó chết hẳn chết đen thui thì mới lấy hạt được. ="= Mà (tỏ vẻ) bám dai vậy thôi chứ cây cúc là loại cây dặt dẹo kén chọn, nhiều nước là úng thối rễ, thiếu nước là lăn quay ra chết khô tắp lự. =))

Nói chung, trồng cúc đem lại cảm giác xì troét đến nỗi lúc nó chết queo rồi chỉ còn lưu lại cảm giác ghét bỏ khôn kể xiết, thay vì nhớ đến lúc nó xinh xắn rực rỡ. Nàm chi, nàm chi, làm vậy để làm chi??? Thà làm Lâm Đại Ngọc cầm chổi quét hoa mỗi ngày 3 bận còn đỡ xì troét hơn.

Mà nhắc Đại Ngọc, họ nhà mai là cái loại hoa rụng ngay giữa ngày xuân, người ta vẫn thấy nó rực rỡ, chỉ cô Lâm nhận ra nó đang rơi rụng. Đến cuối mùa hoa hết hoa héo người ta còn thở dài tiếc xuân, chứ rụng giữa mùa thì chỉ là cái cảnh tượng tráng lệ tuyệt trần "Hoa tạ hoa phi hoa mãn thiên, hồng tiêu hương đoạn hữu thùy liên?" Ai thương ai tiếc ai hay?

Dù xao, người không nên giống mai. Đó là 1 kiểu so sánh hông có tí cát tường nào.

Thôi mài cứ vật ra đen thui dặt dẹo nửa đời có khi còn có người tiếc mài ạ. =))))))

.

Đời người như chén rượu, uống thế nào cũng sayyyyy...




Pháo hoa
Sunday, December 3, 2017 Author: Trường An

Hôm nay mới đi coi tập cuối của Tiểu thời đại (Nói thật thì do chỉ chịu đựng nổi đến phần 2 của phin, phần 3 chả biết là trò mèo gì). Nói chung xem phin trong trạng thái rất mơ ngủ và tua khẩn trương, đặc biệt những đoạn dính đến DM - trời ơiiii cái giọng bạn này mỗi lần nghe là nổi da gà. Giọng Tạ Y Lâm uốn éo do nhân vật nó vậy nghe còn tức cười, còn cái giọng bạn DM kết hợp với cách diễn của bạn làm em Lâm Tiêu trong truyện đã hơi khó chịu rồi vào phin còn khó ưa gấp trăm lần.

Thì nói chung kết quả của công cuộc lướt lướt lướt qua 1 nồi máo chó với kiểu "cái gì cũng muốn thêm vào" thì rốt cuộc cái mềnh nhớ chỉ là cảnh pháo hoa rực rỡ làm nền cho tựa phin lúc vào, cùng với bài hát "chúng ta đã lang thang khắp chốn" gì đó cuối phin. Cũng y chang như lúc đọc truyện, phần lớn đọc vì văn phong của QKM và... cách chởi nhao của đám người này, đọng lại cuối cùng chỉ là cái kết "bùm, tất cả chết hết". =))

Nhưng chỉ 2 cảnh đó cũng tạo được thứ cảm xúc (tương đối) mạnh mẽ. Tự dưng, chúng nó khiến cái nồi máu chó trong phần lớn thời gian còn lại cũng... giống như pháo hoa, cái rực rỡ choáng váng liên tiếp nổ bùng lên, đợt này nối tiếp đợt khác, rồi khi tất cả đã tan đi thì người ta không còn nhớ nổi mình đã thấy cái gì, chỉ còn là cảm giác "chúng ta đã đi lang thang khắp chốn"...

Nếu ẩn ý của QKM quả thật là như vậy, thì toàn bộ nồi máu chó này vốn là 1 tấn kịch nổ bùng như pháo hoa, hoa lệ kịch tính phi lý đến tận cùng bày trên bầu trời của 1 "tiểu thời đại". Phong cách này tự dưng làm nhớ tới phong cách dựng phim tương tự của 1 tác giả văn học mạng khác là Hàn Hàn.

Có người bẩu chắc thời thiếu niên của mềnh cũng máu tró nên mới cảm nhận được nồi máo tró của Thừa phong phá lãng. =)) Nô nồ, thật ra mềnh đang có cảm tưởng rằng 1 số tác giả mạng TQ đang xây dựng 1 trường phái phong cách mới, chắc gần gần với black comedy - Nếu đặt tên thì chắc mình gọi phong cách này là "Pháo hoa thời không". Kiểu chừng mấy chục năm sau, bạn ngồi chém gió về thanh xuân oanh liệt, nữ thì cho "cuộc tình mê đắm" của mình thành lung linh trăm màu dù thực tế đứa bạn bên bảo "mày nhạt như nước hến", nam thì sang sảng nói về những cuộc phiêu lưu diệt gian trừ bạo của mình (dù đứa bạn bảo mày ếu khác gì Chaien). Nói chung, mọi tình cảm thời thanh xuân đều đã bị phóng đại trực tiếp trong thời điểm đó, khiến "thế giới" trong mắt bạn so với người khác đã khác nhau lắm rồi - Và nó còn được thời gian đẩy ra xa, được chính bạn tô vẽ thêm đủ thứ màu sắc, biến thành thứ "pháo hoa thời không" mà dù ai cũng thừa biết nó máu tró chả có tí logic lý luận thực tế vũ trụ nào, nhưng ngược đời thì ai cũng cảm thấy có đôi chút đồng cảm. =))

Cuối cùng thì khi 4 bạn kia cất tiếng hát "tình bạn lâu dài" gì đó, tự dưng lại nghĩ đến "đám cháy" của QKM chính là sự hủy hoại của quá khứ, những gì tưởng có thể trường tồn mãi mãi, vượt qua bao phong ba bão táp rồi lại mất đi - Khi kể lại, người ta có khi bịa ra "1 đám cháy chết hết" thay vì nghĩ đến lý do hoàn cảnh. Phim ảnh hay các sản phẩm tưởng tượng lúc này như 1 cái bong bóng 7 màu để người ta mặc sức tô vẽ giấc mộng của mình, rồi cũng dễ dàng làm vỡ nó. Trong chớp mắt, dường như "tận thức" được cái thế giới nằm trong bóng đèn, kết tinh từ những cảm xúc vờ vĩnh của diễn viên, chả có cái gì là thật cả. =))

Cái gọi là "phim thanh xuân" có lẽ nó cũng là như thế này, nhưng thay vì làm 1 đống tình tiết máo tró mà còn cố "thực tế học đường", 1 số người như QKM hay HH sẵn sàng dựng xây 1 "giấc mộng pháo hoa" nơi mà mọi thứ đều đẩy đến mức cực cùng.

Ờ thì trong thực tế người ta xa nhau có thể chẳng vì 1 đám cháy nào cả, cô tiểu thư sang chảnh kia chả bao giờ nhìn xuống mình, cũng như các "hiệp sĩ" thực ra giống Chaien, và cô bạn nhà bên vừa chẳng yêu mình lại càng chẳng tự tử vì mình đâu. Nhưng người ta xem pháo hoa chẳng phải vì nó đẹp đó sao?

Người ta vốn chỉ muốn kể giấc mộng giấu kín nơi thành thị phồn hoa Thượng Hải, hay trong 1 thị trấn nhỏ vô danh, bằng 1 phong cách mà phần lớn người chừng vài chục năm sau sẽ vừa ngồi vỗ đùi vừa kể cho con cháu nghe "Ôi ngày xưa ông bà yêu nhao oanh liệt nhắm". (Không viết tự truyện là đã có lương tâm lắm rồi. =)) )

Tự dưng nghĩ đến đoạn thơ Hồng lâu mộng mà QKM trích dẫn trong sách. Trong nền văn hóa ngàn đời coi "đời là mộng", các nhà văn trưởng thành từ 1 "không gian ảo" lại dường như có ý thức đẩy khía cạnh này đến mức cực cùng.

Đến đây lại nghĩ đến cái kết của Thất Nguyệt và An Sinh, thật ra cũng man mác cùng 1 ý thức như này - Thời không và cuộc sống giữa 2 thế giới, Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp. Hay xa xưa hơn, chính là Chân Giả Bảo Ngọc lẫy lừng. Ở đất nước có cùng nền văn hóa như Nhật Bản thì từ lâu đã có dạng phim khai thác "hiện thực trong nhiều ý thức" kiểu như này rồi, nhưng nó không có chiều hướng "phóng đại" tận cùng như này.

Cái phong cách này hiện thời mới được khai thác trong mỗi phim thanh xuân, ờ nhưng hông xao, các bạn cũng còn trỏe mà.




N
Tuesday, November 28, 2017 Author: Trường An

Little little bones, little colour stones
Try to keep, try to keep you warm
If you wanna know wanna know your mind
Leaving all, leaving all behind

Little leaves little leaves will form
Try to see, try to see the storm
If you wanna know wanna your heart
Lose it all, lose it all from the start

There're things that are better to left alone
So many questions that are beyond control
I don't want to know how this is gonna end
'Cos it won't stop the rain from comming down again
I don't need that superstition fortune telling future magicals
I live a life unpredictable

TT________TT Đã bảo số ẻm may bốc được toàn thứ thú zị màaaaaaa. À mà hông, bài đầu tiên của ẻm lạt nhách đúng kiểu "nhạc cổ động", sang đến bài này mới thấy chút "nội hàm". Tuy mà ờ, giọng vẫn chưa đi kịp với lời, kiểu hát tiếng ngoại quốc nên cố gắng về kỹ thuật nhiều mà chiều sâu chưa thấy. Vả lại, dù ẻm phải "trả giá" nhiều cho vị trí hiện tại nhưng chưa chắc đã thấm thía được cái gọi là "leaving all behind". Khổ thứ 2 dù "lose it all" là "giải phóng bản thân" thì lần đầu nghe mềnh vẫn nghĩ là "losing all" cơ.

Nói chung nghe thì có cảm giác của "lá non nhú lên" chứ cái khoáng đạt thì chưa có, mà cái giọng em này hát tiếng Anh nghe đúng giọng thiếu niên, hông có sắc thái trầm mặc lúc ẻm nói tiếng mẹ đẻ. Được cái khúc đầu khi ẻm cất tiếng kể về "mấy hòn đá sắc màu" phải "bỏ lại hết tất cả" rất là có cảm xúc. Nghe vẫn như 1 thiếu niên phải đi khỏi nhỏ nhoi ấm áp để bước vào vùng bão.

Nhưng mà ờ, có cái gọi là "có duyên" ó, như đúng lúc này mềnh nghe cái câu này "I don't want to know how this is gonna end, 'Cos it won't stop the rain from comming down again". =)) Ờ vầng, trời thì sẽ vẫn mưa thôi, nên kết quả thì... cứ kệ nó đi.

Những viên đá màu thì đã xa tít tắp đến không thể nhớ ra được nữa rồi...




NNNN
Monday, November 27, 2017 Author: Trường An

Thiệt ra mềnh ghét mấy bài nhạc kiểu "tụng kinh" thấy mồ, nhưng cho bài này vào đây chỉ vì câu "đến vội vàng đi cũng vội vàng". Hay là... canh ba tỉnh mộng đó mà.

Từ khi đóng FB, hạn chế nhận điện thoại thì nhận ra tâm tình ngày càng lạnh nhạt. Thật ra, đối với sự tranh cãi hay bàn luận hay phê phán hay dìm hàng gì đó, rất thản nhiên đối mặt chẳng qua vì... tâm tình rất lạnh nhạt.

Mình từng khuyên 1 người rằng "hãy nghe người ta nói, nhưng phải nhận ra thứ gì sau đó". Cho nên với toàn bộ sự xôn xao nào đó, đã ngồi nghe và toàn nghĩ đến chuyện... lời này xuất phát từ đâu. Phân tích chán chê rồi... quên luôn người ta đã nói gì.

Nhưng mà thật sự nghĩ lại thì mình cũng từng nói... chả bao giờ đọc bài nhận xét về "mình". Ngay cả đống bài người ta tung cho mình còn chả đọc hết cái tựa đề. Nghĩ đi nghĩ lại thì thật ra mình chả phải xem trọng lời người khác (hay là toàn bộ người-khác luôn), cho nên mình đã ngồi nhìn thiên hạ như... sở thú. À, nói vậy cũng hơi quá đáng, thật ra mình là đứa ham vui, cho nên mục đích đầu tiên của mình khi nhận việc này là... vui mà.

Điều này thì quá khó giải thích với người khác, nên thôi vậy. Dù sao, con người là thứ mà càng tiếp cận càng xa nhao vạn dặm. Mình lại là 1 kiểu người có mức "tham vọng" hơi cài số âm - Vầng thì thật ra cái thằng Tham Lang đã ôm luôn Ngũ Không ngồi chơi xơi nước. Qua cái đại vận ôm nguyên con Địa Không thì càng nhận ra tâm tình ngày càng lạnh nhạt. Tim gan phèo phổi đang ở trạng thái "đến vội vàng đi cũng vội vàng" chẳng lưu giữ cái gì.

Nhưng điện thoại thì cũng đến ngày phải nhấc, đời thì cũng đến ngày phải quay về. Chẳng qua đang tự kiểm điểm xem việc mình cứ tham gia kiểu "vì nó vui" thế này sẽ dẫn đến cái gì. Ai cũng xem cuộc-sống nghiêm túc hơn mình, cả những vấn đề của họ cũng liên quan đến chuyện nghiêm túc hơn mình, chẳng phải kiểu rũ 1 cái là quay đi như mình.

Thói quen bao năm nay "rũ 1 cái là quay đi mất", không hề ý thức được trách nhiệm với ai, có thể cuối cùng sẽ dẫn đến hậu quả bự, rất bự. Nhưng mà... tại xao mình lại phải tham gia vào cái trò nàyyyyyyy??????




TS – LC&ĐV – 6
Friday, November 24, 2017 Author: Trường An

II-3: Lực lượng

Nhân nói đến chuyện "cải cách", thì 1 vấn đề thâm-căn-cố-đế trở lại: Sự thiếu hiểu biết về kiến thức nhân-loại nói chung đã khiến sử học VN có những nhận định rất "buồn cười". Xa xa thì có Hồ Quý Ly "cải cách đột phá" khi dùng tiền giấy đã được sử dụng ở TQ 500 năm trước, gần gần thì có Nguyễn Huệ "học theo Chu Tử" là tân tiến văn minh, gần nữa thì là muôn vàn chuyện phét lác về "học hỏi Tây dương" kiểu chiếc đèn treo ngược. Thậm chí lời Khổng Tử, Chu Tử, aka các ông Tử được vài bậc danh nhân nhà ta trong lúc thuận miệng đọc lại cũng trở thành... bài thi phân tích tư tưởng chói ngời hiện đại đột phá của "danh nhân nhà ta" (thật ra đây cũng không phải lỗi của danh nhân, ai biết "đời sau" của mình nó lại... không hiểu biết bằng mình).

Cho nên trong cái nền lịch sử VN hỗn độn địa phương cá nhân nọ, đôi khi tự nhiên lại nổi lên vài "ngôi sao cải cách" chói ngời vượt qua cả không gian thời gian thế giới vũ trụ, và bị "thực tại phũ phàng" nuốt chửng. Thật ra ngoài chuyện "không hiểu thế giới" thì còn 1 vấn đề nữa là... không hiểu cả chính mình luôn. Hậu quả của tư tưởng thuộc địa đầu thế kỷ 20, ai ai cũng chắc mẩm rằng "tổ tiên nhà mình" là 1 cộng đồng gì đó vô cùng "tách rời khỏi thế giới" nhưng lại hay... đột biến gien sinh ra thiên tài, những người ở trong cái cộng đồng "hủ lậu khép kín" nhưng mang tâm tư của... anh hùng đột biến xuyên không. Nghĩa là, bất chấp mọi môi trường phát triển, mọi hoàn cảnh xung quanh, mọi kinh lịch xã hội, mọi văn hóa thế giới thế thời, "tư tưởng tân tiến tân thời" nọ lao từ đâu xuống thì... cứ hỏi ông giời.

Trong phạm vi bài này thì không đủ đất để mà nói về chuyện văn minh thế giới hay khu vực, nhưng chỉ nhắc lại 1 chuyện rằng: Trình độ thương nghiệp của Đàng Trong vô cùng phát triển, và ngay từ thế kỷ 16, các ông giáo sĩ đã khen ngợi hết lời về sự cởi mở của dân Đàng Trong. Các chúa Nguyễn cũng liên tục sử dụng giáo sĩ Tây dương để làm việc, chúa Nguyễn Phúc Chu thậm chí còn học toán và thiên văn từ các giáo sĩ. (Lại có 1 chuyện cần nói, các chúa Nguyễn cũng chẳng phải sản phẩm của đột biến gien, cùng thời gian thì bên xứ TQ, Khang Hy cũng tập hợp giáo sĩ dạy thiên văn địa lý, vua Xiêm bên nước Đại Thành có 1 ông quan Hy Lạp, cử sứ thần sang Pháp, thương nghiệp Đông-Tây bên Miến Điện đông đúc như trẩy hội... Tất cả những bài ca "bế quan tỏa cảng" lẫn hâm dở này nọ kia đều do "bọn Tây" nói phét ra đấy). Chuyện tôn giáo thì phần lớn nằm ở lý do tôn giáo hoặc do những đợt tấn công của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan vào các đảo quốc châu Á xung quanh gây chuyện - Nói chung, là do phản ứng với "thế lực gây nguy hiểm" chứ chả phải do tư tưởng gì.

Cho nên, Nguyễn Phúc Ánh sinh ra trong 1 môi trường như thế, nơi mà khi Lê Quý Đôn vào còn vớt được 1 ông Tây sống ở Phú Xuân làm nghề sửa đồng hồ, 1 ông "đi Tây về" cái gì cũng biết sửa biết làm. Sự tiếp nối "truyền thống" này được phát huy ở Gia Định, khi Nguyễn Phúc Ánh được tiếp xúc với 1 nguồn lực mới mẻ hơn: Người Pháp, 1 trong các quốc gia đi đầu trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần I, vào đúng thời gian đỉnh cao của cuộc cách mạng này. Tư tưởng Nho giáo, sự kết hợp của "Tam giáo đồng quy", dù không tương hợp với các tôn giáo nhưng không đến cái mức "nhìn nhau như cừu thù" đã khiến Gia Định nói riêng, miền Nam nói chung là cái nôi cho đủ loại tôn giáo cho đến tận ngày nay. Cho nên Nguyễn Phúc Ánh 17 tuổi đã đi theo Bá Đa Lộc làm thuyền chiến 2 tầng, thu nhận vào quân mình 1 đám người chả cần biết xuất thân xuất xứ, cũng như Minh Mạng sau này có học toán, thiên văn hay viết chữ latinh cũng là chuyện vô-cùng-bình-thường khi nhìn vào môi trường phát triển này.

Nhưng vào bối cảnh VN, nơi mà tính địa phương nhỏ lẻ vẫn còn cao độ, thì 1 đàng ở Gia Định ta thấy Nguyễn Phúc Ánh nhận người Pháp, 1 đàng ở phía Bắc ta thấy Nguyễn Huệ viết chiếu rủa xả "Bọn Tây dương trắng nhợt như xác chết trôi". À thì, dù nói thật ra trước đó người VN thường chỉ tiếp xúc với người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha da ngăm tóc đen mắt đen - thì Đàng Ngoài vẫn còn người Anh, Hà Lan. Chính Tây Sơn vẫn có lúc lôi kéo 1 đoàn sứ thần Anh. Giáp điệp Nguyễn Nhạc tung vào Gia Định tung tin người Tây làm phép dọa người. Một lần nữa, ta chả biết Tây Sơn hay Nguyễn Huệ có kỳ thị gì hay không, chỉ thấy rằng họ tiếp tục nhắm tới kích động sự kỳ thị và thù hằn nằm trong 1 số người với "nhân tố lạ bên ngoài". Hay nói cách khác, sự tiếp nhận giao thương và tiếp xúc văn hóa nằm ở 1 số "thành phần tinh anh", còn số khác vẫn là lối sống và suy nghĩ cũ, có thể họ cũng sẽ tùy thời thay đổi cái nhìn - Hoặc như ông con lai J. Baron chua chát nói về tư tưởng dân Đàng Ngoài: họ ghét đi ra ngoài, kỳ thị bất cứ thứ gì ở bên ngoài (nghe có vẻ như tuổi thơ của ông ở Đông Kinh cũng không được vui vẻ cho lắm).

Mà điều này thì... có vẻ cũng đúng khi mà Nguyễn Huệ đang muốn đem quân miền Bắc đánh xuống Gia Định. Số quân Thuận Quảng có vẻ không đáng kể khi mà Nguyễn Huệ lên tiếng mắng mỏ hết "tên Chủng" này đến "tên Chủng" kia, rồi "dân Gia Định nhút nhát giờ lại nổi lên" đến "bọn chết trôi biển Bắc dạt xuống". Lời chiếu này 1 lần nữa xác lập tư tưởng của Tây Sơn: Hoàn toàn không coi Gia Định là 1 phần "của mình", và kích động mối thù hằn hay khinh ghét giữa các vùng miền, sự kỳ thị với thành phần "bên ngoài" xa lạ và hỗn tạp mà đại diện là "Gia Định" - nơi có vô cùng nhiều sắc dân "ngoại quốc" sinh sống. (Làm 1 phép so sánh, dù trong thời Nguyễn vùng Thanh Nghệ có nổi loạn liên tục thì cũng chả ông nào rống lên "đồ dân Thanh Nghệ ngang ngược giờ lại nổi lên" trong đoàn quân đi bình định).

Như đã nói trước, Tây Sơn lớn mạnh và phát triển từ những mâu thuẫn, thù hằn, kỳ thị và xung đột, họ rất giỏi trong việc khuấy động những thù hận này, lợi dụng nó để lấy phần lợi cho bản thân. Nhưng chơi dao lắm có ngày đứt tay, hay nói cách khác là Nguyễn Huệ không nhận ra rằng vị thế của mình đã ở đâu: Là hoàng đế của 1 quốc gia chứ không phải chủ tướng của 1 nhóm người địa phương. Ngày xưa Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành cũng phải kể 91 tội của vua Chiêm chứ nào phải kiểu "ta ghét ta đánh", "nó chống ta nên ta đánh". Và khi "ta" ở đây là 1 triều đình mới lập chưa có thành tựu ơn nghĩa sâu dày gì, thì thật ra không lấy làm lạ khi Nguyễn Huệ cuối cùng đành vời đến Nguyễn Nhạc để kiếm đường đi đến Gia Định. Còn dân Gia Định trước đó còn than trời than đất oán trách Nguyễn Phúc Ánh đổ cho họ 1 đống việc, 1 đống thuế thì sau đó... im lìm ngoan ngoãn hết mực.

Như vậy, quay lại với điều đang nói ban đầu, thì xét cả về môi trường, hoàn cảnh lẫn biểu hiện, Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc của Tây Sơn đều cách cái hình tượng "ngôi sao cải cách" của những sử gia tân thời hơi bị xa xôi. Là những thương nhân trên vùng núi Quy Nhơn, họ có điều kiện tiếp xúc với "bên ngoài" - nhưng chỉ hạn chế trong giới thương buôn Trung Quốc, Đài Loan (có thể cả Nhật Bản). Với người Tây và tôn giáo của họ, Tây Sơn không kỳ thị nhưng cũng không chào đón - Nguyễn Nhạc có thể kêu gọi giáo dân vào 1 thời điểm nào đó, rồi lại thu thuế họ, Nguyễn Huệ cũng dùng họ rồi lại dồn ép họ. Như các thương nhân, Tây Sơn sử dụng các "điều kiện bên ngoài" như 1 món hàng, khi cần giáo dân thì gọi giáo dân, khi cần thương buôn thì gọi thương buôn, khi cần người Đàng Ngoài thì "theo ông Chu Tử", khi đánh Quy Nhơn thì kể tội "giết vua", khi cần đánh Gia Định thì "1 bọn chết trôi"...

Vì chuyện "nhạc nào cũng nhảy" này, thật ra khó mà xem xét tư tưởng thật sự của Tây Sơn là gì. Tuy nhiên, xem xét cả quá trình - khi mà thời gian Tây Sơn và Nguyễn Phúc Ánh xây dựng lực lượng thật ra cũng tương đương với nhau: Khi mà Nguyễn Phúc Ánh ở Gia Định, sau khi Cù lao Phố bị đốt cháy, thương nghiệp bị hủy hoại, đã đưa thương nhân đến Sài Gòn để xây dựng lại từ đầu, bước đầu thu nạp được Mãn Noài cùng mua được vài thuyền Tây khác, tự chế tạo thuyền kiểu mới cho mình - Thì trong cùng thời gian, Tây Sơn đi thu được 1 bọn hải tặc TQ về "đào tạo"; Hội An bị phá, Nước Mặn không dùng được, đoàn thuyền Anh đi mất hút, Tây Sơn... cướp được tàu Bồ Đào Nha, dìm chết chủ thuyền. Thời kỳ thứ 2, Nguyễn Phúc Ánh về Gia Định lần này còn tan hoang hơn, mở khoa thi thu nhận người Gia Định làm quan, tìm mua vũ khí, xây dựng lại thương nghiệp - Thì đến năm 1792, năm Nguyễn Huệ chết, Tây Sơn mới chỉ chùng chình ý định dùng vài ông giáo sĩ thử kêu gọi thuyền đến (mà chả ông nào muốn đi), khoa thi thì đến lúc Quang Toản thua chạy mới mở; việc chính Tây Sơn làm là... đi đánh Vạn Tượng và hoạch định đánh Thanh, đánh Gia Định. Trong hơn 20 năm nằm dưới quyền quản lý của Tây Sơn, thương cảng Hội An - Đà Nẵng phồn hoa 1 thời đến tận 1798 vẫn tan hoang tiêu điều khốn khổ, chả có gì được dựng xây tái tạo. Ngay cả ở trong quyền quản lý của Tây Sơn, cảng thị Nước Mặn - Thị Nại từ đó cũng hoang phế không bao giờ phục hồi lại nổi.

Nhưng Tây Sơn quét sạch Gia Định, Phú Xuân nhờ đội thuyền bọn hải tặc TQ chỉ huy, đánh ra Đàng Ngoài nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh, vét sạch kho tàng họ Trịnh đem về Phú Xuân. Thật ra, năm xưa Trịnh đánh Mạc, dân Nghệ An chết đói chỉ còn 1/10, Đông Kinh bị đốt sạch thì... đã có làm sao? Cơ cấu địa phương được 1 điểm rất có ích cho chính quyền trung ương: Chỉ cần có 1 lực lượng đủ mạnh để "khống chế tầm gần, tấn công tầm xa" - nói cách khác là đủ để tiêu diệt "địa điểm nổi loạn" nào đó, thế là đủ. Những địa phương bất mãn rải rác dễ dàng bị khống chế trong tầm ngắm, một khi đã thu được quyền lực ở trung ương và có 1 đội quân đủ mạnh. (Ví dụ dễ dàng nhận thấy nhất là nhà Thanh ở Trung Quốc - một khi chính quyền trung ương nhà Minh tan rã, không thể kết nối nổi 1 lực lượng đủ mạnh, quân Thanh cứ thế ăn dần dù người Hán có căm ghét triều đình này đến mức nào. Sau đó, vào thời dân quốc, khi chính triều Thanh đã mất quyền khống chế với các địa phương, TQ đã trở thành "mồi ngon" của các thế lực bên ngoài như thế nào).

Nhìn cả 1 quá trình thì có thể dễ dàng nhận ra: Chẳng gì tự nhiên mà có. Môi trường của Nguyễn Phúc Ánh tạo nên vị vua của 1 chính quyền trọng thương nghiệp, thủy chiến, kết liên và mở rộng bang giao. Môi trường của Tây Sơn sinh ra anh em Nhạc Huệ giỏi việc tập hợp các băng nhóm "tứ cố vô thân", đầu cơ trục lợi và "lấy của người thành của mình" - Liên tưởng hơi xa, có thể nghĩ tới các cuộc chiến tranh của nhà nước Chiêm Thành thời xa xưa, khi không sản xuất được thì họ cướp bóc, lúc thì lập cả đoàn hải tặc trên biển, lúc thì tấn công các nước xung quanh.

Và một khi cái thế lực này nắm quyền cai trị 1 quốc gia, cũng không ngạc nhiên khi thấy các kế hoạch chiến tranh mới được hoạch định bất chấp "xứ Thanh không còn 1 bóng người". Dù đã sát nhập vào mình cái phần "hoạch định chiến lược" của các sĩ phu Nho giáo miền Bắc, biết là muốn lập quốc phải lo kinh tế, giáo dục, nhưng những lời Nguyễn Thiếp nói thì Lê Quý Đôn (cùng người đương thời) đã ca cẩm hàng mấy chục năm trước, còn đường lối thì... chưa thấy đâu. Rồi một khi chính quyền đã chìm trong tranh chấp, thì... thương cảng sát sườn quan trọng nhất vùng là Hội An Đà Nẵng vẫn tiêu điều hoang vu khốn khổ như ngày nó bị đốt, miễn nói tới các vùng khác.

Kể ra mà nói, thì các quan Gia Định mà Nguyễn Phúc Ánh thu gom được có số rất lớn là người Minh Hương, hoặc lớn lên trong môi trường công thương, dòng dõi của các thương nhân phú gia. Ngoài ra, ngay cả người Pháp đến Gia Định cũng là được Bá Đa Lộc cùng các thương nhân dùng tiền chiêu mộ đến. Còn tầng lớp "sĩ phu Đàng Ngoài" mà Nguyễn Huệ quy tập được thì chỉ có đại diện 1 ông sĩ phu lánh đời trong núi, 1 ông quan giỏi chèo khéo chống trong thị phi triều đình, những "thế gia vọng tộc" ăn lương nhà nước ngồi viết văn mà Nguyễn Hữu Chỉnh còn mỉa cho "hạng nhà Nho nói phét". Mà chẳng biết có nói phét hay không thì lớp sĩ phu này cũng bị thổi bay sạch trong xung đột sau khi Nguyễn Huệ chết.

Nói chung, hiện tại là sự thừa hưởng tiếp nối của quá khứ. Tây Sơn của Nguyễn Huệ đã thừa hưởng cái "cơ đồ" của Lê Trịnh, chính những con người, mảnh đất, thế lực, lực lượng, gia tài mà Lê Trịnh bỏ lại. Hỏi thật, một khi chúa Trịnh đã thất bại, vua Lê thua thảm thương với những con người đó, thì sự "đột biến gien" nào có thể biến họ thành bậc thiên tài trị quốc an dân? Kết quả thì họ cũng chỉ có thể quẩn quanh "về với ông Chu Tử", tranh giành đấu đá với nhau cho đến ngày tất cả chết hết. Ngay cả trong triều Nguyễn, các ông "sĩ phu" cũng bị Lê Chất 1 đòn quật bay hết sạch, kết quả chỉ ngẩng mặt nhìn trời ai oán kiểu Thanh Hiên Hồng Lĩnh than thở cho "ta có tài mà trời phụ ta" được mà thôi. Ờ...

Sự kết hợp của tầng lớp tướng lĩnh xuất thân từ rừng núi Quy Nhơn mang đầy tính tộc họ địa phương bè phái và tầng lớp quan lại Bắc Hà "sống như 600 năm trước", cộng thêm lực lượng lâu nhâu của những kẻ gió thổi chiều nào bay theo chiều ấy, thể hiện thành lời chiếu đánh Gia Định "vô cùng đặc sắc" của Nguyễn Huệ. Tất nhiên, chiếu này cũng chẳng phải Nguyễn Huệ tự viết đâu, nhưng nó là "tiếng đồng lòng" của cả 1 triều đình gửi đến cho "chúng dân toàn đất nước".

Từ "đen răng dài tóc" cho tới "bọn xác chết trôi", từ "đánh chúng không còn manh giáp" đến "bọn dân Gia Định nhút nhát lại nổi lên", thật ra là có cùng 1 bản chất.





Copyright © Trường An. All rights reserved.